ĐẶT VẤN ĐỀ
Tỷ lệ tử vong sơ sinh sớm ở Việt Nam hiện nay chiếm 1/2 số chết của
trẻ em dưới 5 tuổi và chiếm 3/4 tổng số chết trẻ em dưới 1 tuổi. Hai phần ba
số tử vong sơ sinh xảy ra trong tuần đầu, hai phần ba số tử vong này chết
trong 24 giờ đầu sau đẻ.
Như vậy muốn đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc giảm tỷ lệ tử
vong trẻ dưới 1 tuổi đặt biệt tử vong sơ sinh ở nước ta phải dành ưu tiên lớn
nhất cho việc cứu sống sinh mạng trẻ trong giai đoạn sơ sinh sớm (0 - 6 ngày
tuổi). Chỉ thị 04 của bộ y tế có nêu rõ: sơ sinh tuần đầu thường chết vì 4
bệnh gồm: dị tật bẩm sinh, ngạt, nhiễm trùng, sinh non yếu nhẹ cân và các
bệnh tật xảy ra trong quá trình nuôi dưỡng [9],[[25].
Việc chăm sóc sơ sinh hiện nay trong các cơ sở sản khoa toàn quốc nói
chung và các nhà hộ sinh khu vực thành phố Huế nói riêng thường là những
chăm sóc thông thường của chuyên ngành sản khoa. Trẻ được chuyển viện
khi bệnh lý đã nặng vì bệnh không được phát hiện sớm tại tuyến cơ sở. Tuyến
trên thường không được cung cấp thông tin về quá trình chuyển dạ của mẹ và
tình trạng sau sinh của con. Nghiên cứu các đặc điểm dịch tễ học của mẹ và
con trong các cơ sở sản khoa là một việc làm cần thiết. Việc làm này cho
phép phác thảo một bức tranh chung về những yếu tố của mẹ trong khi mang
thai và chuyển dạ ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của con khi sinh.
Nghiên cứu về vấn đề này sẽ rèn luyện người bác sĩ thực hành trong công tác
chăm sóc sơ sinh thói quen phỏng vấn tiền sử mang thai, chuyển dạ mẹ và
những đặc điểm dịch tễ học của con như cân nặng, tuổi thai…để có hướng tư
vấn cho cộng đồng về cách chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ sơ sinh hợp lý trong
tuần đầu sau đẻ. Thay đổi được hành vi thực hành sẽ nâng cao chất lượng
1
chăm sóc sơ sinh. Đó là chìa khóa then chốt để giảm tỷ lệ tử vong giai đoạn
sơ sinh sớm trong cộng đồng.
Hiện nay ít có tài liệu trong nước nghiên cứu về vấn đề này.
Vì vậy, đề tài “Tìm hiểu một số đặc điễm dịch tễ học của mẹ và con sinh tại
các nhà hộ sinh khu vực I, II, III Thành Phố Huế ” đã được thực hiện
theo WHO. Nghiên cứu của viện bảo vệ bà mẹ - trẻ sơ sinh tại bệnh viện của
7 tỉnh đã nêu mỗi 1.000 trường hợp đẻ có 5,76 mẹ chết, ở một số tỉnh tỷ lệ
này lên đến (9‰), Tây nguyên (1,8‰), miền núi (1,5‰).
3
Các nghiên cứu còn nêu rõ nguyên nhân chết mẹ:
- Nhiễm trùng 32%
- Thiếu máu nặng 21%
- Chảy máu do đẻ hay nạo 11%
- Suy thận vì ngộ độc thai nghén 7%
- Biến chứng khác 9%
Kết quả này chính là do chăm sóc khi có thai chưa tốt và việc dùng biện pháp
tránh thai chưa đạt yêu cầu [3].
1.3. Các yếu tố nguy cơ mẹ:
1.3.1. Yếu tố tuổi mẹ :
Nhiều nghiên cứu dịch tễ học cho thấy tỷ lệ sơ sinh nhẹ cân tăng ở
những bà mẹ có tuổi nhỏ từ 15-19 tuổi và những bà mẹ lớn tuổi từ 35-40 tuổi.
Những bà mẹ nhỏ tuổi phần lớn là chăm sóc tiền sản không đầy đủ, cân nặng
lúc sinh thấp, trình độ văn hóa thấp. Các bà mẹ >35 tuổi có tỷ lệ biến chứng
lúc sinh cao. Theo Bộ môn Sản phụ Trường Đại học Y - Dược Huế, mang
thai ở vị thành niên <18 tuổi có nguy cơ tiền sản giật, thai chậm phát triển
trong tử cung, dọa sẩy thai và đẻ non, mẹ thiểu năng dinh dưỡng, lây lan các
bệnh viêm nhiễm theo đường tình dục. Mẹ >35 tuổi có nguy cơ cao huyết áp
do thai, tiền sản giật, nhau tiền đạo, bệnh béo phì, các bệnh nội khoa khác.
Những bất thường về nhiễm sắc thể có thể gặp ở trẻ sinh ra từ các bà mẹ lớn
tuổi [1],[4].
- Theo nghiên cứu của Lý Mai Phương luận văn chuyên khoa I (2009),
các bà mẹ của những trường hợp sơ sinh nhẹ cân có ở tất cả các độ tuổi. Tỷ lệ
các bà mẹ tuổi trên 39 là rất thấp (4,7%) và các bà mẹ tuổi dưới 20 là
(10,6%), các bà mẹ tuổi từ 20-29 lại chiếm một tỷ lệ khá cao (60%). Một số
Mức sống vật chất thấp, lao động quá nặng nhọc hoặc làm nghề chăn
nuôi trồng trọt, sống ở nơi chật hẹp, thiếu vệ sinh, tinh thần căng thẳng
thường làm thai kém phát triển gây tỷ lệ đẻ non cao. Tình trạng nhà ở, tình
trạng giáo dục, thu nhập kinh tế và lối sống khác nhau về điều kiện kinh tế,
xã hội, góp phần quan trọng làm ảnh hưởng đến sự phân bố của bệnh. Sự đói
nghèo kéo theo tình trạng dinh dưỡng kém, điều kiện sống thấp, nhà ở chật
chội, chen chúc, vệ sinh không đảm bảo, không có khả năng sử dụng các dịch
vụ chăm sóc sức khỏe và phòng bệnh. Đó là lý do giải thích mô hình bệnh
nhiễm khuẩn và suy dinh dưỡng ở các tầng lớp nghèo và các nước nghèo [4].
[5].
1.3.4. Nghề nghiệp:
Tiếp xúc nghề nghiệp có ảnh hưởng rất rõ đến sức khỏe, đến sự phân
bố khác nhau về tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong thông qua các yếu tố:
+ Điều kiện vật lý: nóng lạnh thay đổi áp suất không khí.
+ Hóa chất.
+ Tiếng ồn.
+ Sang chấn nghề nghiệp [5].
Bà mẹ thường gắn liền với mức độ lao động và thu nhập có ảnh hưởng
đến cân nặng sơ sinh. Theo nghiên cứu của Đinh Thị Phương Hòa (2000) cho
thấy nhóm bà mẹ làm ruộng có tỷ lệ sơ sinh là (9,3%) so với nhóm bà mẹ là
công nhân và cán bộ thì tỷ lệ này lần lượt là (5,2% và 3,9%). Theo Lưu Tuyết
Minh (2001) các bà mẹ là cán bộ có con nhẹ cân thấp nhất là (20,5%) còn các
bà mẹ thuộc nhóm làm ruộng tỷ lệ đẻ con nhẹ cân cao nhất (70,5%). Nghiên
cứu Cù Thị Minh Hiền (2002) cho thấy bà mẹ làm ruộng có nguy cơ đẻ con
nhẹ cân cao gấp 3,7 lần các bà mẹ không làm ruộng [19].
6
Môi trường lao động: ảnh hưởng của hóa chất bảo vệ thực vật đối với
thai nghén đã được nhiều tác giả nghiên cứu. Hóa chất bảo vệ thực vật không
những ảnh hưởng trực tiếp làm giảm sức khỏe của người mẹ mà còn làm tăng
nguy cơ sẩy thai, thai chậm phát triển và dị tật bẩm sinh. Mẹ phơi nhiễm với
Mang thai là một hiện tượng sinh lý bình thường của người phụ nữ. Trong
giai đoạn có thai, cơ thể có nhiều thay đổi không tốt cho sức khỏe chung, đồng
thời người phụ nữ bị giảm sức đề kháng nên dễ bị bệnh hơn so với lúc không có
thai, vì vậy vệ sinh trong thời kỳ thai nghén rất quan trọng cho cả mẹ lẫn con [14].
1.4. Nguy cơ trong lúc mang thai:
1.4.1. Tăng huyết áp thai kỳ:
Tăng huyết áp do thai được xác định khi huyết áp > 140/90 mmHg sau
tuần thứ 20 của thai kỳ. Đo huyết áp ít nhất 2 lần, không tiểu đạm (protein
<300mg/dl trong 24 giờ) hoặc không có thay đổi huyết áp trước đây. Tăng
huyết áp kết hợp với tiểu đạm, phù hoặc cả hai là biểu hiện tiền sản giật.
Tăng huyết áp trong thai kỳ làm giảm dòng máu qua nhau thai và dẫn đến
tăng nguy cơ sinh non, sơ sinh nhẹ cân [19].
Phụ nữ mang thai sau tuổi 30: tăng huyết áp là chứng bệnh mạn tính
phổ biến nhất ở phụ nữ mang thai lớn tuổi. Khoảng 10% phụ nữ trải qua tình
trạng này trong thời kỳ mang thai, tuy nhiên những phụ nữ ở độ tuổi 30-50 có
nguy cơ mắc bệnh huyết áp tăng do mang thai cao hơn những phụ nữ trẻ tuổi
hơn. Phần lớn những phụ nữ bị tăng huyết áp trong thời kỳ mang thai đều có
huyết áp ổn định khi không có thai, số còn lại bị tăng huyết áp trước khi
mang thai.Chứng tăng huyết áp tác động đến hai mẹ con: các mạch máu trong
8
tử cung, cung cấp dưỡng chất và oxy cho thai nhi. Huyết áp tăng làm hẹp các
mạch máu trong tử cung, làm chậm sự vận chuyển dưỡng chất và oxy từ
người mẹ đến thai nhi, điều này lại làm chậm sự phát triển của thai nhi.
Chứng tăng huyết áp làm tăng nguy cơ bong nhau thai (nhau thai tách khỏi
thành tử cung trước khi sinh). Tình trạng này có thể gây chảy máu nhiều và
gây sốc, rất nguy hiểm cho cả mẹ và con [18].
Theo hội nghị khoa học bệnh viện phụ sản Hùng Vương 2004: Tăng
huyết áp (THA) và tiền sản giật (TSG) là tình trạng bệnh lý với nhiều nguy
cơ cho thai kỳ. Tại Hoa Kỳ, (THA) được chẩn đoán trong 12-22% thai kỳ và
là nguyên nhân tử vong trực tiếp trong 17,6% trường hợp tử vong mẹ. (THA)
những bà mẹ đái tháo đường có nguy cơ hạ đường máu tức thì sau sinh [18].
- Đường là năng lượng chính cung cấp cho thai nhi, phần lớn được tế
bào não sử dụng. Đường vận chuyển qua thai nhi nhờ cơ chế nồng độ thẩm
thấu. Những sản phụ tăng đường huyết tăng nguy cơ sơ sinh to gấp hai lần.
Mặt khác, sự dao động đường huyết lúc cao lúc thấp cũng làm tăng nguy cơ
thai chậm phát triển trong tử cung, ngoài ra sản phụ tiểu đường cũng tăng
nguy cơ sinh non và những biến chứng khác [19].
1.4.3. Bệnh lý thận và thai nghén:
-Theo sách sản phụ khoa viêm thận, viêm mủ bể thận, cao huyết áp,
các bệnh này sẽ nặng lên lúc mang thai gây nhiều biến chứng như: rau bong
non, sản giật do co thắt tiểu động mạch, lượng máu nhau thai ít, làm nhau
thai bị xơ hóa, bánh rau nhỏ, thai kém phát triển, chết lưu. Tăng tỷ lệ tử vong
chu sinh, cần điều trị tích cực và có hệ thống hoặc phải đình chỉ thai nghén để
cứu mẹ. Nguy cơ cho mẹ Tăng huyết áp gia tăng mức độ thương tổn thận [4].
10
- Bệnh lý thận mãn cũng như các bênh hệ thống ở phụ nữ có tổn
thương mạch máu gây ra giảm tưới máu ở tử cung nhau. Trong các bệnh thận
tiến triển có liên quan chặt chẻ với chậm phát triển thai nhi trong tử cung
như: viêm đài bể thận, xơ hóa cầu thận, bệnh lý cầu thận mạn, sự chậm phát
triển của thai nhi liên quan đến sự mất đạm [19].
1.4.4. Các bệnh tim mạch:
- Chủ yếu là bệnh tim mắc phải thường nặng lên, cơ thể của thai nhi
luôn trong tình trạng thiếu oxy làm thai kém phát triển. Thiếu oxy cơ tử cung,
gây đẻ non, sẩy thai, tử vong và bệnh lý thai tăng gấp 2 lần ở bệnh nhân có
loạn nhịp hoàn toàn và gấp 5 lần ở tim mất bù. Khi đẻ nếu có can thiệp bằng
forceps thì dễ gây sang chấn cho thai hoặc đôi lúc phải đình chỉ thai nghén vì
bệnh lý của mẹ quá nặng. Nguy cơ trẻ bị tim bẩm sinh từ (10-24%), nếu mẹ
hoặc bố cũng bị tim bẩm sinh. Nguy cơ cho mẹ: suy tim, phù phổi cấp, tử
vong mẹ tăng [4].
- Ảnh hưởng của thai nghén lên bệnh tim: khi có thai, nhu cầu nuôi
bẩm sinh cho thai nhi như não úng thủy, quái thai, bụng cóc, sứt môi, hở hàm
ếch cho thai [16].
- Trong giai đoan ổn định và hoàn chỉnh tổ chức: lớp nội bào của gai
rau càng ngày càng mỏng, màng ngăn rau thai dễ thẩm thấu, các vi trùng,
virus, ký sinh trùng, độc tố, kháng thể rất dễ dàng qua thai nhi. Trong giai
đoạn này thai nhi không biến dạng nữa. Thai nhi có thể bị nhiễm trùng nên
khi đẻ ra ta thấy trẻ bị viêm gan, viêm não, giang mai, viêm phúc mạc…mà ta
thường gọi là bẩm sinh. Như vậy thai nhi có thể bị bệnh nhiễm trùng, suy
thai, suy dinh dưỡng và có khi chết đột ngột. Trong tình hình của ta dịch
cúm, sốt xuất huyết, Rubéole v.v…các bệnh viêm phổi, lao, giang mai,
thương hàn, sốt rét, gây quá nhiều tác hại cho thai nhi [14].
12
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu đã đươc thực hiện trên 179 bà mẹ và 179 trẻ sơ sinh, con
những bà mẹ này sinh tại các nhà hộ sinh khu vực của Thành phố Huế. Các
bà mẹ và con của họ được đưa vào nghiên cứu đã được thỏa mãn các tiêu
chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu như sau:
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn Đối tượng nghiên cứu:
2.1.1.1. Tiêu chuẩn chọn về mẹ:
- Mẹ sinh con đang trong giai đoạn sơ sinh sớm còn lưu tại nhà hộ sinh
- Mẹ không bị tâm thần
- Mẹ hiểu và trả lời có ý thức các câu hỏi của phiếu điều tra
- Mẹ đồng ý hợp tác
2.1.1.2. Tiêu chuẩn chọn về con:
- Con sinh ra sống trong 7 ngày đầu sau đẻ
- Giới tính nam hay nữ
- Sinh ra bình thường hay bệnh lý
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ:
- Nghề nghiệp mẹ
- Địa chỉ
- Trình độ văn hóa
14
- Tiền sử bệnh lý mẹ
+ Tiền sử bệnh lý trong quá trình thai nghén lần này:
Bệnh đái tháo đường
Bệnh Basedow
Bệnh cao huyết áp
Chuyển dạ kéo dài > 24 giờ ở người đẻ con rạ
Chuyển dạ kéo dài > 36 giờ ở người đẻ con so
Thời gian ối vỡ
Viêm thận – bể thận
Sỏi thận
Nhiễm trùng đường tiểu
Ngứa âm đạo – âm hộ
Viêm nhiễm âm đạo – âm hộ
Viêm cổ tử cung
Iả chảy
- Tiền sử sản khoa:
Con so – Con rạ
Số con
Sinh non
Sinh đủ tháng 38- 42 tuần
Sinh già tháng
Thai chết lưu
Sẩy thai
2.2.3.2. Các biến số nghiên cứu về con:
- Phân loai sơ sinh:
+ Cân nặng
+ Giai đoạn sơ sinh sớm: từ khi sinh đến ngày thứ 7 sau sinh ( 7
ngày đầu sau đẻ)
+ Giai đoạn sơ sinh muộn: từ ngày thứ 8 đến 28 ngày sau đẻ
16
- Rối loạn thân nhiệt: gồm tăng thân nhiệt hoặc hạ thân nhiệt
+ Tăng thân nhiệt khi nhiệt độ hậu môn > 37 độ 8
+ Hạ thân nhiệt khi nhiệt độ hậu môn < 36 độ 5
- Khó thở: trẻ đuợc xem là khó thở khi tần số thở > 60 l/phút
- Thời gian chuyển dạ:
+ Chuyển dạ kéo dài ở người đẻ con so: > 36 giờ
+ Chuyển dạ kéo dài ở người đẻ con rạ: > 24 giờ
+ Chuyển dạ bình thường:
. < 24 giờ ở người đẻ con rạ
. < 36 giờ ở người đẻ con so
- Thời gian ối vỡ:
+ Ối vỡ sớm: thời gian vỡ ối > 6 giờ
+ Bình thường: thời gian vỡ ối < 6 giờ
2.2.5. Sơ đồ nghiên cứu:
17
Nhà hộ sinh
Mẹ
Con
Nghiên cứu mô tả:
- Tuổi mẹ
- Trình độ văn hóa
- Nghề nghiệp
- Tiền sử sản khoa
-
Tiền sử bệnh lý mẹ
trong quá trình thai
Nhận xét:
- Mẹ ở độ tuổi 26-35 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất với 46,93%
- Chỉ có ít bà mẹ ở độ tuổi < 18 với tỉ lệ 1,68% ( 3 người)
19
3.1.2. Trình độ học vấn
Bảng 3.2.Trình độ học vấn mẹ của mẫu nghiên cứu
Trình độ học vấn mẹ n %
Tiểu học 44 24,58
Trung học cơ sở 86 48,04
Trung học phổ thông 35 19,55
Đại học 14 7,82
Biểu đồ 3.2. Trình độ học vấn của mẹ
Nhận xét:
- Mẹ có trình độ đại học có tần suất thấp nhất 7,82%
- Mẹ có trình độ cấp hai (48,04%) chiếm tần suất cao nhất trong mẫu
nghiên cứu
20
3.1.3. Nghề nghiệp
Bảng 3.3. Nghề nghiệp mẹ của mẫu nghiên cứu
Nghề nghiệp mẹ Số bà mẹ %
Làm ruộng 54
30,17
Giáo viên 15
8,38
CNVC ngoài giáo viên 17
9,50
Buôn bán 79
44,13
Lao động chân tay 9
5,03
Chuyển dạ bình thường 177 98, 9
Chuyển dạ kéo dài
≥ 24 g con so 1 0.56
≥ 36 g con rạ 1 0.56
Thời gian ối vỡ > 6 g 161 89,94
< 6g 18 10,05
Nhiễm trùng đường tiểu dưới 2 1,12
Viêm âm đạo – âm hộ - Cổ tử cung 1 0,56
Bình thường 176 98,32
Nhận xét:
- Phần lớn các bà mẹ đều có thời gian chuyển dạ bình thường, chỉ
1% chuyển dạ kéo dài
- Phần lớn các bà mẹ có thời gian vỡ ối > 6 giờ
- Phần lớn các bà mẹ không bị mắc bệnh trong quá trình mang thai.
Chỉ có 1,68% mẹ có nhiễm trùng đường tiểu và viêm nhiễm âm đạo- âm hộ
3.2. TẦN SUẤT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC CỦA CON VÀ
MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN GIỮA MẸ VÀ CÂN NẶNG CON
3.2.1. Tuổi thai
Bảng 3.6. Sự phân bố tuổi thai của mẫu nghiên cứu
23
Con Số bà mẹ %
Tuổi thai
< 37 tuần 1 0,56
38 – 42 tuần
178 99,44
≥ 42 tuần
0 0,00
Tổng cộng
179 100
Nhận xét:
3-7 điểm 9 5,03
Tổng Cộng 179 100
Nhận xét:
- 94,97% trẻ sơ sinh có chỉ số Apgar ở phút thứ 1 là ≥ 8, và không có
trẻ nào chỉ số Apgar lúc 1 phút < 3
25