Khảo sát địa phương trong ca dao Việt Nam - Pdf 27


1
Khảo sát địa danh trong ca dao Việt Nam

PHẦN MỞ ĐẦU1. Lí do chọn đề tài
- Trong hệ thống từ vựng của mỗi ngơn ngữ, địa danh chiếm một tỉ lệ
khơng nhiều nhưng lại có vai trò rất quan trọng:
Địa danh là một phạm trù lịch sử. Nó xuất hiện và tồn tại hàng trăm, hàng
ngàn năm. Nó phản ánh nhiều khía cạnh địa lý, lịch sử, văn hố… tại mảnh đất
mà nó chào đời. Từ lâu nó được xem như là những tấm bia lịch sử - văn hố
bằng ngơn ngữ. Chính vì vậy, muốn hiểu rõ một vùng đất nào, ta khơng thể
khơng quan tâm đến địa danh.
Do địa danh có chức năng cơ bản là định danh và cá thể hố đối tượng
nên nó trở thành một bộ phận khơng thể tách rời của cuộc sống xã hội. Thử
tưởng tượng nếu như một ngày bỗng dưng tất cả tên các tỉnh, thành phố trên đất
nước ta biến mất. Thì chắc chắn cuộc sống của chúng ta sẽ bị đe doạ, mọi hoạt
động của các cơ quan nhà nước cũng như các ngành đều gặp khó khăn.
Địa danh có giá trị to lớn trong việc nghiên cứu lịch sử tiếng Việt. Chất
liệu tạo ra địa danh là ngơn ngữ, nên số lượng và tính chất đa dạng của địa danh
cũng có thể xem là tấm gương phản ánh sự phát triển và biến đổi của ngơn ngữ
tiếng Việt. Việc nghiên cứu địa danh còn giúp chúng ta biết nghĩa của một số từ
cổ nay khơng còn dùng nữa và giúp ta xác định rõ ràng hơn ý nghĩa của các từ
ngữ địa phương.
Địa danh được hình thành, tồn tại và biến đổi khơng chỉ do các tác động
của ngơn ngữ mà còn do các tác động bên ngồi ngơn ngữ (đặc điểm văn hố, sự
di dân, tiếp xúc, vay mượn,…). Chính vì vậy mà nhiều biến cố về chính trị, kinh
tế, văn hố, xã hội, ngơn ngữ,… được lưu giữ trong địa danh. Nghiên cứu địa
danh sẽ giúp cho chúng ta hiểu thêm được một phần nào đó về một vùng đất với

Do thời gian hạn chế nên trong niên luận này chúng tôi chỉ khảo sát địa
danh Việt Nam trong phạm vi 273 câu ca dao với 498 địa danh.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Tư liệu và cách xử lý
* Nguồn tư liệu
THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN

3
Do mục đích của niên luận nên nguồn tư liệu mà chúng tôi thu thấp, sưu
tầm là những câu ca dao có liên quan đến địa danh Việt Nam trong các sách có
sưu tầm về ca dao Việt Nam.
* Cách xử lý tư liệu
- Từ nguồn tư liệu thu thập được chúng tôi đã tập hợp, thống kê được 498
địa danh, bao gồm địa danh chỉ đối tượng tự nhiên, địa danh chỉ các đơn vị hành
chính, địa danh chỉ các công trình xây dựng và địa danh chỉ vùng lãnh thổ.
- Xử lý tư liệu:
Sau khi đã tập hợp, thống kê địa danh thành 4 loại trên chúng tôi tiến
hành phân loại theo mẫu, thống kê, tổng hợp biểu bảng. Trên cơ sở đó rút ra
những nhận xét về đặc điểm địa danh Việt Nam.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
- Trong niên luận này khi nghiên cứu chúng tôi đã sử dụng phương pháp
quy nạp. Trêm cơ sở những tư liệu được thu thập và xử lý, trên nền tảng những
con số được thống kê và phân tích, chúng tôi đưa ra những nhận xét mang tính
tổng hợp và khái quát về vấn đề được nghiên cứu.
- Nghiên cứu tài liệu mà cụ thể ở đây là nghiên cứu các địa danh Việt
Nam xuất hiện trong các câu ca dao, từ đó rút ra những nhận xét mang tính tổng
hợp và khái quát về vấn đề được nghiên cứu.
- Miêu tả những đặc điểm về mặt cấu tạo của địa danh.
n u th k XX, sỏch bỏo ch quc ng xut hin rt nhiu v cng ó
cú dựng thut ng ca dao hay phong dao nh Tc ng phong dao (Nguyn
Vn Ngc biờn son nm 1928), Tc ng ca dao (Phm Qunh 1932), Ca dao
c (Tp chớ Nam Phong s 167, HN, 1930), Phong dao c (tp chớ Nam Phong
s 179, HN, 1932), Phong dao, ca dao, phng ngụn, tc ng (Nguyn Tn
(Vn ?) Chin,HN, 1936). Hai thut ng ca dao v phong dao phm vi nh
hng ca chỳng cú ch ging nhau. Ngi xa gi : ca dao l phong dao vỡ
cú nhng bi ca dao phn ỏnh phong tc ca mi a phng, mi thi i (tc
ng ca dao dõn ca Vit Nam V Ngc Phan). Vỡ vy dn dn tờn gi phong
dao cng ớt c dựng nhng ch cho ca dao (thi phỏp ca dao Nguyn Xuõn
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN

5
Kớnh).
Trong gii nghiờn cu, trong cỏc sỏch su tm, so vi t ca dao, t dõn ca
xut hin mun hn, khong nhng nm 50 ca th k XX. Dõn ca c chớnh
thc s dng bng s xut hin trong cun sỏch tc ng v dõn ca Vit Nam
ca Giỏo s V Ngc Phan in ln u tiờn vo nm 1956.
Sau õy l quan nim v ca dao ca mt s nh nghiờn cu :
- Trong Vit Nam vn hc s yu giỏo s Dng Qung Hm ó nh
ngha v ca dao nh sau: Ca dao (ca : hỏt, dao : bi hỏt khụng cú chng khỳc)
l nhng bi hỏt ngn lu hnh trong dõn gian, thng t tớnh tỡnh phong tc ca
ngi bỡnh dõn. Bi th ca dao cng gi l phong dao (phong : phong tc) na.
Ca dao cng nh tc ng, khụng bit tỏc gi l ai ; chc lỳc ban u cng do mt
ngi vỡ cú cm xỳc m lm nờn, ri ngi sau nh ly m truyn tng mói n
bõy gi (Dng Qung Hm Vit Nam vn hc s yu quyn I).
- Quan nim ca giỏo s V Ngc Phan : Ca dao vn l mt thut ng
Hỏn Vit ca dao l nhng bn vn vn do nhõn dõn sỏng tỏc. Cng nh tc ng,
ca dao khụng rừ tỏc gi l ai, c lu tuyn bng ming v cng c ph bin
rng rói trong nhõn dõn cũn dõn ca l nhng bi hỏt cú nhc iu nht nh.

dõn sỏng tỏc, lu truyn trong dõn gian tng vựng hoc ph bin nhng vựng
cú ni dung tr tỡnh v cú giỏ tr c bit v nhc. Dõn ca thng cú ni dung
nh ca dao (Phan Ngc Tỡm hiu phong cỏch Nguyn Du).
Nh vy, theo tỏc gi, ch khỏc nhau c bn gia ca dao v dõn ca l
hỡnh thc v nhc iu. Trong mt s bi dõn ca ting m, ting lỏy hoc ting
a hi chen vo li th lc bỏt ca ca dao.
- Quan nim ca Nguyn Xuõn Kớnh: Ca dao l nhng sỏng tỏc vn
chng c ph bin rng rói, c lu truyn qua nhiu th h mang nhng
c im nht nh v bn vng v phong cỏch. V ca dao ó tr thnh mt
thut ng dựng ch th th dõn gian. i vi ca dao, ngi ta khụng ch hỏt
m cũn ngõm, c, xem bng mt thng (khi ca dao ó c ghi chộp, biờn
son t cui th k XVIII).
- Túm li, cú th thy, trong quan nim ca cỏc nh Nho cú su tm ghi
chộp ca dao cng nh trong quan nim ca gii nghiờn cu vn hc dõn gian,
thut ng ca dao thng c hiu theo 3 ngha rng hp khỏc nhau nh sau:
Ca dao l danh t ghộp ch chung ton b nhng bi hỏt lu hnh ph
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN

7
biến trong dân gian, có hoặc khơng có khúc điệu.
Ca dao là danh từ chỉ những tác phẩm ngơn từ (phần lời ca) của dân ca
(khơng kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi).
Khơng phải tồn bộ những câu hát của một loại dân ca nào đó cứ tước bớt
tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi…thì đều là ca dao. Ca dao là những sáng tác
văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ mang
những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách . Và ca dao đã trở thành
một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian.
II. QUAN NIỆM VỀ ĐỊA DANH VÀ ĐỊA DANH HỌC
1. Lược sử nghiên cứu
Nghiên cứu địa danh đã có từ sớm trên thế giới, và địa danh học thực sự

danh.
Chính sự đa dạng trong khuynh hướng tiếp cận đa thể hiện tính chất liên
ngành của chun ngành ngơn ngữ học còn nhiều điều cần khám phá này.
Còn địa danh trong tục ngữ ca dao thì hiện nay cũng đã có một số người
quan tâm chú ý đến, và đã có một số bài viết hay khố luận tốt nghiệp làm về địa
danh trong tục ngữ ca dao Việt Nam. Trong niên luận này chúng tơi tập trung
nghiên cứu địa danh Việt Nam trong ca dao.
2. Cơ sở lý thuyết
2.1. Quan niệm về địa danh và địa danh học
Trước khi đi vào nghiên cứu “địa danh Việt Nam trong ca dao” chúng ta
cần tìm hiểu khái niệm địa danh và ngành học này. Bởi vì, như đã nói ở trên khi
nghiên cứu địa danh ở Việt Nam cũng như trên thế giới hiện nay có nhiều quan
điểm khơng thống nhất, hoặc nặng về hình thức từ ngun học hoặc nặng về tên
riêng, dẫn đến những kết quả khác nhau. Vậy địa danh học là gì ?
Địa danh, tiếng khoa học là TOPONYMIE có hai phần : TOPO là địa
điểm, NYMIE là tên gọi. TOPO là gốc ả rập, NYMIE là gố tiếng La tinh, gọi
theo tiếng Hán Việt là địa danh. Bản thân địa danh là ngành khoa học, nó có
nhiệm vụ, đối tượng và chức năng rõ ràng. Trong q trình nghiên cứu địa danh
đã có những quan điểm khác nhau :
Có luận điểm cho rằng : Địa danh học là một ngành khoa học chun
nghiên cứu về từ ngun của tên đất một vùng hay một dân tộc. Đại diện cho
quan điểm này là Oviveric, tác giả cuốn từ điển “địa danh nước ý” xuất bản tại
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

9
ROMA nm 1981.
Mt quan im khỏc khng nh : ý nh ca tụi khi vit cun t in
ny l hn ch cỏc tờn gi a danh vo phm vi cỏc dõn tc quen thuc, khụng
i vo lch s ca nú, tc l i vo nhng nột c bn ca a danh, ngi tiờu
biu cho quan im ny l Lorique, vit trong cun Dictionnaire etymologique

dân tộc, một quốc gia, một vùng nhất định qua hình thức cấu thành và phát triển
của ngôn ngữ địa danh.
Như vậy, ta đi sâu vào nội dung địa danh tức là nghiên cứu sự hình thành
và phát triển của địa danh đó. Nhưng nếu bỏ cái vỏ ngôn ngữ ấy thì không thể
được. Để đi vào nội dung ý nghĩa thì chỉ có một con đường là thông qua cái cầu
ngôn từ. Địa danh học không dừng ở mặt từ nguyên học, ở khoa học tên riêng
mà qua ngôn ngữ địa danh. Địa danh học đi xa hơn vào sự phát triển của một
vùng,một địa phương. Để đi sâu vào đối tượng nghiên cứu chính đó,cái vỏ của
ngôn ngữ địa danh không phải chính nhưng rất quan trọng,vì không có nó thì
không có gì để nghiên cứu. Vả lại,nó phản ánh ý thức của con ngườcuwtieeu.
2.2. Phân loại địa danh
Phân loại địa danh là một vấn đề khá phức tạp. Sự phức tạp này nằm ngay
trong đối tượng được phân loại cũng như phương pháp phân loại. Bản thân địa
danh là một tập hợp phong phú, đa dạng, nó có thể được phân tách thành các
tiểu loại khác nhau tuỳ theo mục đích và phương diên nghiên cứu.
Mỗi nhà nghiên cứu tuỳ theo cách tiếp cận và đối tượng nghiên cứu mình
lựa chọn đã đưa ra những cách phân loại thích hợp.
Các nhà địa danh học Xô Viết chia địa danh theo đối tượng mà địa danh
biểu thị, tức là dựa vào nôI dung của nó.
Trong cuốn Toponimijc Moskoy, G.L.Smolisnaja và M.V.Gorbaneveskiji đã
chia địa danh làm 4 loại : phương danh (tên các địa phương), sơn danh (tên núi,
đồi, gò…), thuỷ danh (tên các dòng sông, hồ, vũng…), phố danh (tên các đối
tượng trong thành phố).
A.V.Superauskaja, trong Chto takoe toponimika chia địa danh làm 7 loại :
phương danh, thuỷ danh, sơn danh, phố danh, viên danh (tên các quảng trường,
công viên), lộ danh (tên các đường phố), đại danh (tên các đương giao thông
trên đất, dưới đất, trên nước, trên không).
ở Việt Nam, mỗi tác giả nghiên cứu về địa danh đưa ra những cách phân
THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN


a danh
a danh ch
a hỡnh
a danh cụng
trỡnh xõy dng
a danh hnh
chớnh
a danh
vựng
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN

12
Mặt khác, theo ngữ nguyên ta có thể chia địa danh Việt Nam thành 4
nhóm lớn : địa danh thuần Việt, địa danh Hán Việt, đia danh bằng các ngôn ngữ
dân tộc thiểu số, địa danh bằng các ngoại ngữ.
Ta có sơ đồ :
2.3. Vị trí của địa danh học trong ngôn ngữ học
Ngôn ngữ học được chia làm 3 ngành chính : ngữ âm học, từ vựng học và
ngữ pháp học. Trong từ vựng học có một bộ môn gọi là danh xưng học chuyên
nghiên cứu tên riêng. Danh xưng học lại gồm 3 ngành nhỏ hơn : nhân danh học,
địa danh học và hiệu danh học. Nghiên cứu lịch sử cấu tạo tên người (họ, tên
chính, tên đệm, tự, hiệu, bút danh) là công việc của nhân danh học; nghiên cứu
về nguồn gốc, cấu tạo, ý nghĩa và sự biến đổi của các tên gọi địa lý là nhiệm vụ
của địa danh học; còn nghiên cứu tên gọi của các sự vật,hiện tượng không phải
là người cũng không phảI là các đối tượng địa lý (như các thiên thể) lại là lĩnh
vực của hiệu danh học.
Trong đó, địa danh học lại được chia làm nhiều ngành nhỏ hơn chuyên
nghiên cứu các đối tượng hay nhóm đối tượng địa lý trên bề mặt trái đất. Các
ngành chỉ nghiên cứu tên sông, rạch (thuỷ danh) và tên đồi núi,…gọi là thuỷ
danh và sơn danh học. Ngành chuyên nghiên cứu tên của các địa điểm quần cư
2.4. Chức năng của địa danh và ích lợi của việc nghiên cứu địa danh
2.4.1. Chức năng của địa danh
Khi giao tiếp, dù nghi thức hay không nghi thức thật khiếm nhã biết bao
nếu viết hoặc nói không đúng tên người. Với địa danh cũng thế. Địa danh không
chỉ đơn thuần là cái tên được đặt ra để chúng ta gọi về một vùng đất. Mỗi địa
danh thường phản ánh một đặc điểm nào đó về địa bàn, lịch sử, xã hội, ngôn
ngữ... Tên của những người thân quen có khả năng gợi cho chúng ta những tình
cảm thân thiết, ngọt ngào hay những kỉ niệm về những tháng ngày gắn bó. Địa
danh, không chỉ như vậy mà còn mang ý nghĩa khái quát hơn, thiêng liêng hơn.
Nguyễn Khoa Điềm đã nói về tình cảm của những người đi khai phá vùng đất
mới đối với địa danh, quê hương mình qua câu thơ sau : họ gánh theo tên xã, tên
làng trong mỗi chuyến di dân .
Khi đi vào thi ca địa danh được coi như là ‘ma thuật của âm thanh’. Địa
danh có thể thay đổi và mỗi cái tên đều gợi cho ta về một thời điểm nào đấy của
Ngôn ngữ học
Ngữ âm học Từ vựng học Ngữ pháp học
Danh xưng học
Nhân danh học Địa danh học Hiệu danh học
Sơn danh
học
Thuỷ danh
học
Phương danh
học
Phố danh
học
THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN


riêng và cả nước nói chung, dưới triều Nguyễn đều được Hán Việt hố vì triều
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

15
đại này rất sùng mộ Hán học. Hay sau khi thua trận ở Điện Biên Phủ, thực dân
Pháp rút khỏi Việt Nam, phần lớn tên đường phố ở Sài gòn khơng còn mang tên
người Pháp mà mang tên người Việt Nam (từ năm 1955). Chính vì thế, việc
nghiên cứu địa danh mang lại nhiều ích lợi cho các ngành khác như sử học, địa
lý học, khảo cổ học, ngơn ngữ học, kinh tế học...
2.4.2. ích lợi của việc nghiên cứu địa danh
Việc nghiên cứu địa danh giúp chúng ta xác định thế nào là một địa danh,
có bao nhiêu loại địa danh ở Việt Nam, người Việt có mấy phương thức đặt địa
danh, cấu tạo của địa danh Việt Nam như thế nào, các ngun tắc và phương
pháp nghiên cứu địa danh là gì, những ngun nhân nào khiến một địa danh ra
đời và mất đi, giải quyết những trường hợp nhập nhằng về cách viết hoa địa
danh, soi sáng nguồn gốc và ý nghĩa của nhiều địa danh... Từ đó, chúng ta có thể
khẳng định những đặc điểm có tính truyền thống của địa danh Việt Nam, vạch ra
những tiêu chuẩn để đặt tên địa danh mới,...
Về mặt ngơn ngữ học, việc nghiên cứu địa danh cung cấp những tư liệu
q để nghiên cứu lịch sử tiếng Việt nói chhng, từ vấn đề tiếp xúc ngơn ngữ
(trước hết là tiếp xúc Việt Hán, một ngơn ngữ có ảnh hưởng sâu sắc, lâu dài và
quan trọng đối với tiếng Việt), đến những vấn đề ngữ âm lịch sử, xu hướng biến
đổi từ vựng, ngữ pháp... Việc nghiên cứu địa danh đã giúp ta biết một số từ cổ
nay khơng còn nữa, đồng thời nó cũng giúp ta xác định rõ ràng hơn ý nghĩa của
các từ ngữ địa phương. Ngồi ra, cũng qua nghiên cứu địa danh ta có thể khẳng
định ý nghĩa của một số từ thường xuất hiện trong địa danh...
Mặt khác, địa danh là một phạm trù lịch sử mang những dấu vết của thời
điểm mà nó chào đời. Vì thế, nó được xem là một đài kỉ niệm hay tấm bia bằng
ngơn ngữ độc đáo về thời đại của mình. Nó phản ánh những sự kiện lịch sử diễn
ra trong đời sống của cộng đồng : di dân, chiến tranh, trao đổi văn hố, kinh tế,

còn biểu hiện sự trưởng thành của tư tưởng ấy qua các thời kỳ lịch sử. Như vậy,
ngồi sự biểu hiện đời sống tình cảm, đời sống vật chất của con người, ca dao
còn phản ánh ý thức lao động, sản xuất của nhân dân và tình hình xã hội thời
xưa về các mặt kinh tế và chính trị.
Địa danh Việt Nam xuất hiện trong ca dao chủ yếu là ở trong các lĩnh vực
về tình u đất nước và con người.
Có những câu ca dao về tình u nam nữ nhưng nhân dân ta đã lồng thêm
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

17
vào đó những địa danh để nói lên tình u của mình với người mình u:
Bốn mùa xn hạ thu đơng
Thiếp ngồi dệt vải những trơng bóng chàng
Dừa xanh trên bến Tam Quan
Dừa bao nhiêu trái trơng chàng bấy nhiêu
Hay có những câu ca dao nói về những cảnh đẹp của q hương đất nước.
Ví dụ như đèo Hải Vân xưa nay vẫn được coi là một cảnh thiên nhiên hùng vĩ
của đất nước ta. Do ở gần biển nên đèo Hải Vân càng thêm bát ngát.
Hải Vân bát ngát ngàn trùng,
Hòn Hồng ở đấy là trong vịnh Hàn
Xưa nay qua đấy còn truyền
Lối đi lơ gián thẳng miền ra khơi
Quảng Nam có Cửa Đại cũng bát ngát và đẹp. Nhân dân có kinh nghiệm :
hễ buổi chiều thấy mây đen phủ trên bán đảo Sơn Trà và sóng nổi lên dồn vào
Cửa Đại thì trời sắp mưa. Để nói về hiện tượng thiên nhiên ấy nhân dân có câu:
Chiều chiều mây phủ Sơn Trà
Sóng xơ cửa Đại trời đà chuyển mưa
Hà Nội, kinh đơ xưa của nước ta, nay là thủ đơ của nước Cộng hồ Xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam, được nhân dân ta coi là một đơ thành khơng những đẹp mà
còn là một nơi tích tụ những cái thiêng liêng nhất của tổ quốc.

Phú Thọ, nơi đất tổ Hùng Vương có những đặc sản rất q
Bưởi Chi Đán, qt Đan Hà
Cà phê Phú Hội, đồi trà Thái Ninh
Ở miền Nam, có những quả rất ngon mà miền Bắc khơng có như măng
cụt, sầu riêng. ở miền Nam Trung Bộ , cá, dừa và mít cũng nhiều, Quảng Nam
có sơng Thu Bồn mở ra nhiều nhánh, có rất nhiều cá. Ca dao đã có câu là:
Trà Linh nước chảy đăm đăm
Cá đua dưới vực, rồng nằm Đinh Ơng
Thanh Hố, Nghệ An là những nơi có rất nhiều trầu cau và rất ngon. ở
Quảng Nam trầu cau cũng nổi tiếng là ngon. Và để nói về trầu cau đất Quảng
nhân dân ta đã có câu ca dao
Bồng em mà bỏ vơ nơi
Cho mẹ đi chợ mua vơi ăn trầu
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

19
Mua vơi chợ Qn chợ Cầu
Mua cau Bát Nhị mua trầu Hội An
Khơng chỉ ca ngợi về đặc sản của các địa phương mà ca dao còn ca ngợi
về những con người ở mỗi địa phương.
Miền Nam là miền nhiều dừa nhất ở nước ta. ở Bình Định, có thị trấn Tam
Quan thuộc huyện Hồi Nhơn, ngày xưa nhiều dừa và con gái ở đó cũng có
tiếng là đẹp và có lòng thuỷ chung với người mình u
Dừa xanh trên bến Tam Quan
Dừa bao nhiêu trái em trơng chàng bấy nhiêu
Hay xứ Bắc là đất Kinh Bắc xưa. Đất Kinh Bắc xưa con gái nổi tiếng là
đảm đang và đẹp , còn trai Đồng Nai thì nổi tiếng là gan dạ, anh hùng.
Nồi đồng lại úp vung đồng
Con gái xứ Bắc lấy chồng Đồng Nai
n Thế là q hương Hồng Hoa Thám, nơi có nhiều người lỗi lạc trong

Phỳ Th. Ca dao ó cú cõu kờu gi nhõn dõn c nc hng v t t
Ai v Phỳ Th cựng ta
Vui ngy gi t thỏng ba mng mi
Dự ai i ngc v xuụi
Nh v gi T mng mi thỏng ba
Thnh C Loa huyn ụng Anh (ngoi thnh H Ni) l mt cụng trỡnh
tiờu biu ý thc bo v t nc, chng ngoi xõm u tiờn ca nhõn dõn ta- Tri
qua hng nghỡn nm thnh t vn cũn
Ai v n huyn ụng Anh
Ghộ xem phong cnh Loa thnh thc vng
C Loa hỡnh c khỏc thng
Tri bao nm thỏng no ng cũn õy
Ai ó tng qua sụng Bch ng, u thy cú 2 dũng nc : 1 dũng trong
xanh v mt dũng vỡ phự sa. Theo nhõn dõn thi xa thỡ dũng l mỏu quõn
gic, n nay vn cũn lm vn dũng sụng
Sõu nht l sụng Bch ng
Ba ln gic n ba ln gic tan
Cao nht l nỳi Lam Sn
Cú ụng Lờ Li trong ngn tin ra
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN

21
Về công lao của Lê Lợi ca dao còn có câu
Ai lên Biện Thượng Lam Sơn
Nhớ Lê Thái Tổ chặn đường quân Minh
Ở miền Nam, Nguyễn Huệ phá quân Xiêm trong trận Rạch Gầm vào cuối
thế kỉ XVIII. Nhân dân miền Bắc truyền tụng câu ca dao
Bần Gie đốm đậu sáng ngời
Rạch Gầm soi dấu muôn đời oai danh
Có thể dẫn nhiều ví dụ khác nữa tương tự như những ví dụ trên đây trong

Chng,
V thu danh: sụng Bch ng, h Hon Kim, h Ba B, sụng Lụ, sụng
Tun, m Th Ni,
a danh ch cỏc i tng nhõn to : tng s a danh ch cỏc i tng
nhõn to l 385 trng hp, chim 77,4%. Trong ú, chỳng tụi chia ra : a danh
ch cỏc cụng trỡnh xõy dng gm 89 a danh (chim 17,8% trờn tng s a
danh ch cỏc i tng nhõn to); a danh ch cỏc n v hnh chớnh gm 292
a danh (chim 58,8% trờn tng s a danh ch cỏc i tng nhõn to); a
danh ch cỏc vựng lónh th gm 4 a danh (chim 0,8% trờn tng s a danh
ch cỏc i tng nhõn to).
Vớ d: a danh ch cỏc n v hnh chớnh : tnh Phỳ Th, ụng Anh, Sa
Nam, lng Trn Phng, ph Lai, ph Nhn,..
a danh ch cỏc cụng trỡnh xõy dng : thnh C Loa, ch Gi, cu Thờ
Hỳc, chựa Ngc Sn, ging Vng, bn Vn Lõu,
a danh ch cỏc vựng lónh th : vựng Bi, vựng ụng Yờn,
Kt qu thng kờ v phõn loi a danh trong ca dao c th hin bng sau:
Tiờu chớ Loi hỡnh a danh S lng T l %
TN
D ch cỏc i
tng TN
Sn danh 60
113
12
22,6
Thu danh 53 10,6
Khụng
TN
D ch cỏc i
tng nhõn to
Cụng trỡnh xõy dng 89

mục đích nghiên cứu, đồng thời phải có một cách tiếp cận đa chiều, một cách
phân tích lý giải tổng hợp trên cơ sở của nhiều ngành học có liên quan.
Địa danh Việt Nam trong ca dao là một mảng tương đối trong nội dung
của ca dao. Việc nghiên cứu nó sẽ giúp cho chúng ta hiểu thêm về đất nước, con
người Việt Nam. Giúp hiểu biết về các địa danh trên đất nước Việt Nam về
nguồn gốc và ý nghĩa.
Tính chất đa dạng và phức tạpcủa địa danh trong ca dao đòi hỏi phải có
những phương pháp phân loại và nghiên cứu , trình bày cho phù hợp.
Khi tiến hành khảo sát địa danh ở một vùng lãnh thổ, các nàh nghiên cứu
thường phân loại địa danh theo các tiêu chí khác nhau. Theo tính chất của đối
tượng nghiên cứu , theo nguồn gốc ngữ nguyên hay theo chức năng giao tiếp của
THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN

24
địa danh,… Về thực chất, đó là những quan sát địa danh từ các góc độ khác
nhau. Trong niên luận này, chúng tôi chọn cho mình cách phân loại theo tiêu chí:
đặc tính tự nhiên- không tự nhiên của các đối tượng địa lý và kết hợp với tiêu
chí nguồn gốc ngôn ngữ. THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN

25
CHƯƠNG II
ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA ĐỊA DANH VIỆT NAM THƠNG QUA CÁC
ĐỊA DANH XUẤT HIỆN TRONG CÁC BÀI CA DAO

I. MƠ HÌNH CẤU TRÚC ĐỊA DANH
Khi xem xét vấn đề cấu tạo địa danh, các nhà nghiên cứu đều thống nhất
cho rằng: cần phân biệt một phức thể địa danh gồm hai bộ phận. Bộ phận đứng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status