-
1
-
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG ANH KHẢO SÁT
ĐẶC ĐIỂM CỦA CA DAO HÀ NAM
HOÀNG ANH
KHẢO SÁT
ĐẶC ĐIỂM CỦA CA DAO HÀ NAM Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Văn học dân gian
Mã số: 60.22.01.25 Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS Phạm Thu Yến
1.2. Vùng văn hoá và phân vùng văn hoá dân gian 16
1.3. Phân vùng văn học dân gian và phân vùng ca dao 20
1.4. Môi trường tự nhiên xã hội và lịch sử của vùng đồng bằng sông Hồng 22
1.5. Vài nét về văn học dân gian Hà Nam trong cái nhìn địa - văn hoá 24
1.6. Về mối quan hệ giữa tính thống nhất và sắc thái riêng của ca dao lưu
truyền ở Hà Nam so với ca dao vùng đồng bằng sông Hồng
28
1.7. Tiểu kết 32
Chương 2. KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG CỦA CA DAO
LƯU TRUYỀN Ở HÀ NAM TRÊN PHƯƠNG DIỆN NGÔN TỪ
34
2.1. Địa danh Hà Nam qua ca dao 34
2.2. Con người Hà Nam qua ca dao 52
2.3. Tiểu kết 64
Chương 3. KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA CA DAO
LƯU TRUYỀN Ở HÀ NAM TRÊN PHƯƠNG DIỆN NGÔN TỪ
66
3.1. Kết cấu 66
3.2. Ngôn ngữ 69
3.3. Thể thơ 78
3.4. Không gian và thời gian nghệ thuật 81
-
5
-3.5. Tính chất trào lộng 85
3.6. Tiểu kết 88
-
6
-
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Hà Nam là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng và vùng Bắc bộ rộng lớn, phía
bắc giáp Hà Tây (cũ), đông giáp Hưng Yên, Thái Bình, đông nam giáp Nam Định,
Ninh Bình. Địa hình của Hà Nam đa dạng, nằm trong vùng tiếp giáp giữa vùng đồng
bằng sông Hồng và dải đá trầm tích phía tây, vừa có đồng bằng, vừa có vùng bán sơn
địa và vùng trũng. Với địa hình đa dạng như vậy, Hà Nam cũng có một số lượng khá
lớn những tác phẩm văn học dân gian, gồm nhiều loại hình, thể loại khác nhau: truyền
thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, giai thoại, tục ngữ, phương ngôn, vè, ca dao…
Trong các thể loại văn học dân gian đó, ca dao là một thể loại tiêu biểu. Ca
dao Hà Nam phản ánh nội dung nhiều mặt cuộc sống của người dân, độc đáo
về nghệ thuật biểu đạt. Bên cạnh ngôn từ giàu sức biểu cảm, các làn điệu dân
ca Hà Nam: hát Dậm, hát Lải Lèn, hát giao duyên ngã ba sông Móng, hát
Trống quân trên thuyền…đã làm say đắm lòng người bao thế hệ.
Một phần văn học dân gian Hà Nam đã được các nhà văn hoá địa phương sưu
tầm, biên soạn, chú giải, giới thiệu qua một số công trình nghiên cứu. Song do nhiều
yếu tố cả khách quan và chủ quan, mà các nhà nghiên cứu, sưu tầm văn hoá dân
gian chưa đưa ra một “bức tranh” tổng thể, đa chiều về ca dao lưu truyền ở Hà Nam.
Nghiên cứu ca dao lưu truyền ở Hà Nam một cách toàn diện là một việc làm
công phu, cần thiết và rất có ý nghĩa. Nó giúp bạn đọc, đặc biệt là bạn đọc Hà Nam
có thêm những hiểu biết về quê hương mình, cảm thông được nỗi khổ niềm đau,
tình yêu, ước vọng của cha ông, bà con mình trong quá khứ; có cái nhìn toàn diện và
quan tâm đúng mức tới văn học dân gian Hà Nam nói chung, ca dao lưu truyền ở Hà
Nam nói riêng.
Là người con của quê hương Hà Nam giàu truyền thống văn hoá, là một giáo
viên đang trực tiếp giảng dạy ở Hà Nam, người viết mong muốn được tìm hiểu sâu
hơn, đầy đủ hơn ca dao lưu truyền ở Hà Nam, góp một phần nhỏ bé vào việc bảo
tồn, phát huy vốn văn hoá dân gian do cha ông mình sáng tạo nên.
Với những lý do trên tôi đã chọn vấn đề “Khảo sát đặc điểm của ca dao
Hà Nam” làm đề tài khảo sát cho luận văn của mình.
hát Dậm còn thể hiện khát vọng hạnh phúc, ca ngợi đời thường nên chất trữ tình là
âm hưởng chủ đạo trong nhiều làn điệu. Nằm ở lưu vực sông Châu, dân ca ngã ba
sông Móng mang đặc điểm chung của dân ca đồng bằng Bắc bộ và đặc điểm riêng
của vùng chiêm trũng Hà Nam. Những làn điệu dân ca này có cội nguồn từ hát đối,
về sau chất trữ tình nổi trội hơn, gắn liền với sinh hoạt xã hội, ngày càng phổ biến,
được ưa dùng trong sinh hoạt tập thể, trong các ngày hội dân gian. Có làn điệu
được cảm hứng từ câu chuyện dã sử về tình yêu đôi lứa còn lưu truyền trong nhiều
thế hệ những người yêu dân ca tỉnh Hà Nam và các vùng lân cận”.
- Bài viết Tìm hiểu về môn vật cổ truyền qua ca dao, tục ngữ Liễu Đôi, in
trên tạp chí Văn hoá thông tin Hà Nam số 13/2000, Kim Thanh đã khẳng định: “Võ
-
9
-vật cổ truyền hầu như đã trở thành môn thể thao phổ biến ở nhiều địa phương trong
cả nước, nhưng môn thể thao truyền thống này được đúc kết thành ca dao, tục ngữ
một cách phong phú thì vùng Liễu Đôi được coi là một nơi độc đáo. Trong kho tàng
văn hoá Liễu Đôi, ca dao tục ngữ nói về môn vật chiếm một vị trí xứng đáng và có
những nét rất riêng biệt”.
- Cuốn Văn nghệ dân gian Hà Nam, Hội văn học nghệ thuật Hà Nam, 2000, Bùi
Văn Cường, Mai Khánh, Lê Hữu Bách đã rất dày công sưu tầm những câu phương
ngôn, ca dao, dân ca, vè Hà Nam “nguyên chất” vốn lang thang tản mát, nổi chìm cùng
kiếp sống người đồng chiêm - chủ nhân của chúng. Khi sưu tầm, các tác giả mong
muốn: “…khi nó đến tay bạn đọc, đặc biệt là bạn đọc người Hà Nam, đang sống trên
đất Hà Nam hoặc đang xa quê, tận chân trời góc biển nào đó, đọc cũng sẽ có dịp gặp
lại quê hương, hiểu kỹ, hiểu sâu quê hương mình…”
- Bài viết Đôi nét về làng nghề ở Hà Nam qua ca dao, tục ngữ, tạp chí Văn hoá
thông tin số 14/2000, Hồng Ngát đã “giới thiệu với bạn đọc phần nào trữ lượng ca dao
về sản vật làng nghề và hàng chợ xưa trên đất Hà Nam”. Qua bài viết này bạn đọc thấy
- Khảo cứu về lễ hội hát Dậm, NXB Thế giới, 2006, tác giả Lê Hữu Lê đã giúp
độc giả hình dung một cách tương đối đầy đủ về diện mạo, quy luật tồn tại, phát
triển của hát Dậm, gồm hàng loạt vấn đề như: nguồn gốc nảy sinh; quá trình vận
động; quy trình lễ hội; đặc điểm diễn xướng; cách vận dụng tục ngữ, ca dao, phương
ngôn để đặt lời, đặt câu
- Ẩm thực bình dân qua ca dao, dân ca và phương ngôn Hà Nam, Tạp chí
Văn hoá thông tin Hà Nam số 4/2007, Thanh Vân giới thiệu sơ lược hương vị ẩm
thực ít nhiều mang tính đặc sản của người bình dân Hà Nam qua ca dao, dân ca.
- Nghề làng, hàng chợ trong ca dao Hà Nam xưa, tạp chí Văn hoá thông tin
Hà Nam số 4/2007, Đình Nguyễn đã khảo sát, thống kê, giới thiệu những bài ca dao
về sản vật làng nghề và hàng chợ xưa trên đất Hà Nam.
- Nghiên cứu vùng văn hoá dân gian Liễu Đôi (Hà Nam), luận án Tiến sĩ văn
hoá học, Viện văn hoá nghệ thuật Việt Nam, 2008, tác giả Nguyễn Văn Thắng đã
“đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống các hiện tượng chủ yếu của văn
hoá dân gian Liễu Đôi như tín ngưỡng, kiến trúc, lễ hội, phong tục, tập quán, văn
học dân gian, văn hoá ẩm thực, tri thức bản địa, một số di chỉ, di vật góp phần
làm rõ những tồn nghi, làm sáng tỏ một vùng mờ về văn hoá dân gian. Cùng với
việc xác định bản chất của từng hiện tượng, tác giả đã chỉ ra được tính thống nhất
rất cao, mối quan hệ đan chéo, xuyên thấm giữa các hiện tượng chính là đặc trưng
cơ bản của văn hoá dân gian vùng đồng chiêm trũng Liễu Đôi. Từ đó làm rõ vị trí,
vai trò, ý nghĩa của nó trong đời sống xã hội Liễu Đôi xưa và nay”.
Ngoài ra còn một số bài viết khác được đăng trên báo, tạp chí ở Trung ương và
địa phương.
Nhìn chung, tác giả của các công trình, bài viết trên đều rất dày công khảo sát,
sưu tầm thực địa hoặc nghiên cứu về ca dao lưu truyền ở Hà Nam như một thực thể
tương đối độc lập. Song việc khảo sát ca dao lưu truyền ở Hà Nam trên các phương
-
11
-
chú ý đến nét riêng) về nội dung, nghệ thuật, phương thức diễn xướng.
Kết quả nghiên cứu có ích cho chính tác giả trong việc giảng dạy ca dao nói
riêng, văn học dân gian nói chung, đặc biệt là phần giảng dạy ca dao, dân ca địa
phương trong nhà trường phổ thông. Đồng thời kết quả nghiên cứu còn giúp người
viết hiểu và quan tâm hơn đến văn học dân gian của tỉnh nhà.
-
12
-3.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Thống kê, khảo sát diện mạo ca dao lưu truyền ở Hà Nam.
- Khảo sát đặc điểm nội dung, nghệ thuật lời ca lưu truyền ở Hà Nam.
- Tìm hiểu phương thức diễn xướng của ca dao lưu truyền ở Hà Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Trong khi tiến hành thực hiện đề tài, chủ yếu chúng tôi sử dụng tư liệu ca dao,
dân ca trong bộ sách Văn nghệ dân gian Hà Nam do Bùi Văn Cường chủ biên cùng
các soạn giả Mai Khánh, Lê Hữu Bách xuất bản năm 2002. Đây là công trình tập thể
được các soạn giả biên soạn với một sự nỗ lực lớn trong nhiều năm.
Ngoài ra, chúng tôi sử dụng một số bài dân ca do cụ Đinh Thị Vị 74 tuổi, cụ
Trịnh Thị Phẩm 70 tuổi, cụ Đỗ Thị Diệu 65 tuổi, cùng ở khu 2, xóm 7, xã Thi Sơn,
huyện Kim Bảng cung cấp.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Khảo sát ca dao lưu truyền ở Hà Nam, chúng tôi chú trọng sâu hơn đến việc
nghiên cứu nét riêng của nó trên phương diện nội dung, nghệ thuật, phương thức
diễn xướng.
Một trong những nét đặc trưng của văn học dân gian là tính nguyên hợp. Mỗi
tác phẩm văn học dân gian ngoài việc sử dụng phương tiện diễn đạt chủ yếu là ngôn
ngữ thường được sử dụng kết hợp với một vài phương tiện nghệ thuật khác nữa như
6. Đóng góp của luận văn
Lần đầu tiên, ca dao lưu truyền ở Hà Nam được xem xét, khảo sát một cách khá toàn
diện và hệ thống, góp phần làm rõ những đặc điểm nội dung, nghệ thuật, phương thức
diễn xướng, chỉ ra sắc thái địa phương của ca dao lưu truyền ở Hà Nam so với ca dao
vùng đồng bằng sông Hồng.
Hy vọng luận văn là một tư liệu tham khảo cho những ai quan tâm, đặc biệt các
thày cô giáo trong tỉnh dùng để giảng dạy cho học sinh thêm hiểu, yêu mến văn học
dân gian Hà Nam.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục. Nội dung chính của
luận văn được chia làm bốn chương:
Chương 1. Một số vấn đề lí luận chung
Chương 2. Khảo sát đặc điểm nội dung của ca dao lưu truyền ở Hà Nam trên
phương diện ngôn từ
Chương 3. Khảo sát đặc điểm nghệ thuật của ca dao lưu truyền ở Hà Nam trên
phương diện ngôn từ
Chương 4. Khảo sát đặc điểm diễn xướng của ca dao lưu truyền ở Hà Nam
-
14
-NỘI DUNG
Chương 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HÀ NAM VÀ VĂN HỌC DÂN
GIAN HÀ NAM TRONG CÁI NHÌN ĐỊA – VĂN HOÁ
1.1. Khái niệm ca dao
15
-diễn xướng (có thể hát, ngâm theo các làn điệu). Khi được ghi chép, dân ca và ca dao
đều được ngắt ra thành câu (hai dòng thơ) thành bài ca dao – dân ca (với nhiều dòng).
Hiện tượng từng được gọi là câu, là bài, là đơn vị, là tác phẩm ấy là những lời dân ca,
ca dao. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Kính, thuật ngữ lời ca dao được hiểu theo
nghĩa là một cơ cấu nghệ thuật hoàn chỉnh có mặt nội dung và mặt hình thức văn học.
Nội dung của lời diễn đạt một tình cảm, thông báo một vấn đề, một điều cụ thể. Hình
thức của lời ca dao gồm ngôn ngữ, nhịp điệu, thể thơ…
Theo các soạn giả bộ sách Kho tàng ca dao người Việt, thuật ngữ ca dao được
hiểu theo ba nghĩa rộng, hẹp khác nhau:
- Thứ nhất: Ca dao là danh từ ghép chỉ chung toàn bộ những bài hát lưu hành
phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu, trong trường hợp này ca dao
đồng nghĩa với dân ca.
- Thứ hai: Ca dao là danh từ chỉ thành phần ngôn từ (phần lời ca) của dân ca
(không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi).
- Thứ ba: Không phải toàn bộ những câu hát của một loại dân ca nào đó tước bỏ
tiếng đệm, tiếng láy, đưa hơi… thì sẽ đều là ca dao. Ca dao là những sáng tác văn
chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ mang những đặc
điểm nhất định và bền vững về phong cách và ca dao đã trở thành một thuật ngữ
dùng để chỉ một thể thơ dân gian.
Ở luận văn này, chúng tôi sử dụng theo cách hiểu thứ nhất, nghĩa là ca dao, dân
ca có thể được sử dụng theo nghĩa tương đương. Vì vậy có lúc chúng tôi dùng ca
dao, có lúc lại sử dụng thuật ngữ kép ca dao – dân ca. Các từ: tác phẩm, bài, lời,
đơn vị (ca dao) cũng được chúng tôi dùng với ý nghĩa tương đương.
Có thể chia ca dao ra ba nhóm lớn:
- Ca dao sinh hoạt – trữ tình: là những bài hát, câu hát dân gian gắn với các hoạt
động sinh hoạt của nhân dân, diễn tả đời sống tư tưởng và tình cảm của nhân dân lao
thành phạm trù truyền thống và biến đổi của văn hoá” [43, tr.5].
Khi nghiên cứu về không gian văn hoá không thể không đề cập đến vấn đề vùng
văn hoá, tức là tìm hiểu không gian nảy sinh, tồn tại của nền văn hoá hay từng yếu
tố văn hoá. Vùng văn hoá đã và đang tồn tại như một thực thể sống động vốn có của
nó. Vì thế, nghiên cứu vùng văn hoá, chúng tôi cố gắng tiếp cận một số quan điểm
rất quan trọng của lý thuyết vùng văn hoá như: ranh giới vùng, vùng trung tâm, việc
tập trung các yếu tố có sự tương đồng, thống nhất, tính trội của một vùng… Hiện
nay, đa số các nhà khoa học khi nghiên cứu vùng văn hoá thường chỉ ra bốn cấp độ:
khu vực, vùng, tiểu vùng, trường hợp (hay hiện tượng). Điều này hoàn toàn đúng.
Tuy nhiên trong dân gian xưa, ông cha ta đã từng nói đến vùng văn hoá với tên gọi
quen thuộc là xứ (Xứ Lạng, xứ Bắc, xứ Đông, xứ Đoài…). Khi phân ra các xứ như
vậy, người xưa hẳn đã phân biệt sự khác nhau của các vùng với nhiều khía cạnh,
trong đó văn hoá đóng một vai trò cốt yếu. Sau này, dưới góc nhìn hiện đại, các nhà
khoa học bắt đầu bàn đến vùng văn hoá và sự phân biệt các vùng đó với nhau. Song,
-
17
-về mặt cơ bản, các nhà nghiên cứu vẫn dựa trên cách chia của người xưa. Nói như
vậy để thấy rằng một vùng muốn được coi là vùng văn hoá phải trải qua một giai
đoạn khá dài cùng sự phát triển của con người với những nếp sống, phong tục, tập
quán… của họ.
Nhiều nhà nghiên cứu sau này như GS Hoàng Tiến Tựu, GS Đặng Nghiêm Vạn,
PGS Vũ Ngọc Khánh, PGS Chu Xuân Diên, GS.TS Kiều Thu Hoạch, PGS.TS Trần
Lê Bảo… đã dày công nghiên cứu vấn đề vùng văn hoá, song đáng chú ý phải kể tới
công trình Các vùng văn hoá Việt Nam do GS Đinh Gia Khánh và nhà thơ Huy Cận
đồng chủ biên (Nxb Văn học, H, 1995), Văn hoá vùng và phân vùng văn hoá ở Việt
Nam của GS.TS Ngô Đức Thịnh (Nxb Khoa học xã hội, H, 1993, được tái bản nhiều
lần), Cơ sở văn hoá Việt Nam do GS Trần Quốc Vượng chủ biên (Nxb Giáo dục, H,
thể đem ra để khu biệt với các vùng văn hoá khác. Nói vùng văn hoá là nói tới văn
hoá lãnh thổ là vì vậy. Nó có tính chất định vị khá rõ nét. Tuy nhiên, điều đó không
có nghĩa là các vùng văn hoá ấy hoàn toàn tách biệt nhau hoặc triệt tiêu nhau. Trái
lại, các vùng văn hoá ấy cũng là minh chứng cho một thực tế đã được các nhà
nghiên cứu khái quát: Sự thống nhất trong đa dạng của các nền văn hoá.
Cách phân vùng văn hoá của các nhà nghiên cứu ở Việt Nam có những điểm trùng
nhau mà cũng có những điểm khác biệt, cách chia nào cũng có hạt nhân hợp lý của nó.
GS.TS Ngô Đức Thịnh, trong công trình Văn hoá vùng và phân vùng văn hoá ở Việt
Nam chia nước ta thành bảy vùng văn hoá. GS Đinh Gia Khánh và nhà thơ Huy Cận,
chủ biên công trình Các vùng văn hoá Việt Nam chia nước ta thành chín vùng văn hoá.
GS Trần Quốc Vượng và các tác giả của giáo trình Cơ sở văn hoá Việt Nam chia nước
ta thành sáu vùng văn hoá. Cũng theo các tác giả của các công trình kể trên, mỗi vùng
văn hoá lại có thể chia ra làm nhiều tiểu vùng, mỗi tiểu vùng cũng có những nét tương
đồng và khác biệt. Chúng tôi cũng đồng ý với cách chia của GS Trần Quốc Vượng, 6
vùng văn hoá đó là: vùng văn hoá Tây Bắc, vùng văn hoá Việt Bắc, vùng văn hoá châu
thổ Bắc Bộ, vùng văn hoá Trung Bộ, vùng văn hoá Trường Sơn – Tây Nguyên và vùng
văn hoá Nam Bộ.
1.2.2.Vùng văn hoá dân gian và tiểu vùng văn hoá dân gian
Nghiên cứu văn hoá dân gian của một địa phương không chỉ dựa vào lý luận về
vùng văn hoá nói chung là đủ, bởi nhiều lý do, trong đó có các lý do về cơ cấu, về
đặc trưng, về chủ thể sáng tạo và hưởng thụ của nền văn hoá,… Những yếu tố đó có
nhiều điểm tương đồng, nhưng cũng có điểm khác biệt. Vì vậy, để biểu hiện được
diện mạo folklore của một nơi nào đó, nhất thiết phải tìm hiểu lý luận về vùng văn
hoá dân gian, nghĩa là tìm hiểu bình diện không gian của các hiện tượng văn hoá
dân gian đó.
Căn cứ chủ yếu để phân vùng văn hoá dân gian, trước hết vẫn phải dựa vào bản
chất của các hiện tượng văn hoá dân gian và sự vận động của nó trong một không
gian nhất định, sau đó mới là các căn cứ khác.
Nói đến vùng là nói tới một phạm vi địa giới nhất định, có tính bao quát tương đối
rõ rệt về nhiều mặt. Dĩ nhiên, vùng văn hoá dân gian không bao giờ trùng khít với địa
có cái tồn tại, phát triển, có cái bị đồng hoá, biến mất. Tuy nhiên, sắc thái riêng thì
không dễ dàng bị biến mất, nó chỉ có thể tồn tại như thế nào mà thôi. Sắc thái riêng
đã trở thành đặc trưng bản chất của các hiện tượng văn hoá dân gian có tính ổn định,
tương đối bền vững.
Do mỗi vùng văn hoá dân gian đều có vô số các hiện tượng mang sắc thái địa
phương, đồng thời do lịch sử, địa lý của mỗi vùng cũng có những điểm khác biệt, nên
người ta có thể chia vùng văn hoá thành các vùng nhỏ hơn. PGS Vũ Ngọc Khánh
xem vùng rộng là vùng tổng hợp (ý nói bao gồm rất nhiều hiện tượng văn hoá dân
-
20
-gian), vùng có các thể loại nổi trội, đặc sắc là vùng thể loại và ông gọi là các vùng thể
loại đó là vùng Then, vùng Chèo, vùng Quan họ, vùng Xoan, vùng ca Huế… PGS Vũ
Ngọc Khánh cũng đề cập đến cấp độ dưới vùng, đó là trung tâm folklore hay điểm
folkore. Theo ông, một trung tâm, một điểm folkore là “Nơi có sinh hoạt phong phú
hoặc có dấu ấn đậm đà về một hiện tượng hay một sự kiện nào đó”.
Theo chúng tôi, gọi là trung tâm hay điểm folklore thực chất là vấn đề tiểu vùng
văn hoá dân gian. Tiểu vùng văn hoá dân gian có đặc điểm chung của vùng, lại có
sắc thái địa phương rõ rệt so với các tiểu vùng khác. Tiểu vùng ấy có thể là một
làng, một xã, hoặc quy mô lớn hơn làng, xã. Chẳng hạn, làng Đường Lâm (tỉnh Hà
Tây cũ), làng Nguyễn (tỉnh Thái Bình), xã Trường Yên (tỉnh Ninh Bình), xã Liễu
Đôi (tỉnh Hà Nam)… là những ví dụ rất sinh động về các tiểu vùng văn hoá dân
gian. Với những trung tâm, những điểm tiêu biểu, quý hiếm của một địa phương,
đôi khi người ta cũng có thể gọi là vùng (nghĩa hẹp).
Như vậy, dù rộng hay hẹp, vùng văn hoá dân gian vẫn thường dao động trong
một phạm vi địa giới nào đó, mặc dù không bao giờ trùng khít. Ở đây, tập trung các
hiện tượng văn hoá dân gian bản địa, hoặc được du nhập từ vùng khác tới, nhưng
đã được “đồng hoá".
Khu vực I: Là khu vực trung du Bắc Bộ bao gồm các làng ở vùng trung du
Bắc Bộ (Vĩnh Phú, một phần Hà Sơn Bình, Bắc Thái, Hà Bắc…), (
Vĩnh Phú:
nay là hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ; Hà Sơn Bình: là hai tỉnh Hà Tây và Hoà
Bình; Bắc Thái: nay là hai tỉnh Bắc Cạn và Thái Nguyên).
Khu vực II: Là khu vực sông Hồng (đồng bằng Bắc Bộ) thuộc các tỉnh và
vùng ngoại vi thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Hải Hưng, Thái Bình, Hà Nam
Ninh, một phần các tỉnh Hà Sơn Bình, Hà Bắc (Hải Hưng: nay là hai tỉnh Hải
Dương và Hưng Yên; Hà Nam Ninh: nay là ba tỉnh Hà Nam, Nam Định và Ninh
Bình).
Khu vực III: khu vực sông Mã gồm các làng người Kinh thuộc tỉnh Thanh
Hoá và Ninh Bình.
Miền Trung:
Khu vực I: khu vực sông Lam (khu vực Nghệ Tĩnh từ khe Nước Lạnh đến
Bình Trị Thiên), (Nghệ Tĩnh: nay là hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh; Bình Trị
Thiên: nay là ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên – Huế).
Khu vực II: khu vực sông Gianh – sông Hương hay khu vực Bình Trị Thiên.
Miền Nam:
Từ phía Nam đèo Hải Vân (Đà Nẵng) trở vào văn học dân gian được chia
làm ba khu vực:
Khu vực I: khu vực Thu Bồn, Trà Khúc gồm các làng xã người Kinh ở
Quảng Nam – Đà Nẵng (Quảng Nam – Đà Nẵng: nay là thành phố Đà Nẵng và
tỉnh Quảng Nam).
Khu vực II: khu vực Nam Trung Bộ gồm các làng người Kinh từ Nghĩa Bình
đến phía đông Nam Bộ (Nghĩa Bình: nay là hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định).
Khu vực III: khu vực đồng bằng sông Cửu Long (hay khu vực đồng bằng
Nam Bộ) [48, tr.14].
các nền văn hoá lớn nối tiếp nhau: văn hoá Đông Sơn, văn hoá Đại Việt và văn hoá
hiện đại Việt Nam. Từ trung tâm của vùng văn hoá này, văn hoá Việt lan truyền vào
Trung Bộ và sau đó vào Nam Bộ.
Khoảng cuối thế kỉ III, đầu thế kỉ II trước Công nguyên, đế quốc phong kiến
phương Bắc đã xâm lược nước ta. Và từ cuối thế kỉ II trước Công nguyên, nhà Hán
đặt ách đô hộ ngày càng chặt chẽ hơn, hà khắc hơn đối với người dân Việt. Nhà Hán
chia nước ta thành các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Xét một cách tương
đối, quận Giao Chỉ tương đương với vùng Bắc Bộ hiện nay, trong đó vùng đồng
bằng chịu ảnh hưởng của văn hoá phương Bắc nhiều hơn cả.
Trong thời kì văn hoá Đông Sơn trước kia, người Việt cổ vốn là chủ nhân của
-
23
-nền văn minh nông nghiệp. Từ đầu Công nguyên trở đi, người dân đã biết dùng lưỡi
cày sắt do trâu bò kéo, đưa năng suất nông nghiệp lên mức ngày càng cao hơn với
hai mùa thu hoạch. Ngoài ra những nghề khác như dệt lụa, nuôi tằm, làm đồ thuỷ
tinh cũng rất phát triển. Trong thời kì Bắc thuộc, nền sản xuất (nông nghiệp và thủ
công nghiệp) ở vùng đồng bằng miền Bắc nước ta đã phát triển cao. Bởi, một phần
dựa trên cơ sở những truyền thống công nghệ vốn có từ thời văn hoá Đông Sơn và
một phần nhờ vào sự giao lưu văn hoá với Trung Quốc và Ấn Độ.
Giống lúa thắng hạn nổi tiếng, có nguồn gốc từ nước ta được nhập khẩu vào
Trung Quốc, đã ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của nông nghiệp lúa nước ở
Trung Quốc trong đời nhà Tống (thế kỉ XI). Việc thâm canh lúa nước ở nước ta
ngày càng vươn lên ở trình độ cao. Dưới thời kì Pháp thuộc, vùng đồng bằng sông
Hồng vẫn là một vựa lúa quan trọng của nước ta.
Bề dày lịch sử cũng như sự phong phú về mặt văn hoá của vùng đồng bằng sông
Hồng được thể hiện qua các chứng tích có mặt ở khắp nơi, từ Phong Châu (Phú
Thọ) đến Đông Sơn (Thanh Hóa), từ Hoa Lư (Ninh Bình) đến Thủy Nguyên (Hải
là bốn kinh trấn Kinh Bắc (Bắc Ninh, Bắc Giang, Phúc Yên), Sơn Nam (Hà Đông,
Hà Nam, Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình), Hải Đông (Hải Dương, Hải Phòng,
Kiến An), Sơn Tây (Phú Thọ, Vĩnh Yên, Sơn Tây). Bốn kinh trấn còn được gọi là tứ
chính trấn (gọi tắt là tứ chính, sau đọc chệch đi thành tứ chiếng). Mỗi trấn đều có
những nét đặc thù về môi trường tự nhiên và con người, do đó đều có những nét
riêng về văn hóa dẫn đến sự hình thành những tiểu vùng văn hóa [23].
Với bề dày lịch sử của mình và với tác động của trung tâm văn hóa Thăng Long,
vùng văn hóa đồng bằng sông Hồng là một vùng văn hóa điển hình của người Việt
nói riêng, của cả nước Việt Nam nói chung, và là cội nguồn văn hóa của các vùng
văn hóa đồng bằng Trung Bộ và Nam Bộ.
1.5. Vài nét về văn học dân gian Hà Nam trong cái nhìn địa - văn hoá
Hà Nam nằm ở phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, trên toạ độ 20
0
vĩ độ Bắc và
giữa 105
0
– 110
0
kinh độ Đông. Như vậy, theo cách phân chia của GS Trần Quốc
Vượng, GS Đinh Gia Khánh và nhà thơ Huy Cận, hay cách phân chia của GS.TS
Ngô Đức Thịnh, tỉnh Hà Nam cũng nằm ở vùng văn hoá Bắc Bộ - vùng văn hoá
được coi là cái nôi hình thành dân tộc Việt và quốc gia Đại Việt.
Với diện tích tự nhiên hơn 851,7km
2
, đất đai và địa hình Hà Nam tương đối đa
dạng. Phía Tây của tỉnh là vùng đồi núi bán sơn địa với các dãy núi đá vôi, núi đất
và đồi rừng. Xuôi về phía Đông là vùng đồng bằng được bồi tụ bởi sông Hồng, sông
Đáy, sông Châu. Do quá trình kiến tạo địa chất và biến đổi địa hình của đồng bằng
sông Hồng, nên Hà Nam có nhiều vùng đất trũng, thường xuyên bị ngập úng và bị
chua phèn, không thuận tiện cho canh tác nông nghiệp. Trên thực tế, việc đắp đê
năm 1893- 1894. Trống đồng Ngọc Lũ thuộc loại có kích thước lớn nhất (đường
kính mặt 79cm, cao 63cm), niên đại cổ nhất (cách ngày nay trên 3000 năm) và hoa
văn trang trí đẹp nhất. Ở giữa mặt trống là ngôi sao 14 cánh tượng trưng cho mặt
trời và khe âm vật, tiếp đó là hình người nhảy múa, giã gạo, hình thuyền, nhà, chim,
hươu, tang trống cũng trang trí hình người chèo thuyền, bắn cung, cầm giáo, đánh
trống; lưng trống trang trí hình người múa, tay cầm mộc, tay cầm rìu. Những hiện
vật cổ quý giá đó đã minh chứng rằng có một nền văn minh sông Hồng, văn minh
lúa nước của người Hà Nam xưa đã phát triển khá cao. Đây được xem như một tiền
đề rất quan trọng để văn hoá nơi đây tồn tại, phát triển, bất chấp sự khắc nghiệt của
thiên tai, bão lũ, bất chấp âm mưu đồng hoá của các thế lực ngoại xâm.
-
26
-Một số huyện, thị của tỉnh Hà Nam có các tiểu vùng văn hoá dân gian đáng chú
ý. Ở huyện Kim Bảng có tiểu vùng văn hoá Quyển Sơn, ven sông Đáy với những
truyền thuyết về Lý Thường Kiệt, hội Dậm, với 36 bài hát Dậm nổi tiếng. Ở huyện
Duy Tiên có tiểu vùng văn hoá Đọi Sơn với ngôi chùa có kiến trúc độc đáo xây
dựng từ thời Lý, bia Sùng Thiện Diên Linh, dấu tích Đại Hành Hoàng Đế đi cày tịch
điền dưới chân núi Đọi và nghề truyền thống làm trống của làng Đọi Tam nổi tiếng.
Ở huyện Lý Nhân có tiểu vùng văn hoá Nhân Đạo với đền Trần Thương độc đáo và
tín ngưỡng thờ người anh hùng dân tộc Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Ở
huyện Thanh Liêm có tiểu vùng văn hoá Liễu Đôi. Mỗi tiểu vùng văn hoá có những
điểm chung và riêng. Các tiểu vùng văn hoá khác ở Hà Nam được sưu tầm, nghiên
cứu, phát lộ tương đối sớm, riêng vùng Folklore Liễu Đôi chỉ được phát hiện và
công bố rộng rãi cách đây chưa tròn 30 năm.
Hà Nam, sau bao phế hưng biến cải, vẫn còn nhiều đền miếu thờ phụng những
người có tài trừ yêu quái, giặc giã… giúp vua Hùng mở đất, dựng nước như chàng
Vương Lạp. Mở đất sớm, nên dân Lạc Việt tụ cư chốn này rất sớm. Dấu tích thời xa