Khảo sát đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa của diễn ngôn có mục đích kêu gọi (lời kêu gọi - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


VŨ THỊ OANH

KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC - NGỮ NGHĨA
CỦA DIỄN NGÔN CÓ MỤC ĐÍCH KÊU GỌI
(LỜI KÊU GỌI)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


4. Phương pháp nghiên cứu 3
5. Cấu trúc của luận văn 4
Chƣơng 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
1.1. Khái niệm diễn ngôn 5
1.2. Phân tích diễn ngôn 8
1.3. Đặc tính của diễn ngôn và phân loại diễn ngôn 11
1.3.1.Đặc tính của diễn ngôn 11
1.3.2. Phân loại diễn ngôn 12
1.4. Diễn ngôn chính luận 16
1.4.1. Phong cách chính luận 16
1.4.2. Đặc điểm ngôn ngữ trong phong cách chính luận 16
1.4.3. Kết cấu của diễn ngôn chính luận 18
1.5. Khái niệm diễn ngôn có mục đích kêu gọi - Lời kêu gọi 19
1.6. Một số nét sơ lược về diễn ngôn Lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch 22
Tiểu kết chương 1 23
Chƣơng 2: ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CỦA DIỄN NGÔN LỜI KÊU GỌI 24
2.1. Cấu trúc tổng thể của các kiểu loại văn bản 24
2.2. Một số đặc điểm về cấu trúc của văn bản thông thường 24
2.3. Cấu trúc tổng thể của diễn ngôn Lời kêu gọi 28
2.4. Đặc điểm của các thành phần trong cấu trúc diễn ngôn Lời kêu gọi 30
2.4.1.Đặc điểm cấu trúc phần tiêu đề 30
2.4.2. Đặc điểm cấu trúc phần hô gọi 34
2.4.3. Đặc điểm cấu trúc phần kết 45

2.5. Một số kiểu loại cấu trúc của diễn ngôn Lời kêu gọi 49
2.5.1. Nhóm cấu trúc đơn 50
2.5.2. Nhóm cấu trúc thiếu 54
2.5.3. Nhóm cấu trúc kép 58
Tiểu kết Chương 2……………………………………………………… 64


Hình 2.5. Bảng các ví dụ về các kiểu dạng Tiêu đề cụ thể 32
Hình 2.6. Mức độ xuất hiện của câu hô gọi trong phần Hô gọi 35
Hình 2.7. Cấu trúc tổng quát và ví dụ phần Hô gọi 37
Hình 2.8. Biểu đồ sử dụng từ hô gọi trong câu hô gọi 39
Hình 2.9. Khung cấu trúc và các dạng Kết có mục đích khẳng định 46
Hình 2.10. Khung cấu trúc và các dạng Kết có tính chất tung hô 47
Hình 2.11. Sơ đồ cầu trúc thiếu 58
Hình 3.1. Tỷ lệ sử dụng cấu trúc Hỏi - Đáp 78
Hình 3.2. Biểu hiện sự mạch lạc trong diễn ngôn 81
Hình 3.3. Tỷ lệ sử dụng thành ngữ phân theo nguồn gốc 92

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phân tích diễn ngôn là một lĩnh vực còn khá mới mẻ trong nghiên cứu
ngôn ngữ học. Những vấn đề cơ bản của nó đã và đang được các nhà khoa
học trong và ngoài nước tập trung nghiên cứu. Bên cạnh những nghiên cứu
mang tính chất lý luận nhằm tìm ra những đặc điểm, phạm trù, thông số của
diễn ngôn so với một loại đơn vị mà cho tới nay vẫn còn không ít ý kiến cho
rằng chúng đồng nhất, đó là văn bản, hoặc triển khai nghiên cứu phân tích
diễn ngôn ở các giai đoạn phát triển của nó, từ phân tích diễn ngôn đến phân
tích diễn ngôn phê bình, phân tích diễn ngôn hội thoại…, việc áp dụng các lý
thuyết của phân tích diễn ngôn vào phân tích các kiểu dạng diễn ngôn/văn bản
cụ thể cũng thu hút sự quan tâm của không ít nhà nghiên cứu. Ở Việt Nam, có
thể kể tới công trình nghiên cứu diễn ngôn Bản tin (tiếng Anh) của Nguyễn
Hòa, diễn ngôn Phóng sự của Nguyễn Thị Thanh Hương… Ngoài ra còn rất
nhiều tác giả chọn một kiểu loại diễn ngôn cụ thể như diễn ngôn/văn bản quy
phạm pháp luật, diễn ngôn/văn bản hành chính, diễn ngôn/văn bản xã luận…
làm đối tượng nghiên cứu của các luận văn cao học. Tuy vậy, có thể nói cho
tới nay, diễn ngôn có mục đích kêu gọi (gọi tắt là Lời kêu gọi) vẫn chưa được

toàn tập” từ tập 4 đến tập 7 (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản lần
thứ 3, năm 2000) và một số văn bản của các tác giả và tổ chức khác như
Lời kêu gọi của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban
chấp hành Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam Thực tế, vẫn còn có
một số văn bản có mục đích kêu gọi như Hịch hoặc Chiếu của các tác giả
trước đây. Tuy vậy, luận văn này chỉ hạn chế phạm vi nghiên cứu các Lời
kêu gọi từ năm 1945 trở lại đây.

3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở tiếp thu những nghiên cứu của một số tác giả đi trước,
luận văn đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu cho việc vận dụng lý thuyết về phân tích
diễn ngôn để khảo sát các Lời kêu gọi nhằm phát hiện và làm rõ:
- Đặc điểm cấu trúc tổng thể và đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa các thành
phần cấu thành nên diễn ngôn Lời kêu gọi;
- Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ của các diễn ngôn Lời kêu gọi, trong đó
chú ý đến việc sử dụng các yếu tố thực hiện chức năng liên nhân;
- Phân tích và so sánh để thấy được nét đặc trưng, sự khác biệt về mặt
cấu trúc - ngữ nghĩa, đặc điểm trong sử dụng ngôn từ của các diễn ngôn Lời
kêu gọi của các tác giả, chủ yếu là của Hồ Chủ Tịch so với các tác giả khác
qua các thời kỳ, qua đó góp phần làm rõ đặc điểm ngôn ngữ của Hồ Chủ Tịch.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn tập trung sử dụng các phương pháp, thủ pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp miêu tả: Căn cứ vào nguồn tư liệu sưu tầm được, luận
văn đi theo chiều hướng miêu tả cấu trúc - ngữ nghĩa chung của các diễn ngôn
được lựa chọn khảo sát. Từ đó, đi vào miêu tả chi tiết đặc điểm cấu trúc -
ngữ nghĩa của từng thành phần; đặc điểm sử dụng ngôn ngữ, đặc điểm về tính
mạch lạc, liên kết, sử dụng lập luận… của diễn ngôn Lời kêu gọi.
- Phương pháp phân tích diễn ngôn;
- Thủ pháp phân tích - tổng hợp: Luận văn trước hết đưa một

3.2. Mạch lạc trong diễn ngôn Lời kêu gọi
3.3. Lập luận trong diễn ngôn Lời kêu gọi
3.4. Liên kết trong diễn ngôn Lời kêu gọi
3.5. Sử dụng từ ngữ
Tiểu kết Chương 3

5
Chƣơng 1
MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Khái niệm diễn ngôn
Cho đến nay có khá nhiều quan niệm khác nhau về diễn ngôn, song
vẫn chưa thực sự có một định nghĩa hoàn chỉnh nhất. Có thể nói, người đầu
tiên đề xướng khái niệm diễn ngôn là Z.Harris (1952) với bài báo có tên gọi
“Phân tích diễn ngôn”. Tại đây, ông đã đưa ra khái niệm diễn ngôn với
cách hiểu là văn bản liên kết, ở bậc cao hơn câu. Mặc dù quan niệm này vẫn
còn được nhiều người tranh luận, trong đó không ít ý kiến chưa thật thống
nhất, song với khái niệm này, Harris đã góp phần quan trọng trong việc
chuyển đổi đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học văn bản từ câu sang diễn
ngôn, hướng nghiên cứu vào chức năng của ngôn ngữ.
“Diễn ngôn” và “văn bản” là hai khái niệm không thể bỏ qua trong
nghiên cứu ngôn ngữ học văn bản nói chung và trong phân tích diễn ngôn nói
riêng. Tuy nhiên, trên thực tế, để phân định rạch ròi hai khái niệm này thật
không đơn giản. Chúng được coi là hai khái niệm có cấu trúc xác định tách
biệt hoàn toàn, thuộc hai quá trình. Có khi, khái niệm này là sự biểu hiện cụ
thể, là bộ phận của khái niệm kia, cũng có khi chúng lại dùng thay thế cho
nhau như hai khái niệm đồng nghĩa hoàn toàn.
Hai tác giả Brown và Yule quan niệm rằng “văn bản như là một thuật
ngữ khoa học để chỉ dữ liệu ngôn từ của một hành vi giao tiếp” hay “văn
bản là sự biểu hiện của diễn ngôn” [5, tr.22]. Còn khi xử lý diễn ngôn như
là “sản phẩm” hay “tiến trình”, thì tác giả khảng định “diễn ngôn như là

được dùng như văn bản có ý nghĩa.
Vơi Nguyễn Thiện Giáp trong công trình “Dụng học Việt ngữ” quan
niệm: Thuật ngữ diễn ngôn (discourse) và văn bản (text) thường được coi là
đồng nghĩa với nhau để chỉ các sản phẩm ngôn ngữ, viết hay nói, dài hay

7
ngắn, tạo ra một tổng thể hợp nhất, trong đó diễn ngôn được hiểu là
bao hàm văn bản, còn văn bản thiên về sản phẩm viết nhiều hơn [16, tr.169].
Có thể thấy, tác giả một mặt đồng nhất hai khái niệm trên, mặt khác ngay sau
đó lại tỏ ra lúng túng khi nhấn mạnh đến sự phân biết tương đối giữa chúng.
Một trong số tác giả khác ở Việt Nam cũng dành nhiều sự quan tâm cho
vấn đề này là tác giả Nguyễn Hòa. Quan niệm của Nguyễn Hòa được khái
quát lại trong công trình “Phân tích diễn ngôn: Một số vấn đề về lý luận và
phương pháp”. Trong công trình nghiên cứu đó, tác giả chỉ ra sự phân biệt
giữa diễn ngôn và văn bản. Theo tác giả, văn bản như là sản phẩm ngôn ngữ
ghi lại quá trình giao tiếp hay sự kiện giao tiếp nói và viết trong một hoàn
cảnh giao tiếp xã hội cụ thể, trong khi đó diễn ngôn như là sự kiện hay quá
trình giao tiếp hoàn chỉnh thống nhất có mục đích không giới hạn được sử
dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể. Mặc dù đã đưa ra sự phân
biệt hai khái niệm như trên, song tác giả cũng thừa nhận rằng trong thực tế sự
phân biệt này cũng chỉ mang tính tương đối vì theo cách hiểu đó, trong văn
bản sẽ xuất hiện một vài đặc trưng của diễn ngôn và ngược lại trong diễn
ngôn cũng nhiều khi tồn tại các thuộc tính của văn bản. Theo ông, thực chất
đây không phải là hai thực thể độc lập, hoàn toàn tách biệt nhau mà chỉ là một
thực thể biểu hiện của ngôn ngữ hành chức trong bối cảnh giao tiếp cụ thể.
Nói cách khác, tùy theo quan điểm của người nghiên cứu mà ngôn ngữ sẽ
được coi là văn bản khi được xem xét từ góc độ hình thức và được coi là diễn
ngôn khi xem xét ở góc độ hành chức.
Từ cách điểm lại quan niệm của các tác giả trong và người nước về
diễn ngôn và văn bản, về mối quan hệ giữa chúng, có thể nói rằng tùy theo

chuyển giao tới trong một ngữ cảnh cụ thể; đồng thời các yêu cầu trở lại của
người nhận trong một ngữ cảnh cụ thể bằng cách nào có thể chuyển giao lại
người phát, để từ đó ảnh hưởng đến kết cấu của diễn ngôn tiếp theo của người
phát. Như vậy, có thể thấy rõ ràng là phương hướng nghiên cứu này chủ

9
trương lấy chức năng giao tiếp của ngôn ngữ là đối tượng nghiên cứu chính.
Vì thế nó mô tả các hình thức ngôn ngữ không ở dạng tĩnh mà như các
phương tiện động nhằm thể hiện ý nghĩa [dẫn theo 5, tr.48].
Một các giả khác - David Nunan với việc xác định hai khái niệm
diễn ngôn và văn bản như đã trình bày ở trên, cũng đồng thời xác nhận phân
tích diễn ngôn liên quan đến việc nghiên cứu ngôn ngữ trong sử dụng (ngôn
ngữ hành chức), khác với phân tích văn bản là thiên về nghiên cứu các thuộc
tính cấu trúc của ngôn ngữ, bị tách khỏi các chức năng giao tiếp của chúng.
Tác giả cũng biện luận thêm rằng, cũng giống như các nhà ngữ âm học và
ngữ pháp học thì nhà phân tích diễn ngôn cũng cần quan tâm đến việc
nhận diện những cái đều đặn và những khuôn mẫu của ngôn ngữ. Không chỉ
vậy, nhà phân tích diễn ngôn còn phải thực hiện một nhiệm vụ quan trọng hơn
cả là đạt đến mục đích cuối cùng của công việc phân tích: vừa chỉ ra, vừa
giải thuyết mối quan hệ giữa những cái đều đặn đó với những ý nghĩa và
những mục đích được diễn đạt qua diễn ngôn. Như vậy, ở đây, tác giả đã
căn cứ vào đối tượng của nhà phân tích là ngôn ngữ xét về mặt cấu trúc
hình thức thuần túy (phân tích văn bản) và ngôn ngữ trong quá trình sử dụng
(phân tích diễn ngôn) để phân biệt hai khái niệm trên.
Với tác giả Đỗ Hữu Châu, một người nghiên cứu khá nhiều về dụng
hoặc cũng quan tâm đến mối quan hệ văn bản - diễn ngôn thì cho rằng:
Diễn ngôn là lời của từng người nói ra trong một cuộc giao tiếp. Tùy theo
đường kênh, hay tùy theo dạng ngôn ngữ được sử dụng mà chúng ta có
diễn ngôn nói hay diễn ngôn viết. Chúng tôi sẽ gọi diễn ngôn viết là các
văn bản. Tác giả cho rằng, diễn ngôn có cả hình thức và nội dung nhưng cả

ngôn… thuộc địa hạt phân tích văn bản, đồng thời những yếu tố như mạch
lạc, các hành động ngôn từ, vận dụng tri thức nền, cách thức xử lý từ trên
xuống hay từ dưới lên… sẽ thuộc địa hạt phân tích diễn ngôn [20, tr.35].

11
1.3. Đặc tính của diễn ngôn và phân loại diễn ngôn
1.3.1.Đặc tính của diễn ngôn
Đặc tính cơ bản của diễn ngôn là tính mạch lạc, tính giao tiếp, ký hiệu
và tính quan yếu.
a. Tính mạch lạc
Mạch lạc được tác giả Nguyễn Thiện Giáp coi là cái quyết định để
một tác phẩm ngôn ngữ trở thành một diễn ngôn. Như vậy, cơ sở của
mạch lạc là những cái gì quen thuộc, kiến thức văn hoá chung, kiến thức nền.
Có thể hiểu một cách ngắn gọn rằng mạch lạc là mạch nối diễn ngôn, cho
phép hiểu diễn ngôn trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội. Mạch lạc không
phải là các phương tiện liên kết hình thức của văn bản mà nó là một phần nội
dung thực của văn bản. Nó được thể hiện qua những phương tiện ngôn ngữ và
phương tiện ngoài ngôn ngữ (hình thức tổ chức văn bản, quan hệ nghĩa - lôgic
giữa các từ ngữ trong văn bản, quan hệ giữa từ ngữ trong văn bản với
cái được nói tới trong tình huống từ bên ngoài văn bản ).
Mạch lạc còn thể hiện trong cấu trúc hay cách thức tổ chức các yếu tố
quan yếu của diễn ngôn theo một cách thức hay trình tự nhất định, nhằm
thể hiện những ý tứ tạo thành mục đích nói. Như vậy, có thể thấy tính cấu trúc
của diễn ngôn mang tính chủ quan của người viết.
b. Tính giao tiếp và tính ký hiệu
Xuất phát từ quan điểm cho rằng ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu
được dùng làm công cụ giao tiếp, mà diễn ngôn trước hết là sự kiện giao tiếp,
cho nên tính giao tiếp và tính ký hiệu là những đặc tính không thể thiếu của
diễn ngôn. Tuy nhiên, diễn ngôn là một đơn vị ngôn ngữ chứa hành động
ngôn từ. Chính vì thế, tính giao tiếp và tính ký hiệu của diễn ngôn còn có

xã hội cụ thể. Như vậy, trong mỗi hoàn cảnh, chúng ta lại có một kiểu loại
diễn ngôn. Điều này cho thấy, việc phân loại diễn ngôn không phải là
việc làm dễ dàng, có tính thuyết phục.

13
Có nhiều quan điểm khác nhau về phân loại diễn ngôn. Nếu dựa vào
phương thức biểu đạt, có thể phân chia thành diễn ngôn nói và diễn ngôn viết.
Sự phân biệt này đã được nêu lên từ lâu và có tầm quan trọng nhất định
đối với quan điểm sư phạm như việc dạy đọc, dạy viết, dạy nói. Một
hướng phân loại khái quát khác là phân biệt diễn ngôn đối thoại với diễn ngôn
đơn thoại. Cách phân loại này liên quan đến việc nghiên cứu ngôn ngữ trong
sinh hoạt hằng ngày và ngôn ngữ trong văn học. Tuy nhiên, theo tác giả
Hausenblas (dẫn theo [1, tr.75]) thì muốn có sự phân loại có hệ thống và thoả
đáng thì phải cần đến sự hợp tác của cả hai bộ phận cùng quan tâm đến việc
miêu tả ngôn ngữ. Đó là ngữ pháp và phong cách học. Từ đó, tác giả đưa ra
các cách phân loại diễn ngôn như sau:
a.Phân loại diễn ngôn theo cấu trúc
* Phân loại theo cấu trúc nội tại:
Dựa vào những tiêu chuẩn: tính đơn giản/tính phức tạp trong cấu trúc
văn bản của diễn ngôn, tính độc lập/ tính lệ thuộc của các diễn ngôn, tính
liên tục/tính gián đoạn của các diễn ngôn, có các loại diễn ngôn sau:
- Diễn ngôn có độ phức tạp khác nhau trong cấu trúc;
- Diễn ngôn tự do và diễn ngôn lệ thuộc;
- Diễn ngôn liên tục và diễn ngôn gián đoạn.
Cách phân loại này đến nay vẫn còn giá trị thực tiễn đối với việc
dạy học ở nhà trường. Bởi cách phân loại này gợi ý về một số hướng dạy và
rèn luyện học sinh tạo lập diễn ngôn, sự phân bố các bộ phận trong diễn ngôn,
dạy học sinh cách đọc…
* Phân loại khuôn hình văn bản:
Do tính chất quá phức tạp của diễn ngôn và tính quá đa dạng của các

xem xét trong các khu vực ít nhiều có tính chất chuyên môn trong đời sống
xã hội và nhờ đó đưa ra 5 phong cách chức năng:

15
+ Chính thức - công vụ;
+ Khoa học;
+ Công luận;
+ Hội thoại văn học;
+ Hội thoại đời thường;
- Ở bậc phong các học lời nói: liên quan trực tiếp đến các văn bản
cụ thể, có sự phân định các lớp văn bản từ chung đến riêng theo trình tự sau:
+ Phong cách chính thức công vụ có các kiểu loại văn bản: chỉ đạo,
pháp lý, quân sự, ngoại giao, thương mại, kinh tế.
+ Phong cách khoa học: khoa học xã hội, khoa học kĩ thuật.
+ Phong cách công luận: chính trị, kinh tế, luật, đạo đức, nghệ thuật,
tôn giáo.
Theo Nguyễn Hữu Đạt [12, tr.74], tiếng Việt có 6 phong cách chức năng
khác nhau, đó là:
- Phong cách sinh hoạt hằng ngày;
- Phong cách hành chính công vụ;
- Phong cách khoa học;
- Phong cách chính luận;
- Phong cách báo chí và phong cách văn học nghệ thuật.
Mỗi loại phong cách có các thể loại diễn ngôn khác nhau.
Tuy nhiên, cách phân loại dựa vào trường diễn ngôn, tính chất
diễn ngôn và cách thức diễn ngôn được quan tâm hơn cả vì tính hợp lý của nó.
Hay nói cách khác là dựa vào chủ đề được đề cập, nội dung mệnh đề,
mối quan hệ giữa các cá nhân tham gia (bao gồm cả ý nghĩa dụng học) và
phương tiện thể hiện ngôn ngữ (nói hoặc viết), người ta phân chia thành các
ngữ vực, tiếp đó trong các ngữ vực, có những thể loại diễn ngôn cụ thể.

thấu tình đạt lý ở diễn ngôn loại này.

17
b. Tính khúc triết, giàu sức thuyết phục
Diễn ngôn chính luận không chỉ có mục đích đi tìm chân lý để trả lời
câu hỏi đúng sai như các diễn ngôn phong cách khoa học. Mục đích quan
trọng là lôi kéo người đọc/người nghe đi theo tiếng gọi của lẽ phải,
công bằng… Yêu cầu này đòi hỏi người tạo lập diễn ngôn phải có cái nhìn
sắc sảo đối với vấn đề được nêu ra, có phương pháp phân tích khoa học với
các sự kiện trên cơ sở của tư duy biện chứng. Mặt khác, các phương tiện
ngôn ngữ sử dụng trong văn bản phải hướng tới người đọc/người nghe nhằm
lôi kéo sự ủng hộ đồng tình, sự nhất trí để tiến tới thống nhất hành động.
Muốn đạt được kết quả như mong muốn, người viết phải chọn lọc từ ngữ,
diễn đạt ý tưởng của mình sao cho khúc triết, dễ hiểu. Tính khúc triết thể hiện
ở việc khai tách những quan hệ chiều sâu giữa hình thức ngôn ngữ và nội
dung cần biểu đạt. Thực chất đó là những diễn ngôn có hàm ý sâu sắc, có sự
chinh phục lòng người. Một diễn ngôn chính luận hay thường tạo ra ở người
đọc/người nghe những xúc động mạnh mẽ, sức cuốn hút mãnh liệt.
c. Tính trong sáng và tính thẩm mỹ cao
Ngôn ngữ trong phong cách chính luận dễ đi vào lòng người chính nhờ
cách dùng từ và lối diễn đạt trong sáng, không gây khó hiểu. Cụ thể là, nó
hết sức tránh việc dùng từ ngữ tối nghĩa hoặc những cách diễn đạt mập mờ
nước đôi. Mọi vấn đề được nêu ra trong diễn ngôn chính luận bao giờ cũng
mang tính luân lý công khai, có sức gợi mở giúp cho việc tiếp cận chân lý
được dễ dàng. Do đó, ngôn ngữ càng trong sáng, dễ hiểu càng phát huy được
tác dụng.
Tính thẩm mỹ về mặt sử dụng ngôn ngữ cũng là một vấn đề được chú
trọng trong phong cách chính luận. Thông thường, ở loại diễn ngôn này người
đọc hay gặp các lối nói bóng bảy như kiểu ví von, so sánh và những từ có
màu sắc tu từ cao gây ấn tượng sâu sức về sự độc đáo ở mặt âm thanh

- Phân tích, lý giải làm sáng tỏ vấn đề;

19
- Thái độ của tác giả (và bạn đọc);
- Kêu gọi hành động ủng hộ.
1.4.4. Các dạng của diễn ngôn chính luận
Khi phân chia các diễn ngôn chính luận, có thể đứng từ nhiều góc độ
khác nhau. Khi đứng từ góc độ nội dung, người ta có thể xem xét tính chất
hoạt động của các văn bản chính luận. Khi đứng từ góc độ hình thức, người ta
có thể xem xét đến quy mô, tổ chức của văn bản cũng như các phạm vi văn
bản chính luận đề cập. Nhưng dù ở góc độ nào thì nó cũng phải bao hàm 4 nội
dung được phản ánh trong kết cấu của văn bản chính luận như đã nói ở trên.
Từ đó, diễn ngôn chính luận tồn tại dưới các dạng sau:
- Tuyên ngôn, Hịch, Chiếu, Cáo văn, Lời kêu gọi.
Đại diện cho loại này là các văn bản như: Tuyên ngôn độc lập của
Hồ Chí Minh, Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo, Chiếu dời Đô của Lý Công
Uẩn, Chiếu Cần Vương của Phạm Thiện Duật, Cáo Bình Ngô của
Nguyễn Trãi, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh.
- Di chúc, Điếu văn (lời điếu).
- Các nghị quyết của Hội nghị Trung ương, các Báo cáo chính trị,
Thông cáo chung
- Các bài xã luận, xã thuyết, nghị luận văn học
1.5. Khái niệm diễn ngôn có mục đích kêu gọi - Lời kêu gọi
Theo cách phân loại phong cách nói trên, diễn ngôn có mục đích kêu
gọi - Lời kêu gọi là một dạng điển hình của phong cách chính luận hay
diễn ngôn chính luận. Để có thể hiểu rõ bản chất hoạt động của Lời kêu gọi,
tạo cơ sở vững chắc cho những phân tích của luận văn, chúng tôi muốn bắt
đầu từ mô hình giao tiếp của R.Jakobson, trên cơ sở đó xác định đặc điểm của
kiểu lại diễn ngôn này.
Theo mô hình của R.Jakobson, hoạt động giao tiếp bao gồm 6 yếu tố

lãnh tụ của dân tộc, đất nước, thay mặt cho tổ chức lãnh đạo cao nhất, có thể
là Vua, Vương tước (trước đây), hoặc Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc

Trích đoạn Cấu trúc tổng thể của diễn ngôn Lời kêu gọi Đặc điểm của các thành phần trong cấu trúc diễn ngôn Lời kêu gọi Đặc điểm cấu trúc phần hô gọi Đặc điểm cấu trúc phần kết Nhóm cấu trúc đơn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status