ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VÃN
NGUYỄN THỊ LAN HINH
KHẢO SẢT ĐẶC ĐIỂM CỦA UYỂN NGỮ TIẾNG HÁN
ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT TƯƠNG ĐƯƠNG
■
(TRÊN Cứ LIỆU CỦA HAI NHÓM UYỂN NGỮ CHỈ "CÁI CHẾT" VÀ "GIỚI TÍNH")
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN NGÔN NGỮ
MÃ SỐ: 5.0408
LUẬN VĂN THẠC sĩ KHOA HỌC NGỮ VÃN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN VĂN KHANG
MẢ NỘI - 2004
Ill
Mở đ ầ u 1
1. Lý do cliọn đề tà i 1
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứ u 1
3. Mục đích của luận văn 2
4. Phương pháp nghiên cứu 2
5. Tư liệu 2
6. Ý nghĩa lý luận và tliực tiễn 2
7. Dô cục của luận văn 3
Chương 1: Cơ sở lý luận: Một sô vấn đề lí thuyết về uyển ngữ có liên quan đến dề
tài khảo sát 4
1. Sự xuất hiện của khái niệm uyển ngữ 4
1.1. Lịch sử kiêng kỵ và sự ra đời của khái niệm uyển ngữ
4
l .2. Khái niệm uyển ngữ 17
2. Một sô'phương thức cấu tạo uyển ngữ 23
Chức năng hay công dụng của uyển ngữ 24
/. Đặc điểm cùa uyển ngữ chỉ "quan hệ tính giao" được thê hiện trong tiêng Hán (có
dối chiêu vói sự tliểhiện trong tiếng Việt) 77
1.1. Xét trên bình diện Iigôn ngữ học 80
X7
1.2. Xới trên bình diện vân hoá, xã hội
2. Đặc điểm của uyển ngũ cliỉ các bộ plìận cơ thể có liên quan đến giói tính đưọc thế
hiện trong tiếng Hán (có dôi chiếu vói sự thể hiện trong tiếng Việt) 97
2.1. Xét trên bình diện ngôn ngữ học Qg
2.2. Xét trên bình diện văn lioá, xã hội
102
2 .3 . N h â n A VI ỊQg
3. Đặc diêm của uyển ngữ chỉ "hiện tượng kỉnh nguyệt" của phụ nữ được thể hiện
trong tiếng ỉỉán (có đối chiếu vói sự thể hiện trong tiếng Việt)
109
3.1. Tron ạ liếirg Hán 110
3.2. Trong tiếng Việt 1 ^
4. Tiêu kết
115
K ế t l u ậ n 116
Tài liệu tham khảo 118
Phụ lục
iv
1
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Sự sản sinh ra uyển ngữ bắt đầu từ việc kiêng kỵ. Các dàn tộc trên thế
giới đều có những điều kiêng kỵ, vì thế, sự xuất hiện uyển ngữ và việc sử dụng
uyển ngữ trong ngôn ngữ là có tính phổ quát. Uyển ngữ có nguồn gốc lâu đời
trong tín ngưỡng, tạp tục, tôn giáo, tâm lý của con người. Uyển ngữ dược sử
hiện nay về uyển ngữ và cách phân loại uyển ngữ.
- Chỉ ra những đặc điểm chung và những đặc trưng khu biệt của uyển
ngữ tiếng Hán và uyển ngữ tiếng Việt thuộc nhóm uyển ngữ chỉ "cái chốt" và
nhóm uyển ngữ chỉ "giới tính" dưới tác động của các nhân tố trong ngôn ngữ
và ngoài ngôn ngữ.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚƯ
Trong luận văn này chứng tôi sử dụng phương pháp diễn dịch, quy nạp,
đối chiếu.
Thống kê và xử lý tư liệu theo phương pháp định tính và định lượng.
5. TƯ LIỆU
- Tư liệu tiếng Hán và tư liệu tiếng việt dựa trên các cuốn từ điổn, các
tác phẩm văn học, các bài đã đăng tải.
6. Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỤC TLẼN
a. Ý nghĩa lý luận
- Luận văn góp phần giới Ihiệu một hệ thống khái niệm về uyển ngữ và
các quan niệm hiện nay về uyển ngữ - một đề tài còn chưa được nhiều người
quan tâm đến trong công tác nghiên cứu ngôn ngữ.
- Nêu bạt những nét lương đồng và khác biệt trong uyển ngữ tiếng Hán
và trong uyển ngữ tiếng Việt thuộc nhóm "cái chết" và nhóm "giới tính" dưới
tác động của các nhân tố trong ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ.
3
b. Ý nghĩa thực liễn
Luận văn góp phẩn nêu đưực những nét lương đồng và khác biệt của
uyển ngữ liếng Hán và uyển ngữ tiếng Việt thuộc nhóm 'cái chết" và nhóm
"giới tính". Qua đó, thấy dược đặc trưng văn hoá xã hội, thói quen, tập tục,
kiêng kỵ và tín ngưỡng của hai dân tộc Việt Hán. Kết quả nghiên cứu cũng
giúp cho người học tiếng Hán hoặc tiếng Việt với tư cách là một ngoại ngữ
tránh dược những sai sót do sự khác biệl về văn hoá, xã hội hay kiêng kỵ
mang lại. Đồng thời cũng có thể giúp gợi mở khi dịch thuật gặp phải các
trường hợp có uyển ngữ.
quan tâm.
Chúng ta có thể thấy rằng, đằng sau mỗi việc kiêng kỵ đều có những
nỗi lo âu, sợ hãi xảy ra rủi ro tai hoạ mà con người thời cổ tin rằng có thể qua
khỏi được bằng cách kiêng kỵ. Chẳng hạn đêm ba mươi Tết kiêng đi ra đường
sợ gặp quỷ đói vào làng tìm kiếm thức ăn, kiêng quél nhà trong ngày mùng
một TỐI vì sợ quanh năm động thổ v.v Nhưng không phải tất cả những gì lo
5
sự đều là đối tượng của khái niệm kiêng kỵ. Ví dụ tục kiêng di biển vào mùa
biển động vì lo dông bão, tục nuôi tằm kiêng gió lây, v.v thì ý nghĩa không
hoàn toàn giống với các thứ kiêng kỵ khác như kiêng ăn chân gà vì sợ viết run
tay hoặc di buôn bán kiêng ăn cơm khê vì sợ không may. Ở hai tập lục kiêng
kỵ trcn chúng ta nhận Ihấy tính lôgic giữa nguyên nhân và hành động kiêng
kỵ: giữa mùa hò mà có gió tây là thời tiếl Ihay đổi dột ngột, tằm dễ bị chết.
Còn hai tục kiêng sau thì không thể giải thích nguyên do. Năm 1913 Phan Kế
Bính đã liệt kê 46 điều kiêng kỵ của người Việt Nam như: kiêng ngày xấu,
ngày mùng một đàu năm, đầu tháng, v.v Thực ra trong sách của ông rải rác
ở nhiều chương khác chúng ta còn có thể nhặt thêm được vài chục điều kiêng
kỵ khác nữa như: không bế con trao cho người khác qua cửa, v.v
Nói đến kiêng kỵ là phải nhắc đến sự ra đời của tabu. Vào thế kỷ 18,
nhà hàng hải người Anh James Cook đến quần đảo Tonga Nam Thái Bình
Dương, khi tiếp xúc với cư dân ở đây ông phát hiện thấy họ có rất nhiều hiện
tượng xã hội kỳ lạ. Chẳng hạn, một số đồ vật chỉ đặc biệt giành cho những
người thuộc tầng lớp trên (thần, lăng lữ, vua, tù trưởng, ) sử dụng mà không
cho phép dân Ihường sử dụng, hay chỉ cho phép sử dụng vào mục đích đặc biột
mà không cho phép sử dụng vào mục-đích bình thường hoặc không cho phép
một nhóm người (như phụ nữ) sử dụng. Cư dân ở đây gọi kiểu cấm kỵ này là
"tabu". Từ "tabu" sau này đã thâm nhập vào các lĩnh vực của các bộ môn như
Nhân loai học, Nhân chủng học, Xã hội học, làm thành một loại danh từ
chuyên dụng chỉ những hiện lượng xã hội đặc biệt (kiêng kỵ) và được sử dụng
rộng rãi. Hiện tượng "tabu" bao gồm hai mặt: một mặt lci những vât linh Ihiêng
. Từ "huý" có ba nghĩa: 1) tránh, kiêng; 2) giấu; 3) ten người. Vì vậy, kiêng
huý tức là kiêng lên người, có nghĩa là tránh nói, viết tên người.
Thông Ihường người la phân biệt kicng huý làm hai loại: Tư huý (bao
gồm gia huý, tộc huý, hương huý) và công huý (cũng gọi là quốc huý). Việc
kiêng gia huý, tộc huý tuỳ theo quy định của từng gia đình, gia tộc. Ngoài việc
7
thờ cúng lổ liên ở các hương ấp như ở Trung Quốc, làng xã ở Việt Nam còn có
tục thờ Thành hoàng với ý nghĩa iưởng nhớ những người có công Irong quá
trình hình thành và phát triển hương ấp: nhà phú hộ, quân nhân, văn nhân, Ihợ
thủ công, v.v Nói chung là những người đã có những kỳ lích nào đó khiến
cho hương ấp của họ trở Ihành nổi tiếng. Cùng với những quy định khác như
kiêng màu sắc, mùi vị, nước, lửa thần huý là mộl khoản mục kiêng huý của
cộng đồng hương ấp gọi là hương huý. Ngoài ten huý của thần Thành hoàng,
lnrưng huý còn bao gồm tôn huý của các vị thần khác được thờ Irong hương ấp
nếu cộng dồng hương ấp thừa nhân đó là vị thần chung của họ. Quốc huý bao
gồm: ngự danh hoặc ngự huý là tôn huý của vua và hoàng hậu đương triều.
Miếu huý là lên huý của các đời vua trước, lức là tên huý của ông bà cố của
vua, tuỳ theo quy định cụ thể. Khác với các loại tư huý có tính chất quy ước,
tục lệ, thuộc phạm trù đạo đức cộng đồng, quốc huỷ do triều đình ban bố bằng
các chỉ dụ luật lệnh có lính chất bắt buộc Ihuộc phạm trù pháp luâl, có hiệu
lực thi hành trong toàn quốc. "Iuy vậy, xél về loại hình kiêng kỵ thì các loại
kiêng liuý nói chung đều cùng một loại kiêng kỵ là kiông gọi tên riêng, kể cả
tên người và tên các thần thánh vì lên thần Ihánh chủ yếu là tên người và tên
do con người đặt ra. Tập tục kiêng lên riêng phản ánh một phương diện quan
trọng trong tâm lý giao tiếp xã hội của những dân tộc trong khu vực có kiêng
huý như Trung Quốc, Việt Nam và một số cộng đồng khác. Nhưng quan niệm
lau đời của người Trung Quốc người Việt Nam có xu hướng thiêng liêng hoá
tên gọi, coi lên ricng có quan hệ trực tiếp với số phận của con người và họ cố
gắng khống chế tên gọi trong phạm vi có thể kiểm soát được. Tín ngưỡng thờ
linh hồn người chết cũng là một nguyên nhân hình thành tục lệ kiêng huý.
tục tập quán của họ trong đó có tập tục kiêng huý. Tập tục này có những điểm
phù hợp với tâm lý ứng xử của người Việt, thể hiện tình cảm tôn kính tổ tiên,
kính trọng người già, củng cố quan hệ Uuyền thống tốt đẹp trong gia đình,
trong cộng đổng làng xã. Mặt khác, dưới thời Bác ihuộc, chữ Hán được truyền
dạy ở Giao Châu, các sách Kinh truyện và Bắc sử thông qua các nhà trí thức
9
người Việt có những ảnh hưởng dáng kể Lrong xã hội, lạo điều kiện thuận lợi
cho việc tiếp ihu một nếp sống văn hoá llieo linh thần Nho giáo. Vì vậy, lừ
thời kỳ độc lập, tập tục kiêng huý đã trở thành một bộ phận của phong tục, tập
quán người Việl. Ở Việt Nam trước đây người ta đặt lên huý (tên chính) muộn
mần cổ lc để ma quỷ không thổ biết chính xác đứa trẻ mà chúng muốn làm
hạ:. Người Việt cũng gọi tên theo lên con, tên cháu đích tôn. Khi chết thì
không dùng tên huý (ten chính) mà đặt tên hèm để cúng giỏ, có thể do đổ
tránh trùng tên của lổ tiên hay họ hàng (kể cả nội ngoại) tránh các huý hiệu
của linh thần thánh mẫu, Thành hoàng, tên các quan, các bậc vua chúa. Cũng
vì do kiêng tên mà có nhiều chữ đã đổi sang lừ khác như "hoàng" thành
"huỳnh"; "hoa" thành "huê"; "phúc" thành "phước" v.v Khi đi thi, các thí
sinh ngày xưa phải nhất nhất tôn trọng lệ kiêng huý, lúc làm bài họ không
được viết các chữ tên nhà vua và các vị tôn tộc trực hệ. Thâm chí lên các vị lổ
liên nhiều đời trước tuy có llìổ dùng nhưng phải thêm bớt ncl khác di đôi chút.
0 các trường thi xưa đều niêm yết bảng liệt kê những chữ huý. Sĩ lử sẽ bị lội
nhẹ hay nặng tuỳ theo mức độ phạm huý. ở nhiều vùng nông thôn ngày nay,
nhiều người kiêng sợ không gọi tên con khi đêm ử nơi àm u lĩnh mịch vì cho
rằng ma quỷ có thể biết mà nhập vào con trẻ theo tên để hành hạ nó.
Dẫn ra vài điều trên cho Ihấy, người Việt xưa cũng tin vào mối liên hệ
vệt chất giữa cái tên và con người mang lên đó. Niềm tin này cũng được phản
ánh trongviệc đặt tên tầm thường xấu xí cho con để là ma không chú ý đến
đứa trẻ hoặc đặt tên có những âm mang ý nghĩa tốt đẹp để con cái nhờ đó mà
phát đạt.
Với người nguyên thuỷ thì họ không thể phân định rạch ròi giữa từ ngữ
nói tên người đã khuất trước mặt thân nhân của họ bị coi là một sự lăng mạ
ghê gớm, đến nỗi nhiều người vi phạm bị tội chết. Nhiều bộ lạc tránh nhắc đến
tên người đã chết, không đặt phụ danh (tên cha) cho tên mìmh. Ở úc và Bắc
Mỹ có những bộ lạc buộc người có tên trùng với tên người đã chết phải bỏ cái
tên dó đổ lấy lên khác. Một số hộ lạc đổi tên thân nhân của người chốt bằng
các uyển ngữ có tính mô tả trong giai đoạn để lang, và nhiều khi do hất cẩn
buộl miệng nhắc đốn tên thậl của người đang có tang đã dẫn đến những xung
đột đẫm máu. Nguyên nhân ở dây là nỗi sợ hãi về việc âm Ihanh của tên người
quen có thể không dẫn linh hồn dang lang thang của người chết về nhà cũ của
anh ta mà tới quấy nhiễu người khác. Khi tên của ngưừi chết trùng với lên mộl
sự vật nào đó như động vật, cây cỏ, lửa, nước thì chính từ đó bị loại bỏ khỏi
khẩu ngữ và được thay bằng tên mới. Có lẽ đây cũng là một nguyên nhân
khiến cho từ vựng của các ngôn ngữ thay đổi nhanh chóng.
Cũng giống như ở Việt Nam, Trung Quốc, nhiều bộ tộc trên thế giới
kiêng nhắc lên các vị quân vương, hoàng đố. Ở Trung Phi nếu như thủ lĩnh hộ
lạc Bakim chết thì tên ông lập lức dưực loại trừ khỏi ngôn ngữ của bộ lạc, nếu
cái tên đó trùng với lên loài thú nào thì loài Ihú đó phải được đặt lên mới.
Con người lấy hình ảnh của mình dể sáng tạo ra lliàn, đại diện của thần
chính là lượng. Thẩn do con người tạo ra là sự xuâ't hiện hình thức của tượng
trong thế giới hiện thực. Chưa ai từng nhìn Ihấy một vị thần sống thật nào cả.
Bản thân bức lượng chẳng có gì là thần bí, nó hoặc giả làm bằng đất hoặc giả
bằng đá khắc hay gỗ khắc hoặc dùng kim loại mà đúc ra, nó vốn là do con
người chế tạo ra, trên thực tế nó là một đồ vật chết không thể có mộl chút sức
lực nào, càng không thể nói là có sức mạnh siêu phàrn, thần bí. Nhưng ở xã
hội chưa phân chia giai cấp, tức là ở chế độ công xã nguycn thuỷ, con người
phải đối mặl với sự uy hiếp của các thế lực lự nhiên mà không Ihể khắc phục
được như bão lụt, sấm sét, hạn hán, v.v họ đcm lất cả những điều mong mỏi,
cầu xin hy vọng, thậm chí cả lời nguyền rủa gửi gắm vào Ihứ đồ vật không có
sức sống là tượng. Tượng chính là hoá thân của thần. Đối với thần đã được vật
chất hoá (tức là đã trở thành vật) con người đã trao cho nó một sức mạnh siêu
"chồn" dược gọi là "Hoàng Đại Gia", "cáo" được gọi là "Đại Tiên Gia".
Nguyễn Quý Thành Irong nghiên cứu về những kiêng kỵ trong ngôn ngữ ngư
dân vùng hiển Nam Trung bộ còn cho biết, ngư dân vùng này xcm cá voi như
13
một phúc thần đáng tôn kính và thờ cúng vì có liên quan đến đời sống đánh
hắt của ngư dân. Tập tục này thể hiện truyền Ihống ơn nghĩa của người Việt, vì
thế họ sử dụng lừ "ông" để chỉ loại cá này. Một khi cá voi chết dạl vào bờ, thì
họ gọi là "ông luỵ" "bà luỵ", nếu cá voi dạt vào bờ mà chưa chết thì gọi là
"chưa lử", v.v
Có thể nói, hàng loạt những sinh hoạt thuộc về cá nhân đã được "uyển
hoá" trong sử dụng ngôn ngữ. Ví dụ:
Chốt là một hiện tượng lự nhỉên bất khả kháng, klìồng ai có thể Iránh
được. Nhưng mọi người đối với cái chết vẫn có cảm giác sự hãi, chốt vẫn là
nỗi trăn trở của mọi thế hệ con người. Chính vì cái cảm giác khó tả, vì dự cảm
về sự ra đi lần cuối ấy mà ở Irong mọi ngôn ngữ đều tồn tại một lượng lớn
uyển ngữ dùng để thay thế nó như : “trăm tuổi”, “tạ thế”, “hai năm mươi”, “từ
trần”, “băng hà”v.v Trong tiếng Anh cũng có rất nhiều uyển ngữ thế cho từ
"to die" (nghĩa là chết): "to pass out of the picture" "to lay down one’s life",
"to go to the last round up"
Về sinh lý con người có nhiều từ vốn được quy ước là tục, vì vậy trong
lĩnh vực này đã nảy sinh ra nhiều uyển ngữ. Để tránh từ "đánh rắm" người ta
dùng từ "trung tiện", " đánh địt". Trong tiếng Hán người ta dùng lừ "phóng
khí", "hạ khí" "tiết khí" để Ihay cho từ "phóng thí" (đánh rắm).
Người ta kiêng nhiều từ bị coi là bẩn thỉu, thô lậu, như: "đi ỉa" được gọi
là "đi ngoài", "đi đồng", " đi cầu", "đi đằng sau" v.v Tiếng Hán dùng những
uyển ngữ như:" tới phòng rửa lay", "đi ra ngoài một chút"
Bệnh tật và bị thương là do những sự cố khách quan hoặc tự nhiên tác
dộng vào con người nên vốn là việc khó tránh, nó ảnh hưởng tới sức khoẻ của
còn người, làm cho người ta khổ sở đau đớn. Con người luôn mong mỏi bản
thân và những người xung quanh đểu bình an vô sự, khoỏ mạnh, vui vẻ. Chẳng
che dấu, có gì mà phải kiêng kỵ? Đó là hiện tượng sinh lý tất yếu ở người phụ
nữ Irưởng thành. Thế nhưng xã hội nào cũng đều ngại ngùng khi nhắc đến lên
của nó. Người ta dùng những lừ 'không lôì", "không ổn" "cô ấy đang ở trong
15
chu kỳ" "trong hoa kỳ" "ngày khó nói" "ngày u uất" là những uyển ngữ để
thay thế cho lừ "kinh nguyệt", ở Việl Nam, khi dang ử trong kỳ kinh nguyệt
người la hay dùng từ "đang bị" "bẩn mình". Theo quy định của chính phủ
Trung Quốc, nữ cán bộ công nhân viên tới kỳ kinh nguyệt đều có thổ được
nghỉ mấy ngày mà không bị trừ lương nên trong tiếng Hán hiện đại xuất hiện
từ "kỳ nghỉ" để chỉ kinh kỳ của phụ nữ như "mấy hôm nay cô ấy đang trong
kỳ nghỉ" để chỉ mấy hôm nay cô ấy đang hành kinh.
Cũng vậy, có Ihai cũng là điều mà người ta ngại ngùng khi nói đến, vì
thô' cũng xuất hiện nhiều uyển ngữ để Ihay thế như "có tin mừng rồi", "thòm
chua rồi", "sắp làm mẹ rồi" Cũng như đối với các biện pháp tránh thai, người
la có cách nói uyển chuyển dỗ nghe là 'kế hoạch hoá gia đình". Ngay cả đối
với các dụng cụ tránh thai như bao cao su (condom) người ta cũng dùng những
uyển chuyển để nói tránh như "áo mưa" "ủng" Từ "lính giao"ngoài sự xuất
hiện trên sách háo y học ra nếu nói ra miệng thì thật là thô tục. Người ta đã tạo
ra biết bao nhiêu là uyển ngữ để chỉ loại sinh hoạt này như: "chung chăn gối"
"di lại", "ân ái", "ngủ" "cuộc mây mưa". "Sinh thực khí" cũng là lừ không thể
nói ra mội cách tuỳ liện nên người la bèn tạo ra rất nhiều từ để thay thế. Ngay
cả sinh Ihực khí của trẻ cm cũng dùng từ ihay thế. Ví dụ, sinh Ihực khí của trỏ
cm trai được gọi là "chim", "con lằm", "quả ớt" của trẻ cm gái thì dược gọi
là "bướm". Nếu cứ theo tên dúng mà gọi thì không tránh khỏi bất nhã.
Các biến đổi về mặt khoa học kỹ thuật, văn hoá, xã hội và giao lưu quốc
tế ở thế kỷ 20 này đã lạo ra nhiều vấn đề phức tạp và tế nhị hơn mà vai trò của
uyển ngữ tỏ ra rất quan trọng. Lình vực thứ nhất dó là lĩnh vực công việc nghề
nghiệp. Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã làm thay đổi thái độ và cách nhìn
của xã hội đối với vấn đề nghề nghiệp cũng như thất nghiệp. Một khuynh
hướng muốn làm lăng them tầm quan trọng đối với các nghề nghiệp bình
m ộl số uyển ngữ phản ánh hoàn cảnh mới của cộng đồng quốc tế. V í dụ, "các
nước phái triển " và "các nước đang phát triển". Nếu không cho cụm từ "các
nước phát triển" là uyển ngữ thì cụm lừ "các nước đang phát triển" là uyển ngữ
17
chính cống. Sau Đại chiến thế giới thứ hai, các nước thuộc địa liên tiếp giành
dược độc lập, các dân tộc và các quốc gia bấl kể lớn nhỏ đồu hình đẳng, các
nước lớn và các nước nhỏ có địa vị ngang nhau chí ít là trên giấy tờ, là ở bề
ngoài. Gọi là "các nước lạc hậu" thì có vẻ khinh thường, gọi là các nước
"không phát Iriển" thì cũng vậy. Thế nên, mới có cụm uyển ngữ là "các nước
đang phát triển" để tỏ ý rằng, các nước này dang phát triển lương lai có thể sẽ
phái triển tới trình độ rất cao mà trình độ hiện nay không làm cho ta phấn khởi
thì lam không nhắc đốn.
Uyển ngữ trong chính trị được dùng rất rộng rãi. Ví dụ, người ta ihường
dùng các từ chỉ phương vị là Đông, Tây, Nam, Bắc để tạo thành uyển ngữ. Khi
người ta nói "các nước phương Tây" là để chỉ các nước tư bản chủ nghĩa Âu
Mỹ; "các quốc gia phương Đông" là để chỉ Liên Xô và các nước xã hội chủ
nghĩa Đông Âu, có lúc còn để chỉ chung các nước xã hội chủ nghĩa.
Trong quan hệ ngoại giao quốc tế, người ta cũng hay dùng uyển ngữ.
Để thể hiện bầu không khí yến tiệc ngoại giao, ngầm biểu hiện mức độ quan
hệ, người la thường dùng một số uyển ngữ để miêu tả loại yến tiệc này. Trong
hộ lừ điển "Thuật ngữ quan hệ quốc tế" do Tây Đức xuất bản có tới 16 kiểu
nói. Từ "trong bầu không khí Ihân thiết" cho đến "trong bầu không khí hữu
hảo và vô cùng hiểu biết lẫn nhau" đều có thổ làm phương thức biểu thị của
uyển ngữ, người ta có thổ từ những uyển ngữ này mà đoán ra mức độ thân
thiết của hai bên.
Ngay trong khoa học cũng cần đến uyển ngữ. Ví dụ như trong ngành
tâm lý học, các nhà khoa học đã dùng uyển ngữ để đặt thuật ngữ, như "hâm,
dở hơi" thay bằng "nhiễu tâm; "đần độn" Ihay bằng "chậm khôn"; "điên
khùng, loạn óc" được Ihay bằng "loạn tâm".
1.2. Khái niệm uyển ngữ
dài, và sau khi mang dấu ấn của khái niệm như thế thì uyển ngữ cần được đổi
mới. Như vậy, uyển ngữ gắn bó chặt chẽ với tâm lý tình cảm của con người.
19
1.2.2. Tác dộng của các nhản tô văn hoá, xã hội đối vói việc hình
thành và sử dụng uyển ngữ
Các nhà khoa học đều thừa nhận rằng giữa ngôn ngữ và văn hoá, giữa
ngôn ngữ dân lộc và văn hoá dân tộc có mối quan hệ gắn hó chặt chẽ. Chúng
tác dộng qua lại lẫn nhau. Các phạm vi của văn hoá và ngôn ngữ gắn bỏ với
nhau, nhưng thường thường, luy quyết định sự lổn tại của nền vãn hoá bằng
ngôn ngữ nhưng chính ngổn ngữ lại cũng là một thành tố của nền văn hoá dân
tộc. Là một thành tố của nền văn hoá linh thần, ngôn ngữ giữ mộl vị trí đặc
biệt trong đó. Bởi vì, ngôn ngữ là phương tiện tất yếu và là điều kiện cho sự
nảy sinh phát triển và hoạt động của những thành tố khác trong văn hoá. Ngôn
ngữ là một trong những thành tố dặc trưng nhất của bất cứ nền văn hoá dân tộc
nào. Chính trong ngôn ngữ, đặc điểm của nền văn hoá dân tộc lưu giữ lại rõ
ràng nhất. Ngôn ngữ là phương tiện tự bảo toàn của một dân tộc và đồng thời
cũng là phương tiện tách biệt dân tộc này khỏi các nền văn hoá dân tộc khác.
Trong phạm vi một cộng đồng ngôn ngữ - văn hoá, ngôn ngữ lại đóng vai trò
là phương tiện licn hệ, kế thừa giữa các ihế hộ trong sự phát triển tinh thần của
họ. Sở dĩ như vạy là vì như các nhà nghiên cứu đã chỉ ra, kinh nghiộm lịch sử -
xã hội của một dân lộc về CƯ bản được tàng trữ và lưu truyền trong không giãn
và thời gian ở hình Ihức ngôn lừ (dưới hình Ihức ý nghĩa của lừ). Chính trong ý
nghĩa của lừ đã lưu giữ lại sự hiểu biết về thế giới khách quan ở Irình độ mà
một xã hội có thể đạt được trong giai đoạn phát triển lịch sử nhấl định. Nhờ có
sự giao tiếp nói năng và thông qua nó, con người mới có thể thu nhận được ở
dạng có sẵn kinh nghiệm xã hội dã dược tất cả các thế hệ liền bối đúc kết, tích
luỹ và hệ thống hoá. Vì thế, ngôn ngữ "là tấm gương thực sự của nền văn hoá
dân tộc" Iheo cách nói của E.M. Veresalin và V.G. Castomarop. Ngổn ngữ là
yếu tố văn hoá quan trọng hàng đẩu mang sắc thái dân tộc. Từ đó, có thể thấy
lác động của văn hoá đối với ngôn ngữ là rất to lớn. Sự đặc thù của văn hoá
hoà Ihuận trên cơ sở lấy lình nghía làm đầu. Chính vì tâm lý muốn sống thuận
21
hoà êm ấm với xung quanh ncn khi giao tiếp người Việt Nam rất tế nhị và có
thói quen "vòng vo tam quốc" không hao giờ mở đầu trực liếp đi thẳng vào
vấn đề như người phương Tây lừ đố nảy sinh ra cách nói uyển chuyển và uyển
ngữ. Ví dụ: do tin rằng nếu khen một đứa trẻ là bco là đẹp thì tà ma sẽ chú ý
đến mà làm hại đứa trẻ nên người ta nói như thế này "trông thằng hé dề ghét
quá". Với người lớn thì không chê là béo mà dùng uyển ngữ "phát tướng".
Do ảnh hưởng sâu sắc của tinh thần triết lý âm dương ngũ hành nên
người Việt cho rằng khi chết thì hồn đi từ cõi dưưng sang cõi âm, đó là thế
giới bên kia. Ở vùng nông nghiệp sông nước này thì "thế giới bên kia" cũng là
nơi sông nước ngăn cách chúng la bằng chín suối. Niềm tin rằng chết là về với
tổ tiên nơi chín suối, Ún rằng ở nơi chín suối nhưng ông bà tổ tiên vẫn Ihường
xuyên đi về thăm nom, phù hộ cho con cháu là cơ sở hình thành tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên, ở người Việt nó rất phát triển gần như trở thành mộl thứ tôn
giáo (nhiều nơi gọi là Đạo ông bà), ngay cả những gia đình không tin Ihần
thánh cũng đặt bàn Ihờ tổ tiên trong nhà. Tín ngưỡng ihờ linh hồn người chết
cũng là một nguyên nhân hình thành tục lệ kiêng húy. Trong mỗi gia đình, gia
tộc hình thành một nhóm gia huý, tộc huý mà các thành viên trong gia đình,
gia tộc cần biết để kiêng tránh. Đặt tên con, cần nhất là không được trùng với
tên của những người bề trcn của gia đình, gia tộc cũng như ngoài xã hội. Tín
ngưỡng Ihờ thần của Việt Nam không chỉ đóng khung trong trong phạm vi gia
dinh mà Irong thôn xã còn có Ihờ thần làng. Thần làng mà sau này gọi là
Thành hoàng là những vị có tên tuổi, tước vị rồ ràng, là những người có công
lập ra làng xã, những anh hùng dân tộc liên quan đến làng. Ngoài những vị
Thành hoàng dược vua thừa nhận, có nhiều làng còn thờ làm Thành hoàng cả
những người vốn là trẻ con, ăn mày, ăn trộm, người mù, người gắp phân loại
thần này bị gọi là tà thần, nhưng theo niềm tin của dân làng vì chếl vào giờ
thiêng nên đã ra oai (gây dịch bệnh, hoả hoạn ) khiến cho dân ỉàng nể sợ.
Với những vị Thành hoàng người ta cũng kiêng không bao giờ gọi Lên huý.