PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Với bờ biển dài trên 3.260 km tính trên phần lãnh thổ đất liền, Việt Nam có
diện tích rừng ngập mặn lớn đứng thứ hai thế giới, sau rừng ngập mặn ở cửa
sông Amazôn. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, năm
1943 Việt Nam có trên 400 nghìn ha diện tích rừng ngập măn. Rừng ngập đóng
vai trò rât quan trọng đối với môi trường tự nhiên, kinh tế xã hội. Làm chậm
dòng chảy và phát tán rộng nước triều, làm giảm mạnh độ cao của sóng khi triều
cường, bảo vệ đê biển, hạn chế xâm nhập mặn và bảo vệ nước ngầm. Ngoài ra
RNM còn là nơi bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ các động vật khi nước triều
dâng và sóng lớn. Rừng ngập mặn mang lại các giá trị và dịch vụ to lớn cho đời
sống, là vườn ươm và phát triển của nhiều loài thủy hải sản, cung cấp dược liệu,
chất đốt, nguyên liệu cho công nghiệp, tạo cảnh quan cho du lịch và tham quan
học tập, là tấm lá chắn phòng hộ vùng ven biển và lá phổi xanh hấp thụ khí CO
2
điều tiết nhiệt độ và khí hậu [6].
Tuy nhiên, trải qua hơn 6 thập niên bị tàn phá do chiến tranh cộng với việc
khai thác và sử dụng rừng ngập mặn quá mức vào những mục đích khác nhau
làm cho thành phần các loài cây ngập mặn bị suy giảm và dần biến mất.
Có một thực tế đó là phá rừng ngập mặn thì dễ, nhưng phục hồi rất khó
khăn và tốn kém.
Tỉnh Thừa Thiên Huế là một trong những tỉnh có diện tích rừng ngập mặn
lớn của cả nước . Do đó vai trò của rừng ngập mặn đối với môi trường và con
người là rất lớn, rừng ngập mặn có vai trò trong việc thúc đẩy phát triển bền
vững kinh tế xã hội của địa phương. Tuy nhiên thời gian gần đây do nhiều yếu
tố khách quan hay chủ quan đã làm cho thành phần các loài cây ngập mặn bị suy
giảm một cách nhanh chóng. Vì vậy đã làm cho vai trò của rừng ngập mặn suy
giảm một cách đáng kể. Theo đó, các cơ hội sử dụng tài nguyên cũng như lợi ích
của rừng ngập mặn bị hạn chế và có thể dần mất đi trong tương lai . Do vậy việc
khôi phục các khu rừng ngập mặn vô cùng cần thiết. Việc tìm kiếm giải pháp
nhân giống để tái tạo lại rừng ngập mặn đang được các nhà khoa học, nhà quản
hiện tượng thời tiết cực đoan như bão và lũ lụt, rừng ngập mặn sẽ trở nên đặc
biệt quan trọng để bảo vệ con người, nhà cửa và ruộng đồng khỏi những thiên
tai này. Rừng ngập mặn còn có tác dụng rất tốt trong việc loại thải khí nhà kính
(vốn là nguyên nhân chính gây ra biến đổi khí hậu) ra khỏi bầu khí quyển [2].
RNM đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa khí hậu, cung cấp chất hữu cơ
để tăng năng suất nuôi trồng, phát triển kinh tế vùng ven biển.
2
Rừng ngập mặn cung cấp chỗ cư ngụ và nguồn thức ăn cho rất nhiều loại
cá, động vật có vỏ, chim và động vật có vú. Một vài động vật có thể được tìm
thấy trong rừng ngập mặn bao gồm: nhiều loại cá, chim, cua, sò huyết, nghêu,
hàu, tôm, ốc, chuột, dơi và khỉ. Rừng ngập mặn còn là khu vực kiếm ăn, nơi sinh
sản và nuôi dưỡng quan trọng của nhiều loài cá, động vật có vỏ và tôm. Lá và
thân cây ngập mặn, khi bị phân hủy sẽ cung cấp những vụn chất hữu cơ vốn là
nguồn thức ăn quan trọng cho các loài thủy sinh. Tương tự như vậy, các loại
động vật phù 16 du sống dưới rễ của các cây ngập mặn là nguồn thức ăn quan
trọng cho nhiều loài cá. Rừng ngập mặn đặc biệt quan trọng đối với các loài cá
đánh bắt thương mại, vốn có rất nhiều loài đã đẻ trứng trong rễ cây rừng ngập
mặn nhằm mục đích bảo vệ con của chúng. Quan trọng hơn, 75% các loài cá
đánh bắt thương mại ở vùng nhiệt đới trải qua một khoảng thời gian nào đó
trong vòng đời của mình tại các khu rừng ngập mặn [8].
Rừng ngập mặn ổn định bờ biển và thúc đẩy quá trình bồi đắp phù sa, phân
tán bớt năng lượng của sóng, gió và thuỷ triều. Giúp bảo vệ động vật khi nước
triều lên cao và sóng lớn ví dụ nhiều loài động vật sống trong hang hoặc trên
mặt bùn khi điều kiện thời tiết bất lợi, nước triều cao, sóng lớn đã trèo lên cây để
tránh sóng như cá Lác, các loại Còng, Cáy, Ốc. Giúp cho tính đa dạng trong hệ
sinh thái rừng ngập mặn tương đối ổn định.
Nhờ bộ rễ nó còn giúp cản các loài trầm tích lắng đọng, giữ hoa lá, cành
rụng trên mặt bùn và phân hủy tại chỗ giúp tăng chất dinh dưỡng cho đất [3].
Rừng ngập mặn có một hệ thống lớn các thân, cành và rễ giúp bảo vệ bờ biển
và đất đai khỏi xói lở và ảnh hưởng của sóng. Thường tại những khu vực bờ sông và
Theo nhóm khảo sát của GS-TSKH Phan Nguyên Hồng cho thấy độ cao
sóng biển giảm mạnh khi đi qua dải RNM với mực biến đổi từ 75% đến 85% từ
1,3m xuống 0,2m - 0,3m. Tương tự, đợt sóng thần khủng khiếp ngày 26-12-
2004 hơn 2 triệu người ở 13 quốc gia Châu Á và Châu Phi bị thiệt mạng, môi
trường bị tàn phá nặng nề, nhưng kết quả khảo sát của IUCN và UNEP cùng
các nhà khoa học cho thấy, những làng xóm ở phía sau “bức tường xanh” RNM
với băng rừng rộng gần như còn nguyên vẹn vì năng lượng sóng đã được giảm
từ 50% đến 90%, nên thiệt hại về người rất thấp hoặc không bị tổn thất… Cụ
thể như RNM ở Ấn Độ, khoảng từ làng xóm ra bờ biển 1km so với nơi không có
rừng ngập mặn thiệt hại giảm 50%-80%.
Theo số liệu của Chi cục bảo vệ đê điều và phòng chống lụt bão thành phố
Hải Phòng, trước đây chi phí tu bổ đê điều trung bình hằng năm là 5 triệu đồng/
mét dài nhưng kể từ khi có rừng ngập mặn bảo vệ phía ngoài đê chi phí này đã
giảm xuống còn 1,2 triệu đồng/mét dài [12].
Rừng ngập mặn đóng một vai trò đặc biệt trong các hệ thống lưới thức ăn
phức tạp ( Hình 2.1). Điều này có nghĩa là sự phá hủy rừng ngập mặn có thể có
tác động rất xấu và rộng đến đời sống thủy sinh và đại dương.
4
Hình 2.1. Lưới thức ăn lien quan đến rừng ngập mặn
Nguồn: Theo Daniel G. Spelchan và Isabelle A. Nicoll (2004)
Sự suy kiệt của rừng ngập mặn là một nguyên nhân chính dẫn đến suy kiệt
đời sống thủy sinh vì rừng ngập mặn không còn để đóng vai trò như vườn ươm
hay chỗ kiếm ăn cho những sinh vật thủy sinh nhỏ. Kết quả là, trữ lượng thủy
sản không thể được tái tạo.Sản lượng cá, tôm, động vật có vỏ và cua sẽ giảm khi
diện tích rừng giảm.Không có các sinh vật thủy sinh nhỏ vào thời điểm này
nghĩa là không có nguồn cá để đánh bắt trong tương lai [8].
2.2. Rừng ngập mặn ở Việt Nam và Thế giới
2.2.1. Rừng ngập mặn ở Việt Nam
Ở nước ta, Phan Nguyên Hồng là người đầu tiên đã đề cập đến phân bố địa
lý và diễn thế các quần xã rừng ngập mặn, ngoài ra một số tác giả khác cũng đã
người. Các quần xã chủ yếu là:
Quần xã mắm biển (Avicennia marina) tiên phong với các loài cỏ gà, muối
biển (Suaeda maritima) trên các bãi mới bồi nhiều bùn cát, xa bờ, ngập triều
trung bình thấp.
Quần xã sú (Aegiceras corniculatum) ở gần bờ, có các loài phụ: mắm biển,
cỏ gấu biển (Cyperus stoloniferus), trên các bãi ngập triều trung bình thấp.
6
Quần xã hỗn hợp đâng (Rhizophora stylosa), trang (Kandelia candel), vẹt
dù (Bruguiera gymnorrhiza), sú trên đất ngập triều trung bình.
Quần xã vẹt dù ưu thế với các loài đâng, trang, sú ở trên đất chỉ ngập triều
cao trung bình trở lên.
Quần xã cây gỗ trên đất chỉ ngập triều thật cao: xu (Xylocarpus granatum),
cui biển (Heritiera littoralis), giá (Exoecaria agallocha), côi (Scyphiphora
hydrophyllacea), tra (Hibiscus tiliaeus), hếp (Scaevola taccada), mướp sát
(Cerbera odolans), vạng hôi (Clerodendron inerme).
Quần xã hỗn hợp gồm: mắm biển, bần chua (Sonneratia caseolaris), sú và
các loài phụ đâng, vẹt, trang ở ngoài đê biển vùng nước lợ phía Nam từ sông Đá
Bạc đến mũi Đồ Sơn.
Khu vực II: Ven biển đồng bằng Bắc Bộ, từ mũi Đồ Sơn đến cửa Lạch Trường:
Khu vực này nằm trong phạm vi bồi tụ của hệ thống sông Thái Bình, sông
Hồng và các phụ lưu, nên phù sa nhiều, giàu chất dinh dưỡng, biên độ triều lớn
3 – 4 m, bãi bồi rộng ở cả cửa sông và ven biển, nhưng chịu tác động của gió,
bão nên cây ngập mặn kém phát triển. Ở khu vực này tốc độ quai đê lấn biển
tương đối nhanh nên cây ngập mặn chỉ phân bố hẹp ngoài đê, ven các cửa sông.
Các quần xã chính là:
Quần xã cây bụi thấp: sú (A. corniculatum) và ô rô (Acanthus ilicifolius)
cằn cỗi trên nền cát bùn.
Quần xã cây nước lợ điển hình: bần chua ưu thế ở tầng cao; các loài cây
khác: ô rô, cói (Cyperus malaensis), sú phân bố trên bãi lầy có bùn sâu, trong
các cửa sông.
Quần xã mắm quăn (A. lanata) và mắm lưỡi đòng (A. offcinalis) trên đất
ngập triều cao với các loài phụ: côi (Scyphiphora hydrophyllacea), cóc đỏ
(Lumnitzera littoralis), dà quánh (Ceriops decandra).
Quần xã hỗn hợp cây ít ngập triều: tra – xu – mướp sát – giá với các loài
vạng hôi, hếp, cui và chà là (Phoenixpaludosa).
Quần xã nước lợ: bần chua vẫn là loài ưu thế, ô rô gai, cói, ngoài ra còn có
mây nước (Flagellaria indica), cóc kèn (Derris trifoliata).
Khu vực IV: Ven biển Nam bộ, từ mũi Vũng Tàu đến Hà Tiên:
Khu vực này thuộc phạm vi bồi tụ của hệ thống sông Cửu Long và hệ thống
sông Đồng Nai. Địa hình bằng phẳng, thấp, sông và kênh rạch chằng chịt, nhiều
phù sa giàu chất dinh dưỡng, lượng nước ngọt về mùa mưa lớn, ít chịu tác động
của bão. Gió mùa tây nam và dòng chảy từ Ấn Độ Dương và biển Đông đã
chuyển hạt cây giống từ vùng xích đạo lên. Nói chung, điều kiện khá thuận lợi
8
cho cây ngập mặn sinh trưởng và phân bố rộng, các quần xã cũng phong phú
nhất, đặc biệt là các vùng ven biển Tây Nam Bộ và bán đảo Cà Mau. Khu vực
này có các tiểu vùng với các cây ngập mặn chính như sau:
Tiểu vùng 1: Từ cửa sông Soài Rạp đến cửa sông Mỹ Thanh (ven biển đồng
bằng sông Cửu Long): Mắm trắng (A. alba), bần trắng (Sonneratia alba), đưng
(R. mucronata), đước (R. apiculata), vẹt tách (Bruguiera paviflora), dà vôi
(Ceriops tagal), mắm biển (A. marina), mắm quăn (A. lantana), mắm đen (A.
officinalis), dà quánh (C. decandra), giá (Excoecaria agollocha), chà là
(Phoenix paludosa), bần chua (Sonneratia caseolaris), ô rô (Acanthus
ilicifolius), dừa nước (Nypa fruticans), tra(Hibiscus tiliaceus), tra biển
(Thespesia populnea), cóc vàng (Lumnitzera racemosa).
Tiểu vùng 2: Từ cửa sông Mỹ Thanh đến cửa sông Bảy Háp (tây nam bán
đảo Cà Mau): Mắm trắng (A. alba), mắm biển (A. marina), mắm đen (A.
officinalis), đưng (R. mucronata), đước (R. apiculata), dà vôi (Ceriops tagal),
dà quánh (C. decandra), giá (Excoecaria agollocha), ô rô (Acanthus ilicifolius),
dừa nước (Nypa fruticans), cóc vàng (Lumnitzera racemosa), vẹt tách
phục hồi rừng dừa nước .
Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng
Ninh, tổng diện tích rừng ngập mặn hơn 22.810 ha vào năm 1998 đến năm
2004.
Do sự ô nhiễm môi trường nước từ việc thải trực tiếp xuống biển các
chất thải rắn, nước thải của các mỏ than đang khai thác chưa qua xử lý và
rác thải của nhiều tàu du lịch, lồng bè thuỷ sản, các điểm kinh doanh hải sản,
các khu dân cư nên diện tích rừng ngập mặn trên địa bàn tỉnh suy giảm chỉ
còn 19.000 ha.
Trên toàn tỉnh Nghệ An, diện tích rừng ngập mặn hiện có là 819,6 ha do
hiện tượng dắp bờ nhằm tăng diện tích đất sản xuất nông nghiệp và phong trào
nuôi tôm nổi lên rầm rộ khắp mọi nơi, nhiều cánh rừng ngập mặn bị tàn phá
nặng nề. Đến năm 1985 hầu như rừng ngập mặn bị phá gần hết và chỉ còn sót lại
cảnh rừng bần ở xã Hưng Hòa với diện tích khoảng gần 10 ha .
Rừng ngập mặn Cồn Chim nằm giữa đầm Thị Nại (Bình Định) trước đây có
tổng diện tích trên 480 ha, trước đây là một vùng có hệ sinh thái động, thực vật
phong phú và giàu tiềm năng nhưng trong nhiều năm qua, do việc khai thác
thiếu kế hoạch và khoa học đã làm cho hệ sinh thái ở đây đã bị phá vỡ và suy
giảm nghiêm trọng , gần đây đã bị gần 100 gia đình phá rừng để làm đầm tôm
nên diện tích rừng ngập mặn hiện nay chỉ còn 5ha .
Theo số liệu của ngành Nông nghiệp, đến năm 2000, toàn tỉnh Khánh Hoà
chỉ còn 11,5 ha rừng ngập mặn, trong đó huyện Vạn Ninh còn 11 ha, Cam
Ranh 0,5 ha. Hiện nay, diện tích rừng ngập mặn ở Khánh Hoà đã thu hẹp rất
10
nhiều. Chính tình trạng đào đất, thay đổi diện mạo địa hình, ngăn dòng chảy đã
triệt hạ hàng loạt khu rừng ngập mặn mà khả năng tái tạo cực kỳ khó. Sự việc
càng bi đát hơn khi việc nuôi tôm thất bát, hàng nghìn ha đất đìa bị bỏ hoang
khiến cả một vùng ven biển trước đây xanh tươi, trù phú bây giờ tiêu điều.
Ở Đầm Nại (Ninh Thuận) hơn 200ha rừng ngập mặn tạo vành đai rộng
hàng trăm mét bảo vệ cho đầm không bị xói lở, nay đã thay thế bằng các đầm
Vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương gồm: Đông Phi, Biển Đỏ, Ấn Độ, Đông
Nam Á, phía nam Nhật Bản, Philippine, Úc, New Zealand và quần đảo Nam
Thái Bình Dương.
Vùng Tây Phi và châu Mỹ bao gồm bờ biển Atlantic của châu Phi và châu
Mỹ, bờ biển Thái Bình Dương của vùng nhiệt đới châu Mỹ và quần đảo
Galapagos.
Hình 2.2. Bản đồ phân bố rừng ngập mặn trên thế giới
(Nguồn: NASA/AUGS năm 2010)
Theo đánh giá của Hutchings và Saenger (1987), diện tích rừng ngập mặn
trên thế giới là 15.429.000ha, trong đó 6.246.000 nằm ở khu vực châu Á nhiệt
đới và châu Đại Dương. Còn 5.781.000ha nằm ở vùng châu Mỹ nhiệt đới và
3.402.000ha thuộc châu Phi [17].
Trong vài thập kỷ gần đây, rất nhiều khu vực ven biển này đã chịu sức ép
ngày càng tăng của việc phát triển đô thị và công nghiệp. Hơn 50% diện tích
rừng ngập mặn đã mất đi vì những nguyên nhân do con người gây ra. Rừng ngập
mặn đã bị khai thác quá mức hoặc chuyển sang nhiều dạng sử dụng đất khác
trong đó có nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối, trồng rừng trên cạn,
phát triển đô thị và công nghiệp. Đó là còn chưa kể hết rừng bị phá để làm
đường xây dựng đê, mương. Diện tích rừng ngập mặn đã bị giảm từ 20 đến 75%
ở nhiều nước châu Á đang phát triển và vùng biển Caribê .
Dựa vào việc tính toán trên bản đồ ảnh vệ tinh và các số liệu thu thập
được gần đây Spalding và cộng sự (1997) đã lập bảng thóng kê tổng diện tích
rừng ngập mặn các vùng trên thế giới là 181.077 km2 [20].
12
Bảng 2.2. Diện tích RNM trên thế giới
Vùng Diện tích rừng
ngập mặn(km2)
Tỷ lệ (%)
Nam và Đông Nam Á 75.173 41.5
Austrailia 18.789 10.4
nhiên là những nguyên nhân chính dẫn đến tàn phá rừng ngập mặn [12].
2.3. Đa dạng sinh học rừng ngập mặn tại tỉnh Thừa Thiên Huế
Với đường bờ dài khoảng 127km và trên 22 nghìn hecta mặt nước đầm
phá ven biển, Thừa Thiên Huế (TT-Huế) được xem là một trong những vùng đất
ngập nước ven biển có tính đa dạng sinh học cao của khu vực miền Trung.
Thảm thực vật ngập mặn ở Rú Chá - Hương Phong, khu du lịch Tân Mỹ ở phá
Tam Giang, cửa sông Bù Lu - Cảnh Dương và quanh đầm Lập An đã cấu thành
nên một hệ TVNM ở vùng ven biển TT. Huế cũng góp một phần vào sự đa dạng
sinh học đó. Tuy diện tích không lớn như ở các châu thổ sông Hồng và sông
Cửu Long nhưng chúng cũng đóng một vai trò lớn trong việc bảo vệ các cộng
đồng cư dân, hệ sinh thái nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản của các địa
phương ven biển. Thảm TVNM ở TT-Huế đã được một số tác giả quan tâm
nghiên cứu như Mai Văn Phô và Đoàn Ngọc Đính (1993), Nguyễn Khoa Lân
(1999), Lê Thị Trễ và Phan Trung Hiếu (2002), Phạm Minh Thư (2003), Hoàng
Công Tín, Mai Văn Phô, Tôn Thất Pháp (2010), Hoàng Công Tín (2011). Tuy
nhiên, đa số các công trình của các tác giả trên chủ yếu tập trung nghiên cứu
theo từng khu vực có TVNM phân bố nhất định như Rú Chá, cửa sông Bù Lu
hay đầm Lập An (Lăng Cô) theo từng giai đoạn khác nhau. Đến nay chưa có
công trình nghiên cứu nào công bố một cách đầy đủ về hiện trạng phân bố và
thành phần loài TVNM ở vùng ven biển Thừa Thiên Huế [1].
Trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế có những cánh rừng ngập mặn đã phát
huy hiệu quả bảo vệ cuộc sống và sản xuất cho cư dân sống ven biển. Tuy nhiên,
là một địa bàn thường xuyên chịu ảnh hưởng bởi thiên tai, chịu sự tác động sâu
rộng của Biến đổi khí hậu thì diện tích rừng ngập mặn trên địa bàn tỉnh đang bị
thu hẹp dần.
Các cánh rừng ngập mặn nằm trên các huyện Hương Trà, Phú Lộc, Phú
Vang của tỉnh Thừa Thiên Huế. Hàng chục năm qua những cây đước, cây sú,
cây vẹt đã kết thành thành lũy vững chắc đối diện trực tiếp với bão tố, sóng biển,
thủy triều để bảo vệ cho đất đai, làng mạc. Điều đó cũng đồng nghĩa cuộc sống,
sản xuất của người dân luôn được đảm bảo an toàn.
thực vật ngập mặn ở đây không có sự phân tầng mà toàn bộ thảm được cấu
thành bởi một số loài thân gỗ nhỏ và cây bụi như Vẹt khang (Bruguiera
gymnorrhiza), Cóc vàng (Lumnitzera racemosa), Sú (Aegiceras corniculatum)
và Giá (Excoecaria agallocha) với chiều cao trung bình 1-3m.
15
Hình 2.3. Sơ đồ các khu vực phân bố thực vật ngập mặn ở vùng ven biển TT-Huế
Ở khu vực Bù Lu, là bãi đất bồi thuộc cửa sông Bù Lu thuộc thôn Cảnh
Dương, xã Lộc Vĩnh, huyện Phú Lộc. Quần xã TVN gồm các loài Đước vòi
(Rhizophora stylosa), Cóc vàng (Lumnitzera racemosa), Mắm biển (Avicennia
marina) chiếm ưu thế. Chiều cao trung bình 3-7m. Ngoài ra trên vùng đất cao
triều có các loài Giá (Excoecaria agallocha), Xu ổi (Xylocarpus moluccensis),
Mướp sát (Cerbera manghas). Ở khu vực ven đầm Lập An, TVNM hiện phân
bố rải rác, phân tán xung quanh đầm. Trong đó 2 khu vực có TVNM phân bố
điển hình ở đây là khu vực Hói Dừa và ở bãi đất bồi Mũi Doi.Ở khu vực Hói
Dừa, quần xã TVNM gồm những cây cao trung bình 1-3m.Cóc vàng
(Lumnitzera racemosa), Vẹt khang (Bruguiera gymnorrhiza), Giá (Excoecaria
agallocha) là những loài ưu thế.Dưới tán các cây gỗ là những loài như Ráng đại
(Acrostichum aureum) và Rau muống biển (Ipomoea pes-capre).Ngoài ra còn
gặp những loài tham gia khác như Tra (Hibicus tiliaceus), Quao (Dolichandrone
spathacea). Ở bãi đất bồi Mũi Doi gồm những cây gỗ nhỏ và bụi cao trung bình
1-3m, các loài chính 2091 thức như Đước (Rhizophora apiculata), Mắm
(Avicennia marina), Sú (Aegiceras corniculatum), Vẹt khang (Bruguiera
gymnorrhiza), Cóc vàng (Lumnitzera racemosa) chiếm ưu thế ở bờ phía Đông
và các loài Mắm (Avicennia marina) và Sú (Aegiceras corniculatum) chiếm ưu
thế ở bờ Tây của Mũi Doi [1].
16
Qua khảo sát thực địa tại các vùng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế cho thấy
đây là khu vực có số lượng phân bố 3 loài Mắm phát triển nhiều nhất là Mắm
biển, Mắm quăn và Mắm đen. Trong đó Mắm quăn là phổ biến nhất.Tuy nhiên
số lượng số lượng cá thể thuộc quần thể Mắm biển là rất cao và chúng thường
dải, thuôn về hai đầu.Nhị có chỉ hình sợi, bao phấn hình thận.Bầu hình cầu dẹt,
vòi dài, đầu hơi tròn.
Quả mọng.đường kính 3 - 5cm, cao 1,5 - 2cm, gốc có thùy đài xòe ra. Hạt
nhiều, dẹt.
Phân bố:
Cây phân bố ở rừng ngập mặn Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Mianma,
Inđônêxia, Philippin, Bắc châu đại dương, Niughnia
Việt Nam cây mọc ở nước lợ gần các cửa sông ngập một mùa trong năm.
Cây thường mọc chung với các loài cây khác như Trang, sú, Giá, Nấm, Cóc Cũng
có khi mọc thành rừng gần như thuần loại như ở Hải Phòng, Nghệ An, Hà Tĩnh. Sự
phong phú của quần thụnày tùy theo mức nước lợ và chế độ thủy triều [18].
Cây trang
Tên khoa học: Kandelia obovata
Họ đước: Rhizophoraceae
Đặc điểm hình thái
Cây gỗ nhỏ có thể cao tới 5-7m, không có rễ khí sinh nhưng có bạnh gốc, vỏ
thân nhẵn, hơi xám. Lá đơn, mọc đối, hình bầu dục thon dài, đầu tròn, gốc hình nêm,
mép lá nguyên, thường uốn xuống phía lưng. Tụ tán lưỡng phân với 4 hoa hay nhiều
hơn ở nách lá, 5 hoặc 6 cánh hoa màu trắng, có nhiều sợi nhỏ dài giữa các thùy. Quả
thai sinh mang trụ mầm dài 15-40cm. Đài tồn tại cùng với quả. 5-6 cánh đài hình dải
cong vểnh lên. Ra hoa tháng 5-6, thu quả (trụ mầm) tháng 7-9.
Đặc điểm sinh thái
Cây mọc trên đất bùn cát dọc sông có độ mặn thay đổi, thường mọc hỗn
giao với đước, bần, sú. Cây trang có tính thích nghi tốt khi độ mặn của đất thay
đổi là do việc làm tăng khả năng chống lại ảnh hưởng của các ion muối trong
màng tế bào của lá.
Phân bố
Cây trang (Kandelia) là loài cây tương đối phổ biến trong hệ thống rừng
ngập mặn. Tuy nhiên, sự phân bố của các loài trang (gồm 2 loài: candel và
obovata) ở các nơi trên thế giới là khác nhau,trang phân bố chủ yếu ở
3.2.2 .Mục tiêu cụ thể
- Xác định được nguồn cung cấp giống và kỹ thuật tạo giống loài Mắm
biển (Avicennia marina)
- Tìm hiểu kỹ thuật trồng của cây Mắm biển (Avicennia marina)
- Đánh giá được hiện trạng và sinh trưởng của cây Mắm biển (Avicennia
marina) ở Thừa Thiên Huế
- Phân loại, so sánh các đặc điểm của các loại Mắm
- Xác định được kỹ thuật gieo ươm hạt và giâm hom loài cây Mắm biển
(Avicennia marina)
3.3. Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế
- Tìm hiểu các đặc điểm sinh vật hoc cây Mắm biển (Avicennia marina)
- Tìm hiểu kỹ thuật tạo cây con
- Nghiên cứu ảnh hưởng điều kiện sinh trưởng ( độ ngập, độ lún) của cây
Mắm biển (Avicennia marina)
- Tìm hiểu kỹ thuật trồng rừng loài cây Mắm biển (Avicennia marina)
20
- Đề xuất kỹ thuật tạo giống và gây trồng loài Mắm biển (Avicennia
marina)
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Phương pháp thu thập số liệu
3.4.1.1. Thu thập số liệu thứ cấp
Là các thông tin được thu thập từ các văn bản pháp luật, tài liệu thống kê
tại các phòng ban, sách, báo và các thông tin trên internet, các đề tài nghiên cứu
khoa học trước đây.
3.4.1.2. Thu thập số liệu sơ cấp
Bằng cách tiến hành điều tra hiện trường tìm hiểu kỹ thuật gây trồng và
mô hình vị trí nghiên cứu.
3.4.2. Phương pháp điều tra, phân tích và xử lý số liệu
3.4.2.1. Điều tra
3.4.2.2. Phân tích và xử lý số liệu
Tính toán, phân tích số liệu bằng phần mềm Excel và có thể sử dụng phần
mềm phân tích thống kê thích hợp để xử lý.
* Để đánh giá ảnh hưởng của nhân tố Độ ngập và Độ lún đến tỷ lệ sống ta
dùng tiêu chuẩn khi bình phương
2
t
χ
.
Giả thuyết H
0
: Các mẫu về chất thuần nhất.
Giả thuyết H
0
được kiểm tra bằng tiêu chuẩn phù hợp
21
−
×
=
∑
tra bảng với k= (a-1)(b-1) bậc tự do thì giả thuyết H
0
được
tạm thời chấp nhận.
Ngược lại nếu
2
t
χ
>
2
05
χ
tra bảng với k= (a-1)(b-1) bậc tự do thì giả thuyết
H
0
bị bác bỏ, các mẫu về chất là không thuần nhất với nhau
* Để đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố lên các chỉ tiêu sinh trưởng H
vn
, D
0
,
H
dc
, H
rễ
, D
t
Bảng 3.2. Bố trí thí nghiệm
Nhân tố A được chia làm 3 CT (A1, A2, A3), nhân tố B được chia làm 3 CT
(B1, B2, B3)
0B
được chấp nhận, nhân tố B tác động đồng
đều lên kết quả thí nghiệm.
+ Nếu F
A
> F
05
thì nhân tố A tác động không đồng đều tới kết quả thí
nghiệm.
Nếu kết luận có ảnh hưởng khác nhau thì sẽ có công thức có ảnh hưởng
trội nhất. Để tìm ra công thức này, dùng tiêu chuẩn t của Student dựa vào hai số
trung bình lớn thứ nhất và thứ nhì (trường hợp F
B
> F
05
) theo công thức:
t
tính
=
)
11
(
21
2max1max
nnbn
V
N
xx
+
−
chuẩn T để kiểm tra lại xem có sai khác với công thức nào còn lại để lựa chọn
công thức có hiệu quả nhất.
23
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Khái quát tự nhiên – Kinh tế - Xã hội của khu vực nghiên cứu
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1. Vị trí địa lý
Tỉnh Thừa Thiên Huế nằm ở duyên hải miền trung Việt Nam bao gồm phần
đất liền và phần lãnh hải thuộc thềm lục địa biển Đông. Phần đất liền Thừa
Thiên Huế có tọa độ địa lý như sau:
- Điểm cực Bắc: 16044'30'' vĩ Bắc và 107023'48'' kinh Đông tại thôn Giáp
Tây, xã Điền Hương, huyện Phong Điền.
- Điểm cực Nam: 15059'30'' vĩ Bắc và 107041'52'' kinh Đông ở đỉnh núi
cực nam, xã Thượng Nhật, huyện Nam Đông.
- Điểm cực Tây: 16022'45'' vĩ Bắc và 107000'56'' kinh Đông tại bản Paré,
xã Hồng Thủy, huyện A Lưới.
- Điểm cực Đông: 16013'18'' vĩ Bắc và 108012'57'' kinh Đông tại bờ phía
Đông đảo Sơn Chà, thị trấn Lăng Cô, huyện Phú Lộc.
Hình 4.1. Bản đồ hành chính tỉnh Thừa Thiên Huế
24
4.1.1.2. Địa hình, đất đai
Địa hình
Dưới tác động của các quá trình thành tạo địa hình nội sinh và ngoại sinh
đối lập nhau, địa hình Thừa Thiên Huế bị biến đổi không ngừng trong lịch sử
tồn tại và phát triển kéo dài hàng trăm triệu năm, đặc biệt là trong giai đoạn tân
kiến tạo cho đến hiện tại. Xét về vị trí, địa hình hiện tại lãnh thổ Thừa Thiên
Huế được xem như là tận cùng phía Nam của dãy núi trung bình Trường Sơn
Bắc, phát triển theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Đến phía Nam tỉnh, kiến trúc
và định hướng Tây Bắc – Đông Nam của dãy Trường Sơn Bắc hoàn toàn bị biến