một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh tay-chân-miệng và các biện pháp phòng chống đã triển khai tại hà nội năm 2011 - Pdf 23

1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ HẢI HÀ
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC BỆNH
TAY CHÂN MIỆNG VÀ CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG
ĐÃ TRIỂN KHAI TẠI HÀ NỘI NĂM 2011

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA
KHÓA 2006 - 2012
Hà Nội - 2012
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ HẢI HÀ
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC BỆNH
TAY CHÂN MIỆNG VÀ CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG
ĐÃ TRIỂN KHAI TẠI HÀ NỘI NĂM 2011

Chuyên ngành: Y học dự phòng
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Tiến sỹ: Hoàng Đức Hạnh
Thạc sỹ: Nguyễn Trọng Tài
Hà Nội - 2012
3
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ADN Acid Deoxyribo Nucleic
ARN Acid Ribonucleic
BCĐ Ban chỉ đạo
BN Bệnh nhân

luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Đào tạo đại học đã tạo
mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin cảm ơn các cô, chú và các anh chị công tác tại Trung tâm y tế dự
phòng Hà Nội, Sở y tế Thành phố Hà Nội đã có những hỗ trợ cần thiết đối với
tôi trong quá trình thu thập số liệu và thực hiện khóa luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, những người đã luôn cổ vũ, động
viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện khóa luận này.
Sau cùng tôi xin dành tình cảm và lòng biết ơn vô hạn tới gia đình đã
luôn chia sẻ những thuận lợi cũng như khó khăn trong quá trình học tập và
hoàn thành khóa luận.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 28 tháng 05 năm 2012
6
Sinh viên
Nguyễn Thị Hải Hà

LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đã thực hiện khóa luận một cách khoa học, chính xác
và trung thực. Các kết quả, số liệu trong khóa luận đều có thật và chưa được
đăng tải trên tài liệu khoa học nào.
Em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Hà Nội, ngày tháng năm 2012


7
8
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh tay chân miệng là bệnh chủ yếu do vi rút đường ruột gây ra
thường xuất hiện ở trẻ dưới 10 tuổi và có thể xảy ra đối với người lớn. Vi rút

thành một vấn đề thời sự gây nhiều hoang mang cho người dân.
Tại Hà Nội, tình hình dịch bệnh tay chân miệng đang diễn biến phức
tạp với tỷ lệ mắc cao trong 2 năm gần đây. Hiện tại chưa có nghiên cứu nào
về tình hình dịch tễ bệnh tay chân miệng tại Hà Nội. Vì vậy chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài:  !" #$%#
"&!"'&''()*+ ,-./001.
Mục tiêu:
02 3!" %",4
-./002
.2 3&!"'&''(!" %")*+ 
,-./002
10
CHƯƠNG 1
TỐNG QUAN
1.1 Dịch tễ học bệnh Tay Chân Miệng
5 !"
1.1.1.1 Định nghĩa ca bệnh
- Ca bệnh lâm sàng: Trẻ em dưới 15 tuổi với các biểu hiện:
+ Sốt (trên 37,5°C)
+ Loét miệng (vết loét đỏ hay mọng nước đường kính 2-3 mm ở niêm
mạc miệng, lợi, lưỡi) và/hoặc phỏng nước ở lòng bàn tay, lòng bàn chân,
vùng mông, đầu gối.
- Ca bệnh xác định: Các trường hợp có triệu chứng lâm sàng và xét
nghiệm dương tính với virus (Coxsackievirus A từ 2 đến 8, 10, 12, 14, 16;
Coxsakievirus B 1, 2, 3, 5; Enterovirus 71) [2].
1.1.1.2 Chẩn đoán phân biệt.
Triệu chứng
bệnh
Tay chân
miệng

Chùm mụn
nước to nhỏ
không đều +
hạch ở cổ,
Mụn nước sẽ
vỡ, chảy
dịch, đóng
mày và lành
11
dục, khi lành
không thành
sẹo
trong lẫn đục
(mủ) do bội
nhiễm vi
khuẩn
nách, bẹn
cùng bên
sẹo
Cảm giác Không đau,
không ngứa
Ngứa, đau
nhức rất khó
chịu
Ngứa, đau
nhức rất khó
chịu
Ngứa, rát
mạch và phù phổi [15], [17].
13
%%!"
Tác nhân gây bệnh chính là virus nhóm Enterovirus (virus đường ruột)
gây bệnh ở người, thuộc họ Picornaviridae. Các virus này bao gồm virus bại
liệt, virus Coxsackie, Echovirus và các tác nhân mới được phát hiện gọi
chung là Newer enterovirus. Tuy nhiên hay gặp nhất là Coxsakievirus A16 và
Enterovirus 71 hoặc một loại virus khác thuộc nhóm Enterovirus [15], [16],
[27], [33].
602.76ABC0*+D"E
Coxsakie virus và EV71 đều là nhưng virus nhỏ có cấu trúc đối xứng
hình khối đa giác đều 20 mặt, kích thước 20-30 nm, trong đó có chứa acid
nucleic là chuỗi đơn ARN không vỏ bọc. Thành phần hạt virus bao gồm acid
nucleic chiếm 20-30% khối lượng, còn 70-80% là protein, không có glucid và
lipid. Các virus này tồn tại được ở PH dao động từ 2-10, ete, cồn nhưng bị bất
hoạt ở 50
o
C, fomon, chất oxy hóa mạnh [15].
Coxsakie virus lần đầu tiên được phân lập trong phân người tại thị trấn
Coxsakie, New York, năm 1948 bởi G.DallDorf. Virus Coxsakie được phân
14
thành 2 nhóm A và B. Nhóm A (24 chủng) gây hoại tử cơ và tử vong, virus
typ A16 là nguyên nhân liên quan trong phần lớn các ca tay chân miệng [15].
Tuy nhiên, một số chủng khác cũng gây bệnh bao gồm Coxsakie typ huyết
thanh A5, A7, A9, A10. Coxsackievirus nhóm B (6 chủng) gây tổn thương
nội tạng nhưng thường nhẹ hơn, typ B1, B2, B3, B5 cũng là nguyên nhân gây
bệnh tay chân miệng [16]. Cả virus Coxsakie nhóm A và B đều có thể gây
viêm màng não, viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim nhưng thường ít gặp.
Bệnh nhân tay chân miệng do Coxsakie A16 thường gặp nhất: theo nghiên
cứu của Yang ZH và cộng sự năm 2002 thấy rằng căn nguyên chủ yếu gây vụ

phỏng nước nhiều lứa tuổi, nhiều hình thái khác nhau, kích thước to hơn.
$FG!"
Nhiễm trùng thông thường xảy ra qua con đường phân miệng, hoặc qua
đường tiếp xúc trực tiếp với tổn thương da và chất tiết ở miệng. Sau khi
nhiễm, virus được nhân lên trong các tế bào niêm mạc và các tổ chức lympho
của đường hô hấp trên và đường tiêu hóa. Trong giai đoạn này virus được đào
thải qua phân và chất tiết đường hô hấp trên. Thời gian ủ bệnh khoảng 3-10
ngày [4].
Sau giai đoạn phát triển tại ống tiêu hóa, một số virus sẽ xâm nhập vào
máu gây nhiễm virus máu và từ đó lan tỏa đến các cơ quan đích như da, tim,
hệ thần kinh trung ương.
Nghiên cứu mô bệnh học cho thấy sự hoại tử tế bào và tổn thương thâm
nhiễm các tế bào đơn nhân đối với hệ thần kinh trung ương, các tế bào tổn
thương tập trung ở phần lớn ở quanh mạch máu. Tổn thương các tổ chức đầu
tiên thông qua quá trình phân hủy tế bào do sự nhân lên của virus [4].
16
Khi các triệu chứng xuất hiện thường không phát hiện được virus
huyết, nhưng sự kết thúc quá trình nhân lên của virus bắt đầu xảy ra khi có sự
lưu hành của Interferon, kháng thể trung hòa và thâm nhiễm tế bào đơn nhân
của các tổ chức bị thương. Đáp ứng kháng thể sớm chủ yếu là globulin miễn
dịch IgM đặc hiệu, thường giảm trong vòng 6-12 tuần sau khi bệnh khởi phát
và được thay thế bởi kháng thể đặc hiệu IgG [4].
Mặc dù tổn thương các tổ chức đầu tiên là hậu quả của tác dụng phá
hủy tế bào của virus ta có thể phát hiện được nhờ sự phân lập virus và phát
hiện sự thay đổi hiệu giá kháng thể bằng các phương pháp thông thường. Các
biểu hiện thứ phát tiếp theo là sự đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào với
virus, hoặc với kháng nguyên của virus tồn tại trong tổ chức bị thương: như
viêm cơ tim, viêm cơ do Enterovirus được phát hiện thấy ARN trong các tổ chức
trước tiên nhờ các bằng chứng về huyết thanh và thông qua ADNc [4], [17].
Các nhiễm trùng do typ huyết thanh đặc hiệu ở trẻ có hệ miễn dịch bình

nhiễm phát triển thành bệnh thay đổi từ 2-100% tùy thuộc typ huyết thanh và
các chủng gây nhiễm, tình trạng miễn dịch sẵn có và tuổi của bệnh nhân [3].
Mặc dù mọi lứa tuổi đều có khả năng nhiễm EV nhưng theo các nghiên cứu
và sự giám sát dựa trên các quần thể trong các vụ dịch đã chứng minh tỷ lệ
nhiễm bệnh ở trẻ dưới 4 tuổi cao gấp nhiều lần so với trẻ lớn, nam có nguy cơ
mắc bệnh cao gấp đôi nữ [21], [24], [26], [32].
Nhiễm trùng thứ phát của những người trong gia đình hay xảy ra và
chiếm tỷ lệ cao từ 40%-70% phụ thuộc và độ lớn của gia đình, mức độ chật
chội, điều kiện vệ sinh [4]. Theo nghiên cứu của Luan-Yin Chang và các cộng
18
sự thì tỷ lệ lây của các trẻ sống cùng trong gia đình là 84%, đặc biệt trẻ dưới 6
tuổi có nguy cơ lây nhiễm cao (96%) và tỷ lệ nam/nữ là 112/71 [25].
Theo các nghiên cứu về dịch tễ học lâm sàng của bệnh tay chân miệng
cho thấy rằng dịch bệnh có xu hướng theo mùa, thường gặp trong mùa hè-đầu
thu gần đây lại có xu hướng tăng vào mùa đông-xuân, tuy nhiên vẫn có những
ca lẻ tẻ mắc trong năm [23], [24], [27].
Đường lây truyền hay gặp nhất được coi là lây trực tiếp hay gián tiếp
qua đường phân miệng. Sau khi xâm nhập, virus tồn tại ở hầu họng trong vòng 1
đến 4 tuần, và chúng được đào thải qua phân trong vòng 1 đến 18 tuần.
Bệnh thường xảy ra ở trẻ dưới 10 tuổi. Theo Ho M và cộng sự đã phân
tích ca mắc tay chân miệng trong vụ dịch ở Đài Loan năm 1998 cho thấy tuổi
thường gặp là dưới 5 [18].
Tai Anh trong vụ dịch năm 1994 có 952 ca mắc trong đó hầu hết bệnh
nhân có độ tuổi từ 1-4 [12]. Tại Singapore các vụ dịch xảy ra từ năm 2001
đến 2007 thì tỷ lệ trẻ trong độ tuổi từ 0-4 là khoảng 62%-74% [24].
Tại Việt Nam, bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi, đặc biệt là dưới 3
tuổi. Những cá thể trong cùng gia đình, hoặc tiếp xúc gần gũi với trẻ bị bệnh
cũng có nguy cơ lây nhiễm bệnh như học chung lớp nhà trẻ mẫu giáo. Một số
báo cáo thống kê cho thấy không có sự khác biệt giữa 2 giới nam và nữ [9].
Bệnh hay gặp vào cuối hè-đầu thu, tỷ lệ mắc tăng cao ở các tỉnh phía

·.//C7 Vụ dịch lớn nhất của bệnh TCM tại Ấn Độ xảy ra năm 2007 tại
phía đông của quốc gia Tây Bengal. Các tác giả tìm thấy 38 ca bị bệnh TCM
ở khắp Kolkata.
·.//M7 Một vụ dịch diễn ra tại Trung Quốc, bắt đầu từ tháng 3 tại
Fuyang, Anhui, dẫn đến 25.000 ca nhiễm và 42 trường hợp tử vong vào ngày
20
13 tháng 5. Các vụ dịch khác tương tự được báo cáo tại Singapore (hơn 2.600
ca vào ngày 20 tháng 4 năm 2008), tại Việt Nam (2.300 ca, 11 trường hợp tử
vong), Mongolia (1.600 ca) và tại Brunei (1.053 ca từ tháng 6 đến tháng 8
năm 2008).
·.//L7 17 trẻ chết trong một vụ dịch từ tháng 3 đến 4.2009 tại tỉnh
Shandong, Trung Quốc và 18 trẻ chết tại tỉnh láng giềng Henan. Trong số
115.000 ca báo cáo tại Trung Quốc từ tháng 1 đến tháng 4. 2009, có đến 773
ca nhiễm trùng nặng và 50 trường hợp tử vong. Tại Indonesia, nơi mà bệnh
thường được gọi là cúm người Singapore (Singaporean influenza) hoặc flu
Singapura, bệnh được báo cáo tại vùng Jakarta, bắt đầu với 8 đứa trẻ nhỏ bị
mắc. Vào cuối tháng 4, các cơ quan y tế tại Jakarta đã cảnh báo các trung tâm
y tế công động và đưa ra các bước dự phòng bệnh, bao gồm việc sử dụng các
máy quét kiểm tra thân nhiệt (thermal scanners) tại các sân bay và tránh du
lịch đến Singapore.
·./0/7 tại Trung Quốc, một vụ dịch xảy ra tại phía nam khu tự trị
Guangxi Trung Quốc cũng như tại Guangdong, Henan, Hebei và Shandong.
Đến tháng 3, có đến 70.756 trẻ em mắc bệnh và trong số đó có đến 40 ca tử
vong [11].
Năm 2011, bệnh tay chân miệng có xu hướng tăng cao tại nhiều nước
trên thế giới. Theo thông báo ngày 25/10/2011 của Tổ chức y tế thế giới khu
vực Tây Thái Bình Dương bệnh tay chân miệng vẫn đang tiếp tục được ghi
nhận tại Nhật Bản, Ma Cao (Trung Quốc), Trung Quốc, Singapore, Hàn
Quốc. Một số nước có tỷ lệ mắc cao là:
- Singapore: đã ghi nhận 15.254 trường hợp mắc tay chân miệng, tỷ lệ

đặc biệt tập trung ở nhóm tuổi dưới 3 tuổi. Các yếu tố sinh hoạt tập thể như
22
trẻ đi học tại nhà trẻ, mẫu giáo, đến các nơi trẻ chơi tập trung là các yếu tố
nguy cơ lây truyền bệnh, đặc biệt là trong các đợt bùng phát.
Từ đầu năm 2011 đến tháng 11/2011, cả nước đã ghi nhận 90.189
trường hợp mắc tay chân miệng tại 63 địa phương, trong đó có 153 trường
hợp tử vong tại 28 tỉnh thành phố; tỷ lệ mắc /100.000 dân cả nước là 100,8.
Miền Bắc 35,3 ; miền Trung 113,7; miền Nam 173,7; Tây Nguyên: 98,2.
N80207!"%E==!"$,:O*=KP
Q0R./00G00R./002
Theo biểu đồ diễn biến tình hình dịch tay chân miệng từ tháng 1-11-
2011, dịch đã đạt cao nhất vào tháng 9 và đang có xu hướng giảm vào tháng
10, tháng 11[1].
23
N802.7S%!!"%T$9B" >=U Q
0R./00#00R./002
Năm 2011 tăng cao hơn so với năm 2010 và đỉnh cao nhất là tháng 9,
tháng 11 có xu hướng giảm, tuy nhiên vẫn có nguy cơ duy trì số mắc và tử
vong cao [1].
1.1.6.3 .Tại Hà Nội
Thủ đô Hà Nội nằm chếch về phía tây bắc của trung tâm vùng đồng bằng
châu thổ sông Hồng. Hà Nội tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở
phía Bắc, Hà Nam, Hòa Bình phía Nam, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên
phía Đông, Hòa Bình cùng Phú Thọ phía Tây.
Với diện tích: 33447000 km2 và dân số: 6232940 người.
Bao gồm 29 quận, huyện, thị xã; 577 xã, phường, thị trấn.
Khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho vùng Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậu
nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa.
Theo báo cáo tại Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội về tình hình mắc và
tử vong do tay chân miệng giai đoạn từ 2003 – 2011, trong 7 năm tình hình

- Cách ly trẻ bệnh tại nhà. Không đến nhà trẻ, trường học, nơi các trẻ
chơi tập trung trong 10-14 ngày đầu của bệnh [2].
• Biện pháp dự phòng cụ thể:
 Tuyên truyền giáo dục rộng rãi trên các phương tiện thông tin truyền
thông đại chúng, nhất là ở nhà trẻ, mẫu giáo về tầm quan trọng của giữ
gìn vệ sinh, như vệ sinh răng miệng, rửa tay trước, sau khi nấu ăn,
chuẩn bị thức ăn, sau khi đi vệ sinh, đặc biệt mỗi lần thay tã cho trẻ, ăn
chín, uống sôi.
 Vệ sinh phòng dịch: Trẻ mắc bệnh không đến lớp đến khi hết loét
miệng và các phỏng nước. Khi có từ 2 trẻ trở lên trong một lớp bị mắc
tay chân miệng trong vòng 7 ngày, thì cho lớp học nghỉ 10 ngày kể từ
ngày khởi bệnh của ca cuối cùng.
 Khi trẻ đến lớp có sốt, loét miệng, phỏng nước phải thông báo cho gia
đình và cơ quan y tế.
 Làm sạch dụng cụ học tập, đồ chơi và các dụng cụ khác bằng
Chloramin B 2%. Dụng cụ ăn uống như bát, đũa, cốc… ngâm, tráng
nước sôi trước khi ăn, sử dụng [11].
02.2.N"'&'
Phải tiến hành xử lý ngay trong vòng 48 giờ khi phát hiện trường hợp
bệnh/ổ dịch.
• Các biện pháp chung
- Sở Y tế tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
tiếp chỉ đạo, huy động nguồn lực và các ban, ngành, đoàn thể triển khai các
biện pháp phòng, chống dịch tại địa phương
- Quản lý và điều trị bệnh nhân sớm theo hướng dẫn chẩn đoán, điều
trị bệnh tay chân miệng ban hành kèm theo Quyết định số 2554/QĐ-BYT

Trích đoạn Phân bố theo thời gian
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status