Đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa của hành động chửi qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn việt nam ( Luận án tiến sĩ) - Pdf 49

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀ O TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRẦN THỊ HOÀNG YẾN

ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC, NGỮ NGHĨA
CỦA HÀNH ĐỘNG CHỬI QUA LỜI THOẠI
NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGƢ̃ VĂN

NGHỆ AN - 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRẦN THỊ HOÀNG YẾN

ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC, NGỮ NGHĨA
CỦA HÀNH ĐỘNG CHỬI QUA LỜI THOẠI
NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀ NH: LÍ LUẬN NGÔN NGỮ
MÃ SỐ: 62 22 01 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGƢ̃ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

GS. TS. ĐỖ THỊ KIM LIÊN

1.2. Lý thuyết về hành động ngôn ngữ ................................................................... 19
1.2.1. Khái niệm hành động ngôn ngữ ............................................................... 19
1.2.2. Phân loại hành động ngôn ngữ ................................................................. 21
1.2.3. Điều kiện sử dụng hành động ở lời và việc phân loại các hành động
ở lời ......................................................................................................... 22
1.2.4. Phát ngôn ngữ vi và biểu thức ngữ vi........................................................ 26
1.3. Hành động chửi với vấn đề lịch sự trong hội thoại .......................................... 28
1.3.1. Khái niệm hành động chửi .............................................................................. 28
1.3.2. Phân biệt hành động chửi trong văn bản nghệ thuật với hành động
chửi trong giao tiếp đời thường ......................................................................31
1.3.3. Lịch sự trong hội thoại .................................................................................... 34
1.3.4. Quan hệ giữa hành động chửi với vấn đề lịch sự trong hội thoại ............... 36
1.4. Truyê ̣n ngắ n và đặc trưng lời thoại nhân vật trong truyê ̣n ngắ n Viê ̣t Nam ....... 37
1.4.1. Truyê ̣n ngắ n và đặc trưng lời thoại nhân vật trong truyê ̣n ngắ n .................. 37
1.4.2. Chức năng của lời thoại nhân vật trong truyện ngắn ....................................39
1.5. Tiểu kết chương 1 ........................................................................................... 41


Chƣơng 2. NHẬN DIỆN VÀ PHÂN LOẠI HÀNH ĐỘNG CHỬI
QUA LỜI THOẠI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN
VIỆT NAM ....................................................................................... 42
2.1. Điều kiện xác định hành động chửi ................................................................. 42
2.2. Dấu hiệu nhận diện hành động chửi qua lời thoại nhân vật trong truyện
ngắn Việt Nam ...................................................................................................... 45
2.2.1. Dựa vào lời dẫn thoa ̣i ...................................................................................... 45
2.2.2. Dựa vào biểu thức ngữ vi ................................................................................ 52
2.3. Phân loại hành động chửi qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam ....... 60
2.3.1. Căn cứ phân loại hành động chửi ...................................................................60
2.3.2. Các nhóm hành động chửi qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn
Việt Nam .......................................................................................................... 62

vật trong truyện ngắn Việt Nam ................................................................... 122
4.3. Đặc trưng văn hóa ứng xử của người Việt thể hiện qua thành tố ngữ
nghĩa hành động chửi của nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam ......................... 129
4.3.1. Sử dụng từ ngữ chỉ tâm linh trong hành đô ̣ng chửi ..................................... 129
4.3.2. Sử dụng từ ngữ chỉ quan hệ gia đình, thân tộc ............................................ 131
4.3.3. Sử dụng từ ngữ chỉ nghề nghiệp xấu bi ̣lên án ............................................ 132
4.3.4. Sử dụng từ ngữ tục tĩu, những từ chỉ bộ phận kín của cơ thể ..................... 134
4.3.5. Sử dụng từ ngữ gọi con vật bị xem xấu xí, tầ m thường.............................. 135
4.3.6. Sử dụng từ ngữ gọi tình trạng cơ thể không bình thường ........................... 135
4.4. Vai trò của hành động chửi qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam ..... 137
4.4.1. Góp phần thể hiện phong cách, ý đồ nghê ̣ thuâ ̣t của tác giả....................... 137
4.4.2. Góp phần thể hiện đặc điểm tâm lý tiêu cực của nhân vật ......................... 141
4.4.3. Góp phần thể hiện đặc điểm tính cách, số phận của nhân vật .................... 143
4.5. Tiểu kết chương 4 ......................................................................................... 146
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 149
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ......................................................................... 152
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................. 153
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN LÀM VÍ DỤ .............................................................. 163


MỤC LỤC CÁC BẢNG BIỂU THỐNG KÊ
Trang
Bảng 2.1.

Các nhóm hành động chửi qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn
Việt Nam ........................................................................................... 62

Bảng 3.1.


Thống kê số lượng hành động chửi nhân vật xét theo quan hệ vị thế .... 115

Bảng 4.4.

Bảng thống kê các nhóm ngữ nghĩa của hành động chửi qua lời thoại
nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam ............................................... 121


BẢNG CHÚ THÍCH KÍ HIỆU VIẾT TẮT

TT

Nội dung viết tắt

Kí hiệu viết tắt

1

Người nói

Sp1

2

Người nghe

Sp2


1



2
theo chúng tôi là việc làm cần thiết. Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi đưa ra một số
nhận xét biểu hiện đặc trưng tư duy - văn hoá trong giao tiếp của người Việt.
1.3. Trong lời ăn tiếng nói hàng ngày, chúng ta bắt gặp hành động chửi
thường xuất hiện ở chợ, ở nơi xếp hàng mua vé, ở bệnh viện, trong lúc họp hành,
khi tham gia giao thông và ngay cả trong gia đình,… Và đ ặc biệt, trong văn bản
nghệ thuật, hành động chửi được các nhà văn sử dụng qua lời thoại nhân vật ở
những ngữ cảnh khá đa dạng. Do giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu
hành động chửi qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại, tiêu
biểu nhất là của các nhà văn Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Nguyễn Huy Thiệp,
Ma Văn Kháng, Tạ Duy Anh… Việc nghiên cứu hành động chửi qua lời thoại nhân
vật trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại góp phần chỉ ra cách thức tổ chức lời nói
vốn có diê ̣n ma ̣o sinh động, đa dạng tồn tại trong đời thường, được hư cấu, chọn lọc
nhờ lăng kính thẩm mỹ và đặc điểm phong cách nghệ thuật của các nhà văn. Đồng
thời, tìm hiểu hành động này, chúng tôi mong muốn đươ ̣c cung cấp thêm những cứ
liệu phù hợp, làm phong phú lý thuyết hội thoại.
Với những lý do lý luận và thực tiễn nói trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: Đặc
điểm cấu trúc, ngữ nghĩa của hành động chửi qua lời thoại nhân vật trong truyện
ngắn Việt Nam.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CƢ́U
Theo hướng nghiên cứu hành động ngôn từ, hướng nghiên cứu có mối liên
hệ trực tiếp với đề tài, năm 1955, có J.L. Austin đã phát hiện ra bản chất của ngôn
ngữ “Khi chúng ta nói năng là chúng ta đang thực hiện một loại hành động đặc biệt
mà phương tiện là ngôn ngữ. Một hành động ngôn ngữ được thực hiện khi một
người nói (người viết) nói ra một phát ngôn cho người nghe (hoặc người đọc) trong
ngữ cảnh. J.L. Austin cho rằng có 3 loại hành động ngôn ngữ lớn: hành vi tạo lời
(acte locutoire), hành vi mượn lời (acte perlocutoire) và hành vi ở lời (acte
illocutoire) [10, tr.88]. Các chỉ dẫn về các hành động ngôn từ của J.L. Austin cho

ngày và lời thoại nhân vật tác phẩm văn học (truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết,
kịch, ca dao…). Tuy nhiên, phần lớn các nhà nghiên cứu chủ yếu phân tích, lý giải
cơ chế tạo hành động chửi và biểu hiện của chúng trên cơ sở nguồn tư liệu thứ hai.
Có thể điểm đến các công trình như:
Cuốn Ngoa ngữ trong dân gian Việt Nam (1998) do soạn giả Nguyễn Văn
Hoa sưu tầm đã cho thấy sự dụng công của việc tập hợp các lời chửi trong dân


4
gian Việt Nam. Tác giả đã lí giải rất sinh động nguồn gốc các lời chửi và nêu ra
nguyên tắc hình thành tiếng chửi trong dân gian. Theo tác giả, “ngoại trừ tiếng
chửi nựng yêu con cháu hoặc tiếng răn đe kiểu “đóng cửa trong nhà bảo nhau của
bà nội, bà ngoại, bà dì, bà cô… còn lại, theo tôi, do tâm trạng nặng nề, cáu giận,
thù ghét mà phải bật lên tiếng chửi. Đó là võ miệng cần thiết để hạ nhục đối
phương, tiếng chửi càng to, càng kéo dài, càng sâu sắc, càng tục tĩu thì càng áp
đảo mạnh đối phương” [47, tr.38].
Tác giả Đỗ Thị Kim Liên trong chuyên khảo Ngữ nghĩa lời hội thoại (1999)
đã đi sâu vào các vấn đề chủ chốt nhất của ngữ nghĩa lời hội thoại với những yếu tố
cấu thành lời hội thoại (lời trao - lời đáp) qua các hành động ngôn từ. Tác giả đã chỉ
ra cách thức thực hiện và sự tương tác lời trao - lời đáp trong các vai trao - đáp
trong lời hội thoại. Tác giả viết: nếu “lời trao là một câu đe doạ, là lời chửi rủa
thách thức hay lời cảnh báo” thì lời đáp “là sự bác bỏ hay hưởng ứng”. Tác giả còn
biện giải cụ thể qua từng cặp tương ứng, đó là: a) nếu “Lời trao là một câu đe doạ sẽ
thực hiện hành động chân tay” thì “Lời đáp là một sự bác bỏ về hành vi đe doạ”, b)
nếu “Lời trao là một câu thách thức” thì “Lời đáp gián tiếp bác bỏ nội dung câu
thách thức”, c) nếu “Lời trao là câu thách thức” thì “Lời đáp công khai tấn công lời
thách thức đó”, “Lời trao là một lời cảnh báo, nhắc nhở. Lời đáp gián tiếp bày tỏ
thái độ không hợp tác, không thân thiện, chửi cạnh khoé”; d) nếu “Lời trao là một
lời thách thức có tính giải trình nhằm gián tiếp chửi cạnh khóe người nghe thì lời
đáp cũng thể hiện thái độ thách thức” [71, tr.155]. Có thể nói, cùng với 5 tiểu nhóm

cách là một dạng lời thoại để thực hiện mục đích giao tiếp nên nó có dấu hiệu nhận
diện và phương tiện thể hiện. Tuy vậy, giữa hành động chửi trong lời độc thoại và
lời đối thoại có sự phân biệt, điển hình là sự phân biệt về đích ngôn trung. Ở lời độc
thoại, hành động chửi không hướng lời đến vai nghe, còn ở lời đối thoại, hành động
chửi xác định có đối tượng tiếp nhận lời trực tiếp [12].
Trong bài báo Đặc trưng ngôn ngữ, văn hoá trong các lối chửi của người
Việt, tác giả Nguyễn Thị Tuyết Ngân chú ý đến tiêu chí “phản chuẩn mực xã hội”
của hành động chửi. Bởi đây là tiêu chí có khả năng khu biệt nhằm tách hành động
chửi ra khỏi nhóm các phản ứng ngôn từ. Đồng thời, tác giả đi vào tìm hiểu hình
thức thể hiện lời chửi và phân loại các kiểu chửi dựa vào nội dung và đích ngôn
trung [83, tr.92].
Với bài Về lời chửi của người Việt (2001), Phan Mậu Cảnh tiếp tục khẳng
định: thái độ phản ứng của con người được thể hiện bằng những hành động chửi


6
sinh động, phong phú. Cấu tạo của các phát ngôn chửi chủ yếu là ngắn gọn nhưng
có khả năng khoét sâu mâu thuẫn giữa các mối quan hệ khi bản thân chủ ngôn nhận
thấy mình bị mất mát, thiệt thòi hay bị làm nhục. Về ý nghĩa, chửi là sự phản ánh
trực tiếp bằng ngôn ngữ biểu hiện trạng thái căng thẳng, căm tức, khinh bỉ, do vậy,
từ ngữ mang tính phóng đại. Về phạm vi, lời chửi không chỉ xuất hiện trong lời ăn
tiếng nói hàng ngày, hành động chửi được chuyển thành lời các nhân vật trong tác
phẩm mà còn thành những lời hát đối đáp trong ca dao dân ca... Như vậy, dù chỉ là
những suy nghĩ bước đầu, nhưng tác giả Phan Mậu Cảnh đã khẳng định sự tồn tại
của hành động chửi với những “lời lẽ tự nhiên trong những hoàn cảnh không thể
khác được” [6, tr.317].
Luận án Sự kiện lời nói chê trong tiếng Việt (cấu trúc và ngữ nghĩa) (2007)
của tác giả Nguyễn Thị Hải Yến đã tìm hiểu cấu trúc biểu thức ngữ vi chê với các
thành tố của nó. Tác giả phân biệt biểu thức ngữ vi chê với một số biểu thức khác
có cấu trúc hoặc nội dung mệnh đề có khả năng nhầm lẫn với hành động chê, như

liệt trước cái xấu của họ” [69]. Cách nhìn nhận vấn đề nói trên của tác giả đã không
theo mô ̣t chiề u , phiế n diê ̣n mà đó là sự đánh giá phản ánh đúng mục đ ích của người
sử du ̣ng trong mỗi tiǹ h huố ng nhấ t đinh.
̣
Tác giả Lê Thuý Hà trong bài viết Các chiến lược phê phán của người Việt
cho rằng: “Phê phán là hành động ngôn từ thuộc nhóm các hành động khó thực hiện
nhất vì nó có khả năng đe dọa thể diện cao đối với người bị phê phán và ngay cả với
người phê phán (thể diện âm tính). Mặc dù vậy, trong cuộc sống hàng ngày chúng ta
không thể tránh khỏi những lúc phải đưa ra các lời phê phán…” [33, tr.67]. Đó là lý
do tác giả tiến hành tìm hiểu hành động ngôn từ phê phán trong tình huống tự nhiên
đời thường nhằm chỉ ra, trong thực tế, người Việt phê phán như thế nào, xét ở
phương diện ngôn ngữ và văn hóa. Theo kết quả khảo sát, người Việt lựa chọn hai
chiến lược phê phán: phê phán trực tiếp và phê phán gián tiếp. Trong đó, tác giả chú
trọng việc phân loại theo mức độ nghiêm trọng của các vấn đề phê phán từ góc độ
người nói theo trình tự sau: khuyên, thuyết giáo, phàn nàn, chê, mắng, mỉa mai, cấm
đoán, chửi. Theo tác giả , trong các hình thức phê phán có hiệu lực ở lời nói trên thì
đặc điểm nổi bật, đặc trưng là người Việt ưa dùng hành động ngôn từ phê phán gián
tiếp theo quy ước, bằng biểu thức ngữ vi có cấu trúc câu trần thuyết và câu hỏi
mang sắc thái trung tính (trách, mắng, chê). Điều đó góp phần lý giải về đặc điểm
của người Việt khi ứng xử thường ưa chuộng sự ôn hoà, có độ an toàn cao cho cả
người nói và người nghe.


8
Tóm lại, kết quả nghiên cứu của những tác giả trong các bài viết đã góp phần
làm sáng tỏ, lý giải sự tồn tại tất yếu của một nhóm hành động ngôn từ có khả năng
đe dọa thể diện người nghe rất cao trong thực tiễn giao tiếp. Đồng thời, một số
nguyên nhân hình thành phát ngôn có lực tại lời, mối quan hệ giữa các hành động
ngôn từ như cãi, phàn nàn, khuyên, mỉa mai, chê, mắng, trách, chửi… bước đầu
được lý giải. Ngoài ra, việc phân định các mức độ tác động của lời chửi trong lời

324 truyện ngắn của 41 đầu sách của nhiều nhà văn Việt Nam. Luận án chỉ khảo sát
những tham thoại chứa hành động chửi do nhân vật trực tiếp thực hiện trong ngữ
cảnh cụ thể.
4.2. Nguồn dẫn liệu
Đề tài giới hạn phạm vi khảo sát là truyện ngắn Việt Nam hiện đại, gồm của
các tác giả trước và sau Cách mạng tháng Tám đến nay. Với nguồn tư liệu cụ thể
gồm 930 tham thoại chứa hành động chửi của nhân vật, luận án đi vào tìm hiểu đặc
điểm cấu trúc, ngữ nghĩa và một số biểu hiện văn hóa ứng xử của người Viê ̣t qua lời
nói của nhân vật khi sử dụng hành động ngôn ngữ này.
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CƢ́U
5.1. Phƣơng pháp thống kê, phân loại
Luận án thống kê số lượng hành động chửi thể hiện qua lời thoại nhân vật
trong 324 truyện của 41 đầu sách thuộc thể loại truyện ngắn Việt Nam hiện đại.
Trên nguồn tư liệu này, chúng tôi tiến hành phân loại hành động chửi dựa vào
những tiêu chí cụ thể: tần số xuất hiện của hành động chửi, các dạng thức chửi, các
hành động chửi và hành động đi kèm hành đô ̣ng chửi, các nhóm ngữ nghĩa của hành
đô ̣ng chửi.
5.2. Phƣơng pháp phân tích diễn ngôn
Tư liệu được dùng phân tích là 930 tham thoại chứa hành động chửi được
trích từ các truyện ngắn Việt Nam hiện đại. Ở 930 tham thoại đó, chúng tôi tiến
hành phân tích ngữ nghĩa của từng hành động chửi và các nhóm hành động chửi có
đặc thù chung; mối quan hệ giữa các nhân vật gắn với từng kiểu hành động chửi cụ
thể trong ngữ cảnh.
5.3. Phƣơng pháp so sánh
Phương pháp so sánh được sử dụng trong quá trình nghiên cứu nhằm chỉ ra
điểm tương đồng và khác biệt giữa ở các nhóm

hành động chửi , giữa hành đô ̣ng

chửi và hành đô ̣ng đi kèm hành đô ̣ng chửi trong tham thoại, giữa chủ thể thực hiện

dụ, Luận án gồm 4 chương:
Chƣơng 1:

Cơ sở lý thuyết

Chƣơng 2:

Nhận diện và phân loại hành động chửi qua lời thoại nhân vật
trong truyện ngắn Việt Nam

Chƣơng 3:

Cấu trúc hành động chửi qua lời thoại nhân vật trong truyện
ngắn Việt Nam

Chƣơng 4:

Ngữ nghĩa hành động chửi qua lời thoại nhân vật trong truyện
ngắn Việt Nam


11

Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Lý thuyết hội thoại
1.1.1. Khái niệm hội thoại
Trong cuộc sống hàng ngày, con người thường xuyên phải giao tiếp trao đổi
thông tin với nhau, quá trình giao tiếp này được thực hiện bằng nhiều phương tiện
và hình thức khác nhau. Trong đó, giao tiếp hội thoại là hình thức căn bản nhất,

trao lời ngầm ẩn rằng người nghe (Sp2) đã được xác định trong mối quan hệ với
người nói (Sp1), tức là, người nghe phải hiện diện trong diễn ngôn của vai trao lời.
Mối quan hệ đó được xác định rõ ở nội dung trao lời, cách biểu đạt ngôn từ, cách
dùng các hành động phụ trợ... Như vậy, người nói là người chủ động chọn tình
huống giao tiếp cũng như đưa ra nội dung , phương thức giao tiế p đố i với người
nghe. Tính chủ động tình huống trao lời càng cao thì hiệu lực phát ngôn càng thành
công lớn. Ví dụ, người trao lời là người mẹ chồng mắng chửi cô con dâu trong tình
huống sau:
(1). Bà mẹ chồng lồng lộn lên, xỉa xói:
- Đừng già mồm nữa, con kia. Có người rõ ràng trông thấy mày đứng nói
chuyện với nó buổi sáng nay, còn chối gì nữa, đồ khốn nạn! Này tao bảo thật: Mày
tưởng mày thoát đi được cái nhà này à? [XVII, tr.139].
1.1.2.2. Sự trao đáp (Exchange)
Sự trao đáp là lời của người nghe đáp lại lời của người nói. Cuộc hội thoại
chính thức hình thành khi Sp2 nói ra lượt lời đáp lại lượt của Sp1.
Vận động trao đáp, cái lõi của hội thoại sẽ diễn ra với sự thay đổi liên tục vai
nói, vai nghe. Chẳng hạn, vai đáp là cô con dâu trong cuộc thoại (1) thực hiện hành
động đáp lời nhằm trách móc mẹ chồng.
(2). ... Liên ứa nước mắt, đặt bát cơm ăn dở xuống chiếu phàn nàn:
- Mẹ cứ đặt điều cho con mãi. Thật là ác, không cho người ta nuốt trôi miếng
cơm nữa [XVII, tr.139].
1.1.2.3. Sự tương tác hội thoại (Interaction)
Trong hội thoại, các nhân vật ảnh hưởng lẫn nhau, tác động đến cách ứng xử
của nhau trong quá trình hội thoại được gọi là tương tác.
Trong thực tế, trước cuộc hội thoại, giữa các nhân vật có sự khác biệt, đối
lập, thậm chí trái ngược về các mặt (hiểu biết, tâm lí, tình cảm, ý muốn…). Bằng sự


13
tương tác trong hội thoại, những khác biệt này sẽ giảm đi hoặc mở rộng, tăng lên,


14
thoại có dung lượng nhiều ít khác nhau song đòi hỏi phải có sự thống nhất về đề tài
- tức là các nhân vật tham gia cuộc thoại phải cùng hướng đến một vấn đề, một cái
đích chung. Theo H.D. Grice, một cuộc thoại phải theo một hướng nhất định từ đầu
cho đến khi kết thúc. Tuy nhiên, trên thực tế, chúng ta gặp những cuộc thoại mà đề
tài liên tục thay đổi (điển hình là các cuộc tán gẫu).
Như vậy, để nhận diện một cuộc thoại, điều kiện cần và đủ là có một nhóm
nhân vật, nhóm nhân vật này cùng nói về một vấn đề - đề tài trong một phạm vi thời
gian, không gian nhất định. Mặc dù, trong một cuộc hội thoại có thể xuất hiện nhiều
hành động giao tiếp khác nhau, tuy vậy, các tiêu chí về nhân vật, thời gian, địa điểm
phải được xác định một cách rõ ràng và đầy đủ. Ở những cuộc hội thoại có hành
động chửi trực tiếp thì việc nhận diện tương đối thuận lợi. Bởi, người đọc sẽ quan
tâm sự hiện diện của vai trao - đáp lời chửi qua các hành động ngôn ngữ (trong đó
có hành động chủ đạo), dựa vào yếu tố tình thái của phát ngôn, các phương tiện biểu
cảm đi kèm lời; dựa vào ngữ cảnh, lời dẫn truyện của tác giả… Còn ở hành động
chửi gián tiếp (vắng mặt người tiếp lời) hay ở lời độc thoại nội tâm (chỉ có người
nói), tuy các nhân tố (nhân vật, thời gian, địa điểm và chủ đề) cũng được xác định,
nhưng các dấu hiệu tường minh cho hành động dẫn dắt hay kết thúc cuộc thoại
thường không rõ ràng. Vậy, cần dựa vào vai trò lời dẫn truyện của tác giả trước khi
vai nói thực hiện lời trao đáp.
1.1.3.2. Đoạn thoại
Đoạn thoại là đơn vị nhỏ hơn cuộc thoại. Theo tác giả Đỗ Thị Kim Liên:
“Đoạn thoại là một mảng diễn ngôn do một số cặp trao - đáp liên kết với nhau chặt
chẽ về ý nghĩa và mục đích ngữ dụng.
Về ý nghĩa: đó là sự liên kết về chủ đề.
Về mục đích ngữ dụng: tính duy nhất về đích” [75, tr.229].
Theo chúng tôi, đoạn thoại được cấu tạo bởi các cặp thoại. Bản thân đoạn
thoại là đơn vị trực tiếp cấu tạo nên cuộc thoại. Nhiều khi ranh giới giữa đoạn thoại
và cuộc thoại khó phân biệt. Nhưng có thể khái quát, cuộc thoại có thể bao gồm

ngắn Việt Nam cho thấy các tham thoại tồn tại trong các kiểu kết cấu sau:
- Câu trao là một lời trách móc, câu đáp là lời chửi rủa. Ví dụ:
(3). Bính uất ức, gờm gờm mắt, nàng đỏ bừng mặt lên bảo chị nọ:
- Chị nói dựng đứng như thế mà không sợ chết tươi à?
Người đàn bà sấn lại bên Bính, lấy ngón tay dí vào cái trán nàng, dằn
mạnh lời:


16
- Gớm gái đĩ già mồm. Bà thèm đặt điều cho cái hạng bán trôn nuôi miệng
như mày để làm gì? [XI, tr.52]
- Câu trao là lời chửi mắng, câu đáp là lời van xin, kêu cứu. Ví dụ:
(4). Rồi như tiếng sét, ông huyện gắt:
- Đồ xỏ lá! Đem về để vợ chồng con cái ăn với nhau! Nhà tao không có lợn!
- Lạy quan lớn! Quả thực chúng con túng đói, xin quan lớn thương cho [IX,
tr.318].
Kết cấu phổ biến của cặp thoại gồm hai tham thoại. Tuy nhiên, vì những lý
do khác nhau, các tham thoại có thể lớn hơn hai hoặc ít hơn hai. Có trường hợp lại
tồn tại ba tham thoại trở lên, tham thoại thứ ba có ý nghĩa nhắc lại hoặc giải thích,
biện minh cho hành động của tham thoại thứ hai. Ví dụ:
(5). - Đồ xỏ lá! Đem về để vợ chồng con cái ăn với nhau! Nhà tao không có lợn!
- Lạy quan lớn! Quả thực chúng con túng đói, xin quan lớn thương cho.
- Mày kêu mày túng? Mày túng thì ông cách cổ mày đi cho thằng khác làm.
Đồ ba que! [IX, tr.318]
Trường hợp cặp thoại chỉ có một tham thoại dẫn nhập trong tình huống xảy
ra tiếng chửi lại xuất hiện khá nhiều bởi lý do: vai đáp lời không được phép hồi đáp;
vai tiếp nhận lời chửi vắng mặt; vai trao lời đang thực hiện hành động độc thoại...
Tuy vắng tham thoại hồi đáp, nhưng người đọc vẫn xác định được sự tồn tại đối
tượng mà vai trao lời hướng tới. Trường hợp cặp thoại chỉ có tham thoại dẫn nhập
được gọi là cặp thoại hẫng. Ví dụ:

ứng (đồng tình) thì được gọi là hồi đáp tích cực. Ngược lại, nếu tham thoại hồi đáp
không đồng tình thì gọi là hồi đáp tiêu cực. Ví dụ:
(8). Bà Hinh tức điên lên:
(Sp1) - Đồ đểu! Tại sao miệng lưỡi mày độc ác thế hả Doanh?
Doanh bảo:
(Sp2) - Thôi thôi. Tôi không nói nữa. Chân lý bao giờ cũng trắng trợn nên
rất khó nghe... Ừ thì con bà xinh, ừ thì con bà đẹp... [XXXIII, tr.608]
Cuộc thoại này có tham thoại hồi đáp được xem là tiêu cực. Sp2 tỏ thái độ
phản ứng sau lời dẫn nhập của Sp1.
(9).... (Sp1) Chị Bường nửa cười nửa khóc: “Đồ phải gió! Ở trên ấy nước
độc lắm đấy! Đừng có tắm đêm mà ngã nước đấy!”. (Sp2) Anh Bường bảo: “Nhớ
rồi! Khổ lắm! Đêm ai lại đi tắm nước lã bao giờ” [XXXIII, tr.131].



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status