PHẨM CHẤT ĐẶC TRƯNG CỦA TRÍ THỨC VIỆT NAM TIÊU BIỂU - Pdf 28

Tìm hiểu phẩm chất đặc trưng của người trí thức Việt
Nam tiêu biểu
PHẠM THƯỜNG KHANH - PHẠM LINH THÀNH
T
heo tiếng Latinh, thuật ngữ intelligentia - trí thức chỉ những người có hiểu
biết, có tri thức, tầng lớp xã hội này bao gồm những người chuyên lao động
trí óc, có trình độ chuyên môn cao.
V. I. Lênin viết, “Tôi dịch người trí thức, tầng lớp trí thức theo ngữ nghĩa Đức
là Literat, Literatentum bao gồm không chỉ các nhà văn hóa học mà là tất cả
những người có văn hoá, những người làm nghề tự do nói chung, những đại
biểu của lao động trí óc (brain worker - như người Anh nói) để phân biệt với
những đại biểu của lao động chân tay”(1). Trong Bách khoa toàn thư của Pháp,
Tập X có giới thiệu khái niệm intellectuel - trí thức, như sau: “Trí thức là một
phạm trù lịch sử. Ở mỗi nước khác nhau, khái niệm trí thức có khác nhau.
Trong đời sống xã hội, trí thức có vị trí nhất định. Họ có thể có thái độ đơn
thuần “trùm chăn”, cũng có thể tích cực dấn thân vào hoạt động chính trị.
Người ta có thể nói trí thức là kỹ sư, quan chức, nhà phản biện xã hội tâm lý
học, nhà hoạt động chính trị, nhà cách mạng. Trong xã hội ổn định, trí thức có
thể là quan chức của chế độ hiện hành, trong xã hội khủng hoảng, họ có thể trở thành nhà lý luận cách mạng,
trong xã hội buồn thảm, thậm chí họ bị coi là kẻ bung xung”(2). Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Trí
thức: tầng lớp xã hội làm nghề lao động trí óc, trong đó bộ phận chủ yếu là những người có học vấn cao, hiểu
biết sâu rộng về chuyên môn của mình, có sáng tạo và phát minh”(3).
Ở các nước Phương Tây, người ta hay dùng thuật ngữ “người trí thức” chứ không dùng thuật ngữ “tầng lớp trí
thức”. Ở nước ta, thuật ngữ “trí thức”, “tầng lớp trí thức” chỉ mới xuất hiện vào khoảng những năm 1930 cùng
với sự xuất hiện thuật ngữ “giai cấp” và “đấu tranh giai cấp” và do quan niệm ấu trĩ của thời đó, trí thức bị
xếp vào thành phần giai cấp tiểu tư sản, với những thuộc tính trung gian, lừng chừng, dễ ngả nghiêng… Nhưng
trên thực tế mấy chục năm qua, ở nước ta đã xuất hiện nhiều trí thức tiêu biểu, bằng tài năng và phẩm chất cao
đẹp của mình, họ đã có những đóng góp rất quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và phát
triển xã hội, được những người cùng giới và xã hội tôn vinh gọi là “sĩ phu thời nay” (sĩ phu - người trí thức có
danh tiếng trong xã hội phong kiến), hoặc gọi là “kẻ sĩ thời nay” (kẻ sĩ - người có học vấn và khí tiết, “sĩ khả
lục bất khả nhục”, tức là kẻ sĩ có thể giết được chứ không thể làm nhục được). Chúng tôi cho rằng những thuật

dân tộc, do đó phải dấn thân vào đại cuộc, không thể đứng ngoài.
Trước đây, nhiều nho sĩ chân chính đã luôn luôn có mặt bên cạnh những người anh hùng trong các sự nghiệp
giải phóng dân tộc, như Nguyễn Trãi bên cạnh Lê Lợi, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp bên cạnh Quang Trung…
và một Nguyễn Hữu Huân đầy bi kịch nhưng vẫn tự giác dấn thân vì đại cuộc: “Việc lớn không thành, báo chúa
cũng đành liều một chết/ Lòng ngay khó tỏ, miệng đời luống để luận trăm năm”… Thời kỳ chống thực dân
Pháp, đất nước ta có Trần Đại Nghĩa, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Hữu Tước, Đặng Văn Chung, Nguyễn Văn
Huyên, Lê Văn Thiêm… sẵn sàng từ bỏ cuộc sống giàu sang ở nước ngoài, theo Hồ Chí Minh về nước, dấn
thân vào con đường đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước. Ở Miền Nam, thời kỳ trước năm 1975 có
Nguyễn An Ninh, Dương Bạch Mai, Ung Văn Khiêm, Bùi Công Trừng, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Hữu Thọ…,
những người hoàn toàn có thể có địa vị cao sang trong chính quyền thuộc địa nhưng họ đã tình nguyện từ bỏ để
dấn thân vào cuộc đấu tranh chung của dân tộc. Như vậy là cái ý thức “xem mọi việc trong trời đất cũng là việc
của mình” khiến cho người trí thức luôn luôn mong muốn tìm hiểu sự thật, nói lên sự thật, chỉ ra được những
khiếm khuyết, sai lầm trong thực tế và họ thường có ý kiến phản biện, phê bình đồng thời dấn thân vào đại cuộc
nhằm góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn. Nghiên cứu thân thế và sự nghiệp của một số trí thức tiêu biểu
ở nước ta thấy rất rõ những phẩm chất đặc trưng này.
GS Hoàng Tụy - Ảnh: internet
1. Giáo sư, tiến sĩ Hoàng Tụy, nhà toán học lớn nhất của nước ta, một nhà toán học có tên tuổi trên thế giới, đã
có những đóng góp quan trọng trong nhiều lĩnh vực toán học hiện đại và được giới toán học thế giới coi là “cha
đẻ của ngành Tối ưu toàn cục”; ông không chỉ là “nhà toán học từng trải mà còn là nhà khoa học có tầm nhìn
toàn cầu”, là “một trong những nhà toán học xuất sắc của thời đại chúng ta”, “đang tiếp tục ảnh hưởng đến
Việt Nam, châu Á và thế giới thông qua khả năng xuất chúng cũng như nhân cách nồng hậu của mình”. Có thể
nói trong cuộc đời và sự nghiệp của nhà trí thức lớn này, ngoài những tài năng mà ông cống hiến cho nền toán
học nước nhà và nền toán học thế giới, ta có thể thấy được thật rõ nét nhân cách cao đẹp của ông.
Vào năm 1963, trong khi ông cùng nhà toán học Lê Văn Thiêm triển khai và thực hiện hàng loạt chủ trương bồi
dưỡng chuyên môn cho cán bộ giảng dạy, thành lập Hội Toán, chấn chỉnh thi cử, tổ chức các hội nghị khoa học,
mở lớp toán đặc biệt cho những học sinh có năng khiếu ở Khoa Toán Đại học Tổng hợp, đang thu được những
kết quả (mà chuyên gia nước ngoài ngạc nhiên), thì một số người, do ghen ghét đố kỵ đã tố cáo các ông là
“chèn ép công nông”, “thiên tài chủ nghĩa”, “coi nhẹ chính trị”. Thời kỳ này, trong nhóm lãnh đạo đại học, có
ông Tạ Quang Bửu là người ủng hộ các ông về những việc làm đó nhưng ông Bửu bị cô lập. Trong 5 năm liền,
Hoàng Tụy và nhà toán học Lê Văn Thiêm phải sống trong bầu không khí ngột ngạt, căng thẳng, ban ngày dạy

quản lý. Đặc biệt là trong thời gian chuẩn bị Đại hội VII, ông đã viết thư gởi
ông Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc, góp ý cho Đảng về các văn
kiện dự thảo và gửi lên Quốc Hội một bản kiến nghị (bản điều trần 7 điểm)
nhằm cải thiện tình hình đất nước lúc đó có dấu hiệu khủng hoảng. Không ngờ rằng có người lãnh đạo đã đáp
lại bằng cách phê phán ông trong một số hội nghị học tập nghị quyết và xếp ông vào loại “trí thức có vấn đề cần
phải cảnh giác”, tuy nhiên, ông không hề nao núng.
Nguyễn Khắc Viện còn là một trí thức có trái tim thương nước lo đời Năm 1992, khi nhận Giải thưởng lớn của
Chính phủ Pháp khoảng 80.000 USD, ông đã tặng hết số tiền này cho Trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em. Có
thể nói, suốt đời Nguyễn Khắc Viện phải trả giá cho sự dấn thân quyết liệt của mình. Với kẻ thù thực dân Pháp
thì ông bị chúng truy lùng, nên nhiều năm phải sống chui lủi rồi bị trục xuất ra khỏi Pháp do những hoạt động
chống lại nhà cầm quyền; trong nội bộ, trong hàng ngũ của mình thì ông bị một số người bảo thủ, cơ hội nghi
kỵ, đả kích vì chính kiến của ông trái với quan niệm và mong muốn của họ. Có thể nói thái độ trung thực, dũng
cảm dám nói thẳng những suy nghĩ, những chính kiến độc đáo của mình trước những vấn đề trọng đại có liên
quan đến vận mệnh đất nước trong nhiều năm dài của một thời kỳ đầy biến động gay gắt của dân tộc, là sự dấn
thân quyết liệt của Nguyễn Khắc Viện. Nhưng cuối cùng thì sự đả kích, bôi xấu
dạo ấy cũng như những đám mây đen trôi qua. Tổng bí thư Đỗ Mười đã đến
thăm ông, hoan nghênh những đóng góp của ông và hứa giải toả những dư luận
sai lầm về ông; Chủ tịch nước cũng đã trao tặng Giải thưởng Nhà nước về khoa
học nghệ thuật và Huân chương Độc lập hạng nhất cho ông. Dấn thân vào sự
nghiệp chung dù phải chịu oan khuất, thiệt thòi, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đã
tiếp nối một cách xứng đáng truyền thống cương trực “trung quân ái quốc”, lo
nước thương đời của các kẻ sĩ, sĩ phu trong lịch sử nước ta.
3. Nhà thơ Lê Đạt - một trong những chủ soái của Nhân văn Giai phẩm, Giải
thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật - cũng được giới trí thức nước ta suy
tôn là một kẻ sĩ hiện đại.Trong quá trình tìm hiểu nhà trí thức này, tôi thật sự bất
BS Nguyễn Khắc Viện - Ảnh:
internet
Nhà thơ Lê Đạt - Ảnh: internet
ngờ vì được biết ông đã từng là phái viên của cố Tổng Bí thư Trường Chinh từ năm 1949, khi ông 20 tuổi, từng
được phái từ Ban Tuyên huấn sang Hội Văn nghệ làm trợ lý cho nhà thơ Tố Hữu và là người khởi xướng ra

Trần Đại Nghĩa, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Hữu Tước, Trần Đức Thảo, Lê Văn Thiêm… Có khá nhiều câu
chuyện cảm động về mối quan hệ thân thiết, về sự cầu thị của vị lãnh tụ tối cao đối với các trí thức. Người đã
lắng nghe ý kiến phản biện rất thẳng thắn và quyết liệt về chính sách của Đảng và Nhà nước, những dự báo và
cảnh báo về nguy cơ suy thoái của một đảng và nhà nước cầm quyền từ phía Gs. Hoàng Xuân Hãn, từ Ts. Luật
sư Nguyễn Mạnh Tường… và các trí thức nổi tiếng này vô cùng nể trọng thái độ thân tình và thật sự cầu thị của
Người. Sau này Đảng ta cũng đã ban hành “Chính sách của Đảng Lao động Việt Nam đối với trí thức”, công bố
ngày 29/8/1957, nêu rõ: “Trí thức là vốn quý của dân tộc. Không có trí thức hợp tác với công nông thì cách
mạng không thể thành công và sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam mới không thể hoàn thành được”. Tuy
nhiên, trên thực tế cũng đã có những sự kiện đáng tiếc đối với trí thức nước ta trong điều kiện Đảng cầm quyền,
đó là vụ “Nhân văn Giai phẩm” và một số vụ đáng tiếc đối với một số trí thức nổi tiếng khác mà gần đây Đảng
và Nhà nước ta đã sửa sai (Trao giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học cho Giáo sư toán học Lê Văn Thiêm và
Giáo sư triết học Trần Đức Thảo; trao Giải thưởng Nhà nước về khoa học và tặng Huân chương Độc lập hạng
nhất cho bác sĩ Nguyễn Khắc Viện; trao giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật cho ba vị chủ soái của
Nhân Văn Giai Phẩm là nhà thơ Lê Đạt, nhà thơ Trần Dần và nhà thơ Hoàng Cầm cùng với những trí thức nổi
tiếng khác, về những đóng góp to lớn của họ cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc).
Như vậy có thể thấy rõ rằng bản chất của trí thức là tính độc lập sáng tạo rất cao. Người trí thức không lệ thuộc
vào những hiểu biết cũ, giáo điều mà còn vượt lên cái cũ để sáng tạo nên những tri thức mới, tiên tiến. Ý kiến
của trí thức vì vậy có tính phản biện cao và tính trung thực, dũng cảm, luôn dấn thân vì sự tiến bộ xã hội là
phẩm chất đặc trưng của họ. Vì vậy trong công tác lãnh đạo, người lãnh đạo phải thực sự cầu thị, phải tôn trọng
tính độc lập của trí thức, coi trọng ý kiến đóng góp của trí thức đồng thời phải có tinh thần bao dung, tránh định
kiến, hẹp hòi, đố kỵ. Mặt khác những người lãnh đạo cũng phải phấn đấu tự mình trở thành trí thức, như Hồ Chí
Minh đã từng nói: “Công nông trí thức hóa”, hoặc nói như nhà chính trị - nhà vănhoá Trần Bạch Đằng, “người
cộng sản phải hoá thân thành người trí thức, thành người khoa học” (Khoa học và sự hóa thân của người cộng
sản - Tạp chí Tổ quốc) mới có thể gánh vác và hoàn thành tốt sứ mạng của mình trong thời đại tri thức ngày
nay. Đảng phải phấn đấu thành một Đảng trí thức, tôn trọng tính độc lập, tôn trọng những cái khác trong những
ý kiến của trí thức với thái độ cởi mở, bao dung, cầu thị, bình đẳng. Về phía trí thức, ngoài việc không ngừng
nâng cao học vấn, bồi đắp tài năng, phải luôn luôn đề cao tính trung thực, dũng cảm và dám dấn thân vì sự
nghiệp cách mạng của dân tộc.
10/2010
P.T.K - P.L.T


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status