Những đặc trưng cơ bản của thi pháp ca dao Việt Nam
—————
I/.Khái niệm thi pháp văn chương
_ Khái niệm thi pháp văn chương nói chung:
Thi pháp là cơ chế vận hành ngôn ngữ, tạo nên vẻ đẹp của tác phẩm văn học . Khoa học này được áp dụng trong cả VH
viết và VH dân gian.
_ Khái niệm thi pháp của một thể loại nói riêng:
Thi pháp VHDG là toàn bộ ngững đặc điểm về hình thức nghệ thuật, về phương thức và thủ thuật mieu tả, biểu hiện, về
cách
cấu tạo đề tài, cốt truyện về phương pháp xây dựng hình tượng con người hay sự vật
II/.Những đặc trưng cơ bản của thi pháp ca dao VN
1).Đặc trưng của cái tôi trữ tình trong ca dao:
Được thể hiện qua cách xưng hô nhằm định vị đối tượng giao tiếp và là phương tiện biểu đạt tình cảm.
– Trong ca dao ta thường thấy những cách xưng hô như sau:·
Thiếp – chàng
Ai làm bầu bí đứt dây
Thiếp ở bên này, chàng ở bên kia
·
Đó – đây
Đó có đôi ngồi ăn một ngựa
Đây một mình biết dựa cùng ai
·
Bậu – qua
Bậu nói với qua, qua không bẻ lựu hái đào
Chớ đào đâu bọc, lựu nào bậu cầm tay
·
Tui – bạn
Thằn lằn chắc lưỡi mái rui
Từ tui xa bạn, lòng chẳng vui chút nào
_ Trong ca dao đại từ “tôi” vốn mang tính chỉ định cá thể cao, ít xuất hiện. Thế nhưng trong ca dao lại có nhiều mô hình
Gió dập, sóng dồi biết tắp vào đâu
Rủ nhau xuống biền bắt cua
Bắt cua cua kẹp, bắt rùa rùa bơi
Rủ nhau đi cấy đi cày
Bây giờ khó nhọc, mai này phong lưu
6). Thể thơ lục bát:
Được vận dụng một cách hồn nhiên, phóng túng và những biến thể của nó như đặc trưng riêng của ca dao.Câu tứ theo
lối ngẫu nhiên không có chủ đề nhất định, câu tứ theo lối đối thoại và theo lối phô diễn về thiên nhiên.
7). Ngôn từ:
Giản dị, chất phát, ngắn gọn, gần với lời nói trong sinh hoạt đời thường
Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Lời nói không có chọn lọc mà là lời giản dị, mang đậm tính khẩu ngữ. Tư tưởng tình cảm được bộc lộ một cách trực tiếp
thông qua lời nói, câu chữ trong ca dao.