TÌM HIỂU VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG - Pdf 28

TÌM HIỂU VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là
một vấn đề lớn cả về lý luận lẫn thực tiễn. Đây là một vấn đề được các nhà lãnh đạo và
các nhà nghiên cứu rất quan tâm. Có nhiều quan điểm khác nhau, có những quan điểm
có thể đi đến kết luận thống nhất, song cũng có những quan điểm còn đang trong quá
trình thảo luận chưa đi đến thống nhất.
Kinh nghiệm thành công của quá trình chuyển đổi nền kinh tế trong thời gian qua là
sự thay đổi tư duy và nhận thức về vai trò của Nhà nước trong công cuộc phát triển đất
nước. Chính vì vậy, sự thành công của giai đoạn phát triển tiếp theo sẽ lệ thuộc rất
nhiều vào việc xác định lại một cách hợp lý vai trò, nhiệm vụ của Nhà nước trong quản
lý kinh tế.
Nhằm cung cấp một số thông tin tổng hợp của các chuyên gia kinh tế trong nước
làm tài liệu tham khảo phục vụ các nhà lãnh đạo và những người quan tâm, Trung tâm
Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội Quốc gia biên soạn chuyên đề “TÌM HIỂU VAI
TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG”.
Xin trân trọng giới thiệu cùng độc giả.
Chương I : VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH
TẾ THỊ TRƯỜNG
1. Sự lựa chon mô hình thể chế kinh tế thị trường (KTTT) định hướng XHCH
ở Việt Nam
Như mọi người đã biết, KTTT là một kiểu tổ chức kinh tế phản ánh trình độ văn
minh của nhân loại. Từ trước tới nay, nó tồn tại và phát triển chủ yếu dưới chủ nghĩa tư
bản (CNTB), là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển CNTB; CNTB đã biết lợi
dụng tối đa ưu thế của KTTT để phục vụ mục tiêu phát triển tiềm năng kinh doanh, tìm
kiếm lợi nhuận và - một cách khách quan - nó thúc đẩy lực lượng sản xuất của xã hội
phát triển mạnh mẽ. Ngày nay, KTTT tư bản chủ nghĩa (TBCN) đã đạt tới giai đoạn
phát triển khá cao và phồn thịnh trong các nước tư bản phát triển.
Tuy nhiên, KTTT TBCN không phải là vạn năng. Bên cạnh mặt tích cực, nó còn có
những mặt tiêu cực, có mặt từ trong bản chất của nó do chế độ sở hữu tư nhân TBCN

vội, không tôn trọng quy luật khách quan, nhận thức về CNXH không đúng với thực tế
Việt Nam.
Trên cơ sở nhận thức đúng hơn và đầy đủ hơn về CNXH và con đường đi lên CNXH
ở Việt Nam, Đại hội VI của Đảng (tháng 12 - 1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn
diện đất nước nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng CNXH. Đại hội đã
đưa ra những quan niệm mới về con đường, phương pháp xây dựng CNXH trong thời
kỳ quá độ, về cơ cấu kinh tế, thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản xuất hàng hoá và
thị trường, phê phán mạnh cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp và khẳng định chuyển
hẳn sang hạch toán kinh doanh. Đại hội chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần với những hình thức kinh doanh phù hợp; coi trọng việc kết hợp lợi ích cá nhân,
tập thể và xã hội; chăm lo toàn diện và phát huy nhân tố con người; có những nhận thức
mới về chính sách xã hội.
Hội nghị Trung ương 6 khoá VI (tháng 3 năm 1989) phát triển thêm một bước, đưa ra
quan điểm phát triển nền kinh tế hàng hoá có kế hoạch gồm nhiều thành phần đi lên
CNXH, coi chính sách kinh tế nhiều thành phần là vấn đề có ý nghĩa chiến lược lâu dài,
có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên CNXH.
Đến Đại hội VII (tháng 6 năm 1991), Đảng tiếp tục nói rõ hơn chủ trương này và
2
khẳng định đây là chủ trương chiến lược, là con đường đi lên CNXH của Việt Nam.
Cương lĩnh năm 1991 của Đảng khẳng định: phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước. Đại hội VIII của Đảng (tháng 6 năm 1996) đưa ra một số kết luận mới rất quan
trọng: “Sản xuất hàng hoá không đối lập với CNXH mà là thành tựu phát triển của nền
văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng CNXH và cả
khi CNXH đã được xây dựng”. Từ lúc đó đã nói đến nền kinh tế hàng hoá, cơ chế thị
trường, nhưng chưa dùng khái niệm “KTTT”. Đại hội IX của Đảng (tháng 4 năm 2001)
chính thức dùng khái niệm “KTTT định hướng XHCN” là đường lối chiến lược nhất
quán, là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam.
Lựa chọn mô hình KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam không phải là sự gán ghép
chủ quan giữa KTTT và CNXH, mà là sự nắm bắt và vận dụng xu thế khách quan của

buôn gian bán lận, tham nhũng,…
- Sự cạnh tranh không lành mạnh dẫn đến mất cân đối vĩ mô, lạm phát, thất nghiệp,
sự phát triển có tính chu kỳ của nền kinh tế; sự cạnh tranh dẫn đến độc quyền, hạn chế
nhiều những ưu điểm của nền kinh tế thị trường.
- Tạo ra sự bất bình đẳng, phân hoá giàu - nghèo.
- Lợi ích chung, dài hạn của xã hội không được quan tâm đúng mức; tài nguyên thiên
nhiên và môi trường bị tàn phá nghiêm trọng và trên phạm vi rộng nếu Nhà nước không
có biện pháp quản lý chặt chẽ.
- Sản sinh và dẫn đến các cuộc chiến tranh kinh tế.
Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã xác định: đến năm 2010, về cơ bản phải hình
thành đồng bộ thể chế KTTT định hướng XHCN, và coi đây là một giải pháp có tính đột
phá của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001 - 2010, nhằm đẩy mạnh
CNH, HĐH, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại.
Phương pháp tiếp cận bản chất, nguyên tắc và nội dung thể chế KTTT định hướng
XHCN đòi hỏi phải đặt nó trong mối liên hệ biện chứng giữa cái chung (KTTT) và cái
đặc thù (định hướng XHCN). Ở đây nổi lên 3 vấn đề:
Thứ nhất, đối với cái chung (KTTT), trong quá trình hình thành thể chế KTTT định
hướng XHCN phải tạo lập và vận dụng nghiêm túc, đồng bộ các “yếu tố”:
- Các chủ thể kinh tế dựa trên sự đa dạng các hình thức sở hữu và các thành phần
kinh tế. Các chủ thể KTTT phải được tự chủ sản xuất kinh doanh, cạnh tranh trong
khuôn khổ pháp luật.
- Các phạm trù vốn có của KTTT như: hàng hoá, tiền tệ, thị trường, cạnh tranh, cung
- cầu, giá cả thị trường và lợi nhuận.
- Các quy luật của KTTT.
- Cơ chế vận hành nền KTTT - cơ chế thị trường.
Thứ hai, đối với “cái đặc thù” (định hướng XHCN), trong quá trình hình thành thể
chế KTTT định hướng XHCN phải quán triệt:
- Chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng kinh tế này giữ vai trò
quan trọng trong mô hình thể chế KTTT định hướng XHCN và nó định hướng suy nghĩ

những người nghèo có hoàn cảnh khó khăn và những người được hưởng chính sách xã
hội.
- Xây dựng hệ thống pháp luật thích ứng và thúc đẩy sự vận hành có hiệu quả của thể
chế KTTT, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Những nội dung cốt lõi của khung thể chế KTTT định hướng XHCN ở nước ta cần
được triển khai đồng thời và đồng bộ.
3. Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường
Ở nước ta, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh
đạo Nhà nước và xã hội. Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng là sự phản ảnh
quyền lực và yêu cầu của quyền lực nhân dân, phản ánh nhu cầu lợi ích chính đáng của
nhân dân.
Nhà nước trong hệ thống chính trị là tổ chức quyền lực thể hiện và thực hiện ý chí,
quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân quản lý
toàn bộ hoạt động đời sống xã hội.
Nhà nước ta có chức năng đối nội và đối ngoại. Chức năng đối nội của Nhà nước ta
nhằm giải quyết các vấn đề về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng
của đất nước. Các chức năng đối ngoại của Nhà nước ta nhằm giải quyết các quan hệ
của Nhà nước ta với các dân tộc và quốc gia khác trên trường quốc tế trên cơ sở kiên
định đường lối độc lập tự chủ, chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng
hóa. Việc thực hiện hai chức năng đối nội và đối ngoại được thực hiện trong mối quan
5
hệ tương tác, hỗ trợ lẫn nhau trong một thể thống nhất.
Trên giác độ hình thức pháp lý, quản lý nhà nước thể hiện trong ba nội dung: lập
pháp, hành pháp, tư pháp trong phạm vi quốc gia và cả những vấn đề liên quan đến thế
giới.
3.1 Những thành tựu quản lý nhà nước trong gần 20 năm đổi mới của Nhà nước
ta
Qua gần 20 năm đổi mới, quản lý nhà nước của Nhà nước đã có những tiến bộ nhất
định, đó là:
+ Chuyển từ quản lý kinh tế - xã hội chủ yếu bằng nghị quyết và mệnh lệnh hành

+ Cải cách hành chính, tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước từ
6
Trung ương đến địa phương đã có những bước được điều chỉnh theo yêu cầu của quá
trình chuyển đổi từ kế hoạch hoá tập trung sang nền KTTT định hướng XHCN. Chính
phủ tập trung thực hiện chức năng QLNN ở tầm vĩ mô, từng bước xoá bỏ cơ chế tập
trung, quan liêu, bao cấp.
3.2. Những điều đã đạt được về mặt QLNN của Nhà nước ta trong thời gian qua có
thể nhìn nhận thông qua việc Nhà nước ta thực hiện chức năng quản lý của Nhà nước
về: lập pháp, hành pháp và tư pháp.
a. Trong ba mặt đó, thì chức năng lập pháp của QLNN được thể hiện thông qua
việc xây dựng và ban hành hệ thống pháp luật là rất quan trọng. Hệ thống pháp luật
từ Hiến pháp đến các luật và văn bản dưới luật của Nhà nước là sự cụ thể hoá quyền lực
nhà nước và lợi ích của nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình đối với
toàn bộ xã hội thông qua các tổ chức Đảng, các cơ quan nhà nước và các tổ chức chính
trị - xã hội, tổ chức xã hội. Còn QLNN nói chung, là sự điều hành, điều chỉnh các hành
vi, hành động của các tổ chức và của mọi công dân theo luật định bằng quyền lực của
Nhà nước.
Hiến pháp 1992 được Quốc hội thông qua ngày 14 tháng 4 năm 1992 và được Chủ
tịch Hội đồng Nhà nước công bố ngày 17 tháng 4 năm 1992. Hiến pháp 1992 là một
bước phát triển quan trọng trong lịch sử lập hiến nước ta.
Hiến pháp 1992 đã thể chế hoá những quan điểm cơ bản của Đảng: đổi mới mạnh mẽ
về kinh tế, đồng thời đổi mới vững chắc về chính trị, khẳng định mục tiêu XHCN.
Về chế độ chính trị: Tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam, mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Quy
định những nội dung cơ bản như: Quyền dân tộc cơ bản, chủ quyền quốc gia, quyền
tự quyết của dân tộc; về tính nhân dân của Nhà nước, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN, của nhân dân, do nhân dân và vì
nhân dân, với quyền lực của Nhà nước thuộc về nhân dân, mà nền tảng là liên minh
giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, nhân dân sử dụng
quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp,…; về tính

nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền lại càng quan trọng hơn, vì cho đến nay nhân dân
ta chưa có thói quen sống, làm việc theo pháp luật, hiểu biết về pháp luật trong nhân
dân ta và cả trong không ít các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, các doanh
nghiệp cũng còn hạn chế. Ở đây, cần nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tổ chức thực
hiện các văn bản luật vì nếu không giải thích đầy đủ các bộ luật cũng như biện pháp tổ
chức thực hiện không phù hợp, sẽ dễ dẫn đến việc thực hiện các văn bản luật không
đúng với yêu cầu, mục đích.
b. Trên lĩnh vực hành pháp, bộ máy nhà nước bằng các hoạt động cụ thể, đưa pháp
luật vào đời sống xã hội, bảo đảm để pháp luật trở thành khuôn mẫu hoạt động của Nhà
nước, của cả xã hội, bảo đảm thực hiện thống nhất pháp luật ở mọi ngành, mọi cấp trên
phạm vi toàn lãnh thổ quốc gia.
Vai trò quản lý của Nhà nước thể hiện qua cơ cấu tổ chức của Nhà nước và sự phân
công trách nhiệm thực hiện cũng như sự phân công phối hợp thực hiện các nhiệm
vụ QLNN trong tất cả mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội trong phạm vi
quốc gia và quốc tế.
Để đạt các mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài, Nhà nước ta thực hiện chức năng
8
QLNN thông qua bộ máy hành pháp với những công cụ như: xây dựng các chương trình
mục tiêu, quy hoạch, kế hoạch về từng lĩnh vực theo từng thời kỳ khác nhau.
c. Phương pháp thực hiện chức năng QLNN của Nhà nước ta bao gồm: phương
pháp giáo dục, thuyết phục, động viên (bao gồm các pháp luật, các chương trình và kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội, …) và cả bộ máy tư pháp (gồm cả phương pháp dùng
quyền lực thông qua một bộ phận của tổ chức nhà nước như công an, quân đội để bảo
đảm an ninh trật tự, cũng như sự toàn vẹn của lãnh thổ,…). Chính lĩnh vực tư pháp,
thông qua hoạt động của các cơ quan chức năng: Toà án, Viện kiểm sát, Thanh tra,…
thể hiện sự QLNN nhằm bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm, duy trì được
trật tự, kỷ cương phép nước, sự ổn định của xã hội; đồng thời góp phần thực hiện các
chương trình, quy hoạch, kế hoạch trên mọi lĩnh vực.
Vai trò QLNN của Nhà nước ta được cụ thể hơn và dễ nhận thấy trong việc QLNN ở
từng nhiều lĩnh vực khác nhau: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng,

tố mới và cũ nên sự vận hành của nền KTTT ở nước ta chưa đồng bộ.
Về thực thể nền KTTT: Về quan hệ sản xuất, có sự đa dạng về hình thức sở hữu tư
liệu sản xuất, có sự đa dạng về loại hình doanh nghiệp và đã được khẳng định trong
Hiến pháp 1992, có tác dụng tích cực giải phóng sức sản xuất, vừa hạn chế các tác dụng
tiêu cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội; về lực lượng sản xuất, nền KTTT của nước ta
phải được xây dựng theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Về bảo đảm quản lý theo nguyên tắc: Nhà nước của dân, do dân và vì dân, Nhà
nước tập trung dân chủ, Nhà nước pháp quyền, Nhà nước thống nhất quyền lực, có phân
công,… do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
1. Sự cần thiết khách quan của QLNN về kinh tế
Từ học thuyết “hai bàn tay” của Samuelson đã khẳng định vai trò của Nhà nước trong
nền KTTT. Nhà nước đóng vai trò quan trọng để hạn chế những khuyết tật của nền
KTTT.
Việt Nam cũng không đứng ngoài, không thể không vận dụng học thuyết trên của
Samuelson. Nhà nước Việt Nam là tổ chức quyền lực chính trị của nhân dân Việt Nam,
đại diện cho nhân dân Việt Nam thực hiện quản lý thống nhất mọi mặt hoạt động của
đời sống xã hội trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng, đối ngoại.
QLNN về kinh tế là nội dung quan trọng và rộng lớn nhất.
QLNN về kinh tế nhằm: phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế, động viên
sức mạnh của toàn dân tộc, điều chỉnh các quan hệ xã hội để các quan hệ lao động sáng
tạo được tiến hành một cách tối ưu, các quan hệ lợi ích được thực hiện một cách công
bằng, văn minh, phát huy các lợi ích trước mắt và lâu dài; hỗ trợ tập trung cho các công
dân có điều kiện đóng góp vào mục tiêu “dân giàu, nước mạnh” bằng tạo các tiền đề về
ý chí, khát vọng và niềm tin vào con đường làm giàu, về các tri thức và thông tin có liên
quan đến sự nghiệp kinh tế, các hành lang pháp lý, các phương tiện sản xuất kinh doanh
mà công dân không thể tự lực được, như: vốn, hạ tầng cơ sở, các điều kiện để mở rộng
thị trường trong và ngoài nước; bảo vệ và tăng cường mở rộng môi trường kinh doanh,
môi trường thiên nhiên.
2. Đối tượng, phạm vi QLNN về kinh tế
Nhà nước quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân, có nghĩa là:

Trước hết, nhiều luật trong hệ thống pháp luật của nước ta (và cả nhiều nước) không
chỉ đơn thuần về kinh tế, nhưng có tác dụng rất lớn đến việc ổn định và tăng trưởng
kinh tế, chẳng hạn: Hiến pháp 1992 (bổ sung năm 2001) có những điều của Hiến pháp
về sự công nhận tồn tại và cùng phát triển một cách bình đẳng, lâu dài của các thành
phần kinh tế, hay Bộ Luật Dân sự có những điều liên quan đến quyền thừa kế tài sản,
Bộ Luật Lao động,… đều liên quan không nhỏ tới các hoạt động kinh tế.
Với các luật “đơn thuần” về kinh tế, cần được xây dựng và hoàn thiện thành một hệ
thống luật kinh tế thống nhất, tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động của nền KTTT định
hướng XHCN, tạo hành lang an toàn, tạo điều kiện thuận lợi, và sự khuyến khích đúng
mức của Nhà nước đối với các thành phần kinh tế khác nhau thuộc các loại thị trường ở
nước ta nhưng mức độ còn rất khác nhau:
Thị trường hàng hoá , thị trường vốn và tiền tệ đã hình thành;
Thị trường bất động sản đang hình thành;
Thị trường lao động đang hình thành;
Thị trường sản phẩm khoa học và công nghệ đang hình thành và còn rất nhỏ bé.
Do sự phát triển của các loại thị trường trên còn rất khác nhau, cho nên các luật liên
quan trực tiếp đến các thị trường trên cũng có sự khác nhau và chính vì vậy cần phải
xây dựng (hoặc bổ sung) các luật liên quan đến các thị trường trên một cách có trọng
tâm, trọng điểm.
Xây dựng (bổ sung) các luật có liên quan đến tất cả các thị trường trên, cụ thể là:
11
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến quyền sở hữu: Trong các luật đã ban
hành, như: Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Hợp tác xã, Luật
Đầu tư trực tiếp nước ngoài, Luật Đất đai,… phải tiếp tục hoàn thiện bằng cách thay
bằng bộ luật mới, như đang cố gắng để kỳ họp cuối năm 2005 có thể trình Quốc hội xin
ý kiến, như Luật Doanh nghiệp (áp dụng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần
kinh tế), Luật Đầu tư (áp dụng cho đầu tư trong nước và đầu tư ngoài nước), Luật Đấu
thầu, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Đăng ký bất động sản,
Luật Nhà ở,…; với các tài sản thuộc về sở hữu toàn dân cũng cần nghiên cứ bổ sung và
xây dựng mới liên quan đến các doanh nghiệp nhà nước, đến đất đai, đến tài nguyên

việc tổ chức giáo dục, tuyên truyền cho các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của luật
chưa tốt đã làm giảm tính hiệu lực của luật, không thực hiện được yêu cầu sớm đưa luật
vào cuộc sống. Chưa kể không thiếu các thí dụ về sự chồng chéo, thậm chí mâu thuẫn
nhau giữa các văn bản pháp luật (đặc biệt các văn bản dưới luật).
12
Hội nghị Trung ương 6, khoá IX đã nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới hoạt động lập pháp
trong tất cả các khâu và công đoạn của quy trình lập pháp để nâng cao chất lượng của
các luật, pháp lệnh, nhằm sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ công cuộc đổi
mới”.
3.2. QLNN về kinh tế thông qua tổ chức bộ máy QLNN
Bộ máy nhà nước ta đã nhiều lần có sự sắp xếp lại về tổ chức, về chức năng, nhiệm
vụ, về mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước để khỏi chồng chéo, để việc quản lý có
hiệu quả hơn. Đây là điều Nhà nước ta đã tích cực nghiên cứu và đã có những phương
án được thực thi có những tác dụng tích cực, như:
Việc thực hiện các quy định trong Hiến pháp 1992 (bổ sung 2001) về tổ chức, chức
năng, nhiệm vụ giữa cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Việc tổ chức lại bộ máy Chính phủ đã có những thay đổi đáng kể theo hướng Bộ, cơ
quan ngang Bộ làm chức năng QLNN. Cơ cấu tổ chức của Chính phủ theo nguyên tắc
Bộ đa ngành, đa lĩnh vực thực hiện chức năng quản lý vĩ mô bằng pháp luật, chính sách
và hướng dẫn kiểm tra thực hiện; theo hướng gọn nhẹ, chức năng rõ ràng, khoa học,
hoạt động có hiệu lực hiệu quả; giảm các cơ quan trực thuộc Chính phủ và tổ chức trực
thuộc Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, việc cơ cấu lại bộ máy hành chính nhà nước
theo hướng gọn, hiệu lực, hiệu quả còn chậm, dường như thiếu quyết tâm; chủ trương
phân cấp quản lý hành chính giữa trung ương và địa phương chưa đồng bộ.
Năm 2003 và những tháng đầu năm 2004 là năm Chính phủ thực hiện Luật Tổ chức
Chính phủ nước CHXHCNVN (Luật số 32/2001/QH10 ngày 25/12/2001) về Tổ chức
Chính phủ; Nghị định số 86/2002/NĐ-CP ngày 05/11/2002 của Chính phủ (quy định
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các bộ, cơ quan ngang bộ); Nghị
định số 30/2003/NĐ-CP ngày 01/4/2003 của Chính phủ (quy định chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan trực thuộc Chính phủ). Chính phủ đã ban hành

3.3. QLNN về kinh tế thông qua việc xây dựng phương hướng, mục tiêu, chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Việc QLNN về kinh tế ở nước ta thông qua việc xây dựng các kế hoạch kinh tế - xã
hội 5 năm và hàng năm, các quy hoạch, chương trình, v.v… Trên một phương diện nào
đó, chúng ta đã có ít nhiều kinh nghiệm từ thời kế hoạch hoá tập trung, tuy nhiên khi
chuyển sang KTTT có sự điều tiết của Nhà nước, thì có các mục đích, yêu cầu, nội dung
và cả phương pháp cũng như trình tự xây dựng đã từng bước đổi mới.
Một thành công đáng kể là việc xây dựng “Chương trình ưu tiên phát triển kinh tế -
xã hội Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn và định hướng đến năm 2020” và “Chiến lược
phát triển một số ngành, lĩnh vực trọng điểm của quốc gia đến năm 2010, định hướng
đến năm 2020”. Đây là một chương trình tổng thể, toàn diện về phát triển kinh tế - xã
hội nước ta trong một thời gian dài, trong cơ chế thị trường theo định hướng XHCN và
hội nhập quốc tế cũng như chiến lược phát triển một số ngành, lĩnh vực của nước ta.
Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam đến năm 2010, ghi rõ mục
tiêu: “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao đời sống vật chất, văn
hoá, tinh thần của nhân dân; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một
nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con người, năng lực khoa học và
công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể
chế kinh tế thị trường định hướng XHCN được hình thành về cơ bản; vị thế nước ta trên
trường quốc tế được nâng cao”.
Từ Chiến lược này, Nhà nước ta đã xây dựng phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001 - 2005. Trong kế hoạch này có các chỉ tiêu định hướng
phát triển kinh tế - xã hội chủ yếu, các dự báo về các cân đối lớn trong thời kỳ 5 năm
2001 - 2005 (về lao động, việc làm, về khả năng tích luỹ và tiêu dùng trong nền kinh tế,
khả năng về vốn trong nước và ngoài nước, khả năng cân đối ngân sách, khả năng thanh
toán quốc tế, dự báo cung - cầu một số vật tư chủ yếu); định hướng phát triển các ngành,
lĩnh vực; các chương trình đầu tư công cộng 2001 - 2005; Chiến lược toàn diện về tăng
trưởng và xoá đói giảm nghèo;…
Chính phủ phê duyệt các Chương trình mục tiêu quốc gia 2001 - 2005, gồm 6
Chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo và việc làm, về nước sạch và vệ

phần hoá được 123 DN, năm 2003: 532 DN, năm 2004: 753 DN), nhưng so với yêu cầu
đổi mới còn hạn chế, tốc độ cổ phần hoá còn chậm.
Mặt khác, ngoài việc ban hành các văn bản pháp luật về kinh tế nhằm bảo đảm sự
bình đẳng và quyền tự chủ của các DN thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, Nhà
nước còn hỗ trợ các DN thuộc các thành phần kinh tế khác về tư pháp, về thông tin
(nhất là thông tin về thị trường ), các cơ quan ngoại giao và thương mại của Nhà nước ta
ở nước ngoài có trách nhiệm hỗ trợ các DN trong nước về thị trường ở nước ngoài, về
khả năng hợp tác đầu tư với nước ngoài ở trong nước và đầu tư ra nước ngoài.
3.5. Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng cho mọi hoạt động kinh tế của đất nước
nói riêng, của nhu cầu toàn xã hội nói chung
Trong mỗi quốc gia luôn có các ngành sản xuất các loại hàng hoá và dịch vụ mà các
thành phần kinh tế khác không “mặn mà” đầu tư như các công trình hạ tầng cơ sở như:
15
đường sá, cầu cống, hệ thống cấp thoát nước, vận tải công cộng trong thành phố, giáo
dục, văn hoá, y tế; đầu tư ở các vùng sâu, vùng xa (thường vốn đầu tư lớn, thời gian đầu
tư dài, tỷ suất lợi nhuận thấp hoặc không có lợi nhuận và ở một số ngành đặc biệt và ở
một số địa điểm đặc biệt về an ninh, quốc phòng). Nhưng các ngành này lại không thể
thiếu cho một quốc gia. Đây chính là trách nhiệm của Nhà nước. Nhà nước phải đầu tư
xây dựng các loại DN hoạt động trong các ngành này (trong đó sẽ có nhiều DN được
xếp vào nhóm các DN công ích), tổ chức xây dựng và khai thác sử dụng các hệ thống
kết cấu hạ tầng này.
3.6. Kiểm tra, kiểm soát hoạt động các đơn vị kinh tế
Kiểm tra các DN về việc tuân thủ các pháp luật kinh doanh, pháp luật lao động, pháp
luật về bảo vệ tài nguyên và môi trường; kiểm tra chất lượng sản phẩm, chống hàng giả,
hàng nhái, hàng kém chất lượng, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm. Nhà nước có các
chính sách và biện pháp toàn diện nhằm thực hiện ngăn ngừa các dịch bệnh cho cây, con
và bảo vệ sức khoẻ của nhân dân khỏi các bệnh dịch ở trong nước và từ nước ngoài lan
vào nước ta, như cúm gia cầm, dịch bệnh gia súc,…
3.7. Kiểm tra các DN tuân thủ pháp luật về tài chính, kế toán, thống kê
Nhà nước đứng ra thông qua các tổ chức Viện Kiểm sát, Toà án để làm “trọng tài”

quyết định hết thảy, quyết định giá cả, quyết định sản xuất. Theo giáo sư Stiglitz, thị
trường là rất quan trọng nhưng không nên quá chú trọng bởi vì nó không phải là tất cả,
vai trò của Nhà nước trong việc điều tiết thị trường là rất quan trọng. Chủ trương chính
sách của Nhà nước là cần phải có, là quyết định, thị trường là điều kiện đủ để phát huy.
Những thành tựu và tồn tại của kinh tế - xã hội của nước ta trong thời gian qua chủ yếu
phụ thuộc vào những chính sách Nhà nước, phụ thuộc vào cơ chế quản lý của Nhà nước.
Song có nhiều vấn đề tồn tại không thể đổ cho cấp dưới thực thi chính sách. Thực ra
có những chính sách nhà nước đưa ra không sát thực tế, không ít văn bản mâu thuẫn,
chồng chéo, nhiều văn bản vừa ban hành đã phải sửa đổi, bổ sung, gây khó khăn cho
việc vận dụng, thực thi. Chính thủ tục phức tạp chậm sửa đổi đã tạo điều kiện cho cán
bộ hành dân, vòi vĩnh, tiêu cực. Nhiều khâu trong nhiệm vụ QLNN của chúng ta còn
chưa hoàn thiện cần rà soát lại và sửa đổi.
Các chủ trương đưa ra thì nhiều, nhưng thực tế cách làm, cơ chế chính sách lại không
phù hợp, nhiều khi còn hạn chế.
Sau đây, sẽ đi sâu vào phân tích những chính sách chủ yếu tác động đến tăng trưởng
cao và bền vững nền kinh tế nước ta trong gần 20 năm đổi mới.
1. Chủ trương tăng trưởng cao
Việt Nam có nỗ lực lớn trong tăng trưởng tốc độ cao, trong năm 2004, tốc độ tăng
trưởng của Việt Nam là 7,6% (Thái Lan 8%, Singapore 8,1%, Trung Quốc 9,3%). Một
thực tế ở nước ta trong những năm qua, tăng trưởng kinh tế thuộc loại cao, nhưng chưa
bền vững: hiệu quả kinh tế thấp, cạnh tranh yếu, lạm phát tăng, tốc độ giảm nghèo
chững lại, chênh lệch thu nhập tăng, tài nguyên cạn kiệt, môi trường bị ô nhiễm.
Nhìn lại gần 20 năm qua, cơ cấu kinh tế nước ta đã chuyển dịch theo hướng giảm tỷ
trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp. Song phân tích cơ cấu kinh tế cho thấy:
Tỷ trọng dịch vụ trong GDP đã giảm trong 8 năm liên tục, ngược với quy luật chung,
các ngành dịch vụ có tính chất động lực cần phát triển như giáo dục, khoa học công
nghệ, tài chính, tín dụng tỷ trọng rất thấp. Kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn, kinh
doanh đất đai, nhà ở chiếm tỷ trọng cao thứ 2 trong các ngành dịch vụ. Có thể nói tình
trạng tăng nhanh dịch vụ đất đai, nhà ở trong cơ cấu kinh tế không có lợi cho phát triển
kinh tế - xã hội đất nước. Bài học Thái Lan, Hàn Quốc đã chứng minh sự phát triển dịch

có nguồn vốn chưa lớn và khoa học công nghệ, trình độ quản lý chưa phát triển cao, chỉ
hơn ta một ít.
Từ năm 2004 đến nay cho thấy Việt Nam đang thay đổi về lượng và chất trong thu
hút FDI. Chỉ trong 2 - 3 tháng đầu năm 2005, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp phép cho
Công ty Honda Việt Nam được sản xuất và kinh doanh ô tô tại Việt Nam đầu tư 60 triệu
USD, Hà Nội đã cấp phép 2 dự án đầu tư với nguồn vốn rất lớn là dự án kinh doanh
điện thoại di động CDMA trị giá 660 triệu USD và dự án xây dựng cao ốc 65 tầng với
vốn đăng ký 114 triệu USD. Điểm đặc biệt trong việc thu hút nguồn vốn FDI trong 2
tháng đầu năm này chính là dịch vụ chiếm 70% trong nguồn vốn đăng ký mới. Nhìn vào
lĩnh vực dự án đầu tư nước ngoài phần lớn những lĩnh vực nhà đầu tư thu lợi nhuận lớn.
Phân tích 3 dự án cho thấy dự án sản xuất ô tô chỉ hàn, sơn, lắp ráp chứ không phải sản
xuất ô tô, sản xuất động cơ, dự án điện thoại di động là dự án kinh doanh mạng điện
thoại chứ không phải dự án sản xuất điện thoại di động, v.v...
Để lôi kéo nhà đầu tư, các địa phương đã đưa ra những ưu đãi vượt giới hạn quy
định: ưu đãi về thuế, ưu đãi về tín dụng, ưu đãi về đất và tăng cường các ưu đãi khác
trái với quy định chung.
Tuy nhiên, theo các nhà đầu tư nước ngoài, nhìn tổng thể môi trường đầu tư của Việt
Nam chưa thực sự hấp dẫn.
Thực vậy, thứ nhất Việt Nam chưa chú ý tới chính sách phát triển các ngành hỗ trợ
18
và liên quan. Không có nguồn cung ứng tại chỗ, buộc các nhà đầu tư phải nhập linh
kiện, phụ tùng khiến giá thành cao, sức cạnh tranh giảm.
Thứ hai, kết cấu hạ tầng vẫn còn yếu, do đó chi phí cao.
Thứ ba, chính sách phát triển nguồn nhân lực chưa được coi trọng, đưa đến chất
lượng lao động còn thấp.
Thứ tư, thủ tục về thuế, hải quan có chú ý cải tiến song chưa được nhiều. Theo các
công ty tài chính và các bộ phận thuộc tập đoàn Ngân hàng Thế giới công bố, cơ chế ưu
đãi đầu tư ở Việt Nam còn phức tạp.
Đã đến lúc chúng ta phải tập trung nâng cao chất lượng kết cấu hạ tầng, phát triển
nguồn nhân lực, đồng thời tăng thu hút FDI về mặt chất lượng, ưu đãi đối với lĩnh vực

- Cổ phần hóa khó khăn vì việc xác định giá trị quyền sử dung đất.
- Sự thu hút đầu tư FDI đang gặp nhiều khó khăn trở ngại, chủ yếu vẫn nằm trong
19
khâu đất đai, đền bù do giá cao.
- Lợi nhuận thu được do kinh doanh đất đai nhà ở khá lớn vào loại bậc nhất so với
các loại hoạt động sản xuất kinh doanh khác. Có khá nhiều doanh nghiệp nước ngoài
như Singapore, Hàn Quốc… phối hợp với các doanh nghiệp trong nước để đầu tư xây
dựng các chung cư cao tầng, cao cấp, nhiều doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ở Việt
Nam thu được lợi nhuận thì đầu tư vào địa ốc, như RRE đầu tư tòa nhà E-town, Công ty
điện tử Biên Hòa đầu tư vào cao ốc Belco, Vitek VTB cũng đang xây dựng cao ốc 10
tầng.
- Giá đất đai, nhà cửa cao, khiến đa số người dân có nhu cầu không thể mua được.
Người có thu nhập trên 3 triệu đồng mỗi tháng không bao giờ mơ đến một căn hộ dành
cho người có thu nhập thấp với giá 500 triệu đồng.
Kinh nghiệm Hàn Quốc, Thái Lan, Trung Quốc cho thấy sự phát triển sôi động thị
trường bất động sản đã tác động xấu đến nền kinh tế - xã hội.
Vì vậy chính sách đất đai của ta cần hướng tới phục vụ phát triển kinh tế và xã hội.
Ban hành thuế đánh mạnh vào đầu cơ đất đai, gia tăng gánh nặng thuế lên vai người sở
hữu đất đai quy mô lớn.
5. Chính sách thương mại
Với nền kinh tế hướng về xuất khẩu cần phải có thị trường và chủ động tìm kiếm thị
trường.
Xuất khẩu: Năm 2004 xuất khẩu đạt 26 tỷ USD, có 17 mặt hàng vượt kim ngạch 100
triệu USD, nổi bật có 6 mặt hàng vượt mức 1 tỷ USD, đó là dầu thô, dệt may, da giày,
thủy sản, đồ gỗ, điện và linh kiện điện tử. Trong cơ cấu hàng xuất khẩu của ta, phần lớn
là nguyên liệu, sản phẩm công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động, hàng sơ chế hàm
lượng chất xám thấp và những mặt hàng công nghiệp tỷ lệ nội địa hóa thấp, giá trị gia
tăng không nhiều.
Nhập khẩu: Công nghiệp của ta chủ yếu là gia công, phần lớn sản phẩm các ngành
được sản xuất ra trên cơ sở tiêu thụ các nguyên phụ liệu, linh kiện, chi tiết, bán sản

- Theo nhận xét của các nhà khoa học nước ngoài, thông tin khoa học công nghệ của
Việt Nam còn xa mới bằng những điều kiện và thông tin KHCN các nước trong vùng
như Thái Lan, Singapore, Malaysia, Hàn Quốc.
- Tỷ lệ cán bộ khoa học trong nghiên cứu KHCN trên 100 dân của nước ta còn thấp
nếu so sánh với một số nước: Tỷ lệ người nghiên cứu khoa học ở Việt Nam là 0,18/100
dân, trong khi ở Hàn Quốc gấp 12 lần Việt Nam, Mỹ gấp 20 lần Việt Nam.
Tuy đã tập trung rất lớn, song Nhà nước cần tăng ngân sách đầu tư hơn nữa vào
những lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, những hướng ưu tiên.
8. Chính sách giáo dục
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết Việt Nam có 94% dân số biết chữ, Việt Nam
đã xóa xong nạn mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và đang thực thi phổ cập trung học
cơ sở, thành tích thật là ấn tượng.
Tuy vậy, điều tra mức sống dân cư năm 2002 cho thấy chi phí trực tiếp cho giáo dục
khá cao so với thu nhập các hộ nghèo là một trong những nguyên nhân chính khiến trẻ
em nghèo ít đi học. Hiện nay phần tài chính do dân đóng góp cho lĩnh vực đào tạo nước
ta ở cấp tiểu học đã lên tới 44,5%, trung học phổ thông là 51,5%, dạy nghề 62,1%. Hiện
nay, nhiều nước đã thực hiện luật giáo dục miễn phí và bắt buộc đối với trẻ em từ 6 tuổi
trở lên như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Mỹ… Chính phủ Thái Lan đã thông qua
một chương trình tài trợ giáo dục bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 12, không có thị trường giáo
dục. Ở Đức và một số nước Bắc Âu, giáo dục kể cả giáo dục đại học đều không mất
tiền. Không có thương mại hóa giáo dục. Theo giáo sư Dolan, đại học Cambridge Mỹ,
đổi mới giáo dục Nhà nước phải nắm thay vì để thị trường quyết định.
Trong khi chi ngân sách Nhà nước cho giáo dục - đào tạo của Việt Nam năm 2003 là
16% tổng chi ngân sách, thì chi ngân sách cho giáo dục - đào tạo đầu những năm 1990
21
tỷ trọng này của Thái Lan đã là 20%, Hàn Quốc 22%. Đầu tư cho ngành giáo dục của
Việt Nam không phải nhỏ với các dự án giáo dục, nhưng tác dụng của các dự án đối với
phát triển giáo dục đào tạo ở Việt Nam còn quá ít. So sánh mức chi phí giáo dục bình
quân đầu người, Việt Nam ở gần cuối bảng, thấp hơn 24 lần so với Singapore và 3 lần
so với Thái Lan.

2001 - 2002 lớn gấp 8,1 lần so với nhóm nghèo. Chỉ số GINI phản ánh sự chênh lệch
giàu nghèo và tiêu dùng xã hội của Việt Nam là 36,2%, cao hơn hẳn những nước giàu
nhất hiện nay như Na Uy 25,8%, Thụy Điển 25%, Nhật Bản 24,9%.
Cần luật hóa các quy định về an sinh xã hội, bảo đảm cho mọi người dân được tiếp
cận các dịch vụ cơ bản nhất như được chữa bệnh miễn phí, được trợ cấp học nghề, tìm
22
việc làm.
Chúng ta cũng đã đạt được một số thành tựu song cũng còn nhiều tồn tại, chủ trương
đúng chưa đủ mà phải có chính sách tốt để đưa các chủ trương của Đảng, Nhà nước vào
cuộc sống.
IV. ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ
Trong quá trình chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu sang KTTT
định hướng XHCN, vai trò của Nhà nước không những không suy giảm mà còn được
đổi mới một cách căn bản và tăng cường hơn. Nhà nước không chỉ là “bà đỡ” mà còn
phải chính là “cha mẹ đẻ” của KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam. Nhà nước ta phải
được đổi mới, tăng cường để không chỉ thực hiện chức năng QLNN đơn thuần như mọi
Nhà nước khác, mà còn phải vươn lên trở thành Nhà nước thiết kế, xây dựng thể chế
KTTT định hướng XHCN, Nhà nước phục vụ, hỗ trợ cho việc phát triển kinh tế, phát
triển thị trường, phát triển doanh nghiệp.
Những năm qua, Chính phủ và chính quyền các cấp đã không chỉ có nhiều nỗ lực
trong đổi mới QLNN về kinh tế mà còn rất chủ động, tích cực trong việc hỗ trợ, tạo
thuận lợi cho doanh nghiệp, doanh nhân tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, mặt trái của vấn đề là ở chỗ, tình trạng chính quyền trực tiếp đứng ra làm
kinh tế, chỉ đạo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước (DNNN), can thiệp
vào quyền tự chủ kinh doanh của các DNNN, kể cả DNNN đã chuyển đổi; trực tiếp
quyết định các dự án đầu tư để rồi sau đó giao cho DNNN thực hiện gây ra tình trạng
đầu tư dàn trải, kém hiệu quả, nợ xây dựng cơ bản… không những không giảm đi mà
còn có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây.
Do vậy, tiếp tục đổi mới QLNN về kinh tế, trước hết là phải xác định rõ phạm vi, nội
dung QLNN về kinh tế; tách bạch chính quyền ra khỏi các hoạt động sản xuất kinh

các tầng lớp và các vùng. Chính sách tiền tệ phải phát huy tác dụng quan trọng trong
việc bảo đảm ổn định giá trị đồng tiền và kinh tế vĩ mô phục vụ cho phát triển.
Cải cách thủ tục hành chính thời gian qua tuy đã đạt được kết quả bước đầu, nguyên
tắc một cửa, một dấu đã được áp dụng ở một số địa phương… nhưng xung quanh vấn
đề này vẫn còn nhiều việc phải làm. Phải kiên quyết xoá bỏ bao cấp, giảm thiểu tối đa
cơ chế xin - cho, xin cấp phép; mở rộng chế độ đăng ký; thực hiện nguyên tắc người dân
và doanh nghiệp được làm những gì mà pháp luật không cấm, công chức chỉ được làm
những gì mà pháp luật cho phép; thực hiện QLNN bằng pháp luật.
Thủ tục đầu tư, thành lập doanh nghiệp, gia nhập thị trường phải được đơn giản hoá
tối đa trên cơ sở quy định rõ quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư, doanh nhân, doanh
nghiệp. Nhà nước chỉ phê duyệt cấp phép các dự án quan trọng liên quan đến an ninh
kinh tế, có ảnh hưởng đến tài nguyên môi trường, đến quy hoạch tổng thể và các dự án
do Chính phủ đầu tư hoặc dự án hạn chế đầu tư. Đối với các dự án còn phải phê duyệt,
cấp phép đầu tư, cần có quy chế phân cấp hợp lý cho chính quyền các địa phương theo
nguyên tắc phân quyền gắn với trách nhiệm, mở rộng phân cấp gắn với tăng cường kiểm
tra giám sát của cấp trên đối với việc thi hành luật pháp, chính sách, chiến lược, quy
hoạch chung của cấp dưới…
Cơ chế quản lý về thuế cũng cần được tiếp tục đổi mới trên cơ sở hoàn thiên pháp
luật về thuế theo hướng đơn giản, mặt bằng về thuế rộng, thuế suất thấp, thu và quản lý
thuế nghiêm túc. Đẩy nhanh việc áp dụng chế độ để doanh nhân, doanh nghiệp tự khai
nộp thuế, cơ quan thuế giám sát, kiểm tra thay cho cách để cán bộ thuế trực tiếp đi tính
thuế, thu thuế như lâu nay.
Để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của xã hội về các sản phẩm, dịch vụ công, cần
phải xác định rõ những sản phẩm, dịch vụ nào thuộc trách nhiệm Nhà nước phải cung
cấp miễn phí hoặc không thể thương mại hoá; còn lại là những sản phẩm, dịch vụ công
được xã hội hoá. Đối với loại dịch vụ công thứ nhất, Nhà nước căn cứ vào tính hiệu quả
để quyết định thông qua tổ chức của mình hay các đơn vị sự nghiệp hoặc thông qua đấu
thầu để có được sản phẩm, dịch vụ cung cấp cho xã hội. Đối với loại sản phẩm dịch vụ
thứ hai, cần phải mở rộng để các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế thuộc mọi thành phần
kinh tế tham gia. Như vậy, đồng thời với việc hoàn thiện thể chế doanh nghiệp, cần tiếp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status