MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Trong các kỹ năng sống (KNS), kỹ năng ra quyết định (RQĐ)
được coi là một kỹ năng cốt lõi, giữ vai trò vô cùng quan trọng trong
đời sống của mỗi cá nhân. Do đó, giáo dục kỹ năng RQĐ là nhiệm
vụ trọng tâm của giáo dục KNS.
Xã hội hiện đại đang diễn ra nhiều thay đổi nhanh chóng, trong
đó chứa đựng cả những cơ hội và thách thức đối với cuộc sống con
người. Thực tiễn cho thấy có nhiều hiện tượng tiêu cực, đáng tiếc xảy
ra do sinh viên thiếu KNS nói chung, thiếu những quyết định đúng
đắn khi đứng trước một vấn đề nào đó của cuộc sống, thậm chí có
những quyết định mang tính tiêu cực, sai lầm ảnh hưởng đến tương
lai lâu dài của các em. Qua điều tra thăm dò cho thấy nhu cầu của
sinh viên được trang bị KNS cao, trong đó một số kỹ năng mà sinh
viên quan tâm nhiều như: Kỹ năng RQĐ, kỹ năng giao tiếp ứng xử,
kỹ năng đương đầu với Stress, kỹ năng tìm kiếm việc làm, kỹ năng
phòng tránh các tệ nạn xã hội.
Mặc dù, trong thực tế đã xuất hiện các lớp đào tạo KNS, kỹ
năng mềm cho sinh viên, có thể có trong chương trình tự chọn của
trường đại học, có thể dưới dạng dịch vụ của công ty đào tạo kỹ
năng, nhưng còn thiếu những nghiên cứu hệ thống về giáo dục KNS,
kỹ năng mềm nói chung và kỹ năng RQĐ nói riêng cho sinh viên.
Vì vậy đề tài: “Giáo dục kỹ năng ra quyết định cho sinh viên
đại học” được chọn để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng biện pháp giáo dục kỹ năng ra quyết định cho sinh
viên, giúp họ biết giải quyết các vấn đề gặp phải trong cuộc sống một
cách phù hợp, phòng tránh được những rủi ro trong xã hội hiện đại,
góp phần thành công trong cuộc sống.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể
Sử dụng phương pháp phỏng vấn một số sinh viên, giảng
viên và cán bộ quản lý để tìm hiểu thực trạng kỹ năng RQĐ của
sinh viên, thực trạng giáo dục kỹ năng RQĐ cho sinh viên và
nguyên nhân của thực trạng.
6.2.3. Phương pháp quan sát
Quan sát các hoạt động của sinh viên để tìm hiểu sự thay đổi
về thái độ, hành vi của họ trong quá trình hình thành kỹ năng RQĐ
nhằm kiểm chứng và bổ sung các thông tin thu được từ quá trình
điều tra, phỏng vấn và quá trình thực nghiệm.
6.2.4. Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình
Nghiên cứu một số trường hợp điển hình để thấy rõ sự thay đổi
tích cực trong việc lựa chọn, ra các quyết định phù hợp để giải quyết
các vấn đề gặp phải trong cuộc sống sau khi tham gia thực nghiệm.
6.2.5. Phương pháp thực nghiệm
Sử dụng phương pháp này để đánh giá tính khả thi và hiệu
2
quả của các biện pháp giáo dục kỹ năng RQĐ cho sinh viên, góp
phần kiểm định giả thuyết khoa học.
6.2.6. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Xem xét quá trình RQĐ của các nhóm sinh viên trong các tình
huống thực nghiệm để đánh giá kỹ năng RQĐ của sinh viên và thông
qua nhật ký ghi chép sự ứng dụng kỹ năng RQĐ trong các tình huống
sinh viên gặp trong cuộc sống (Hoạt động tiếp nối sau thực nghiệm).
6.3. Các phương pháp bổ trợ
6.3.1. Phương pháp xử lí các số liệu thu được bằng toán thống kê và
phần mềm SPSS
Phương pháp này được sử dụng để xử lý các số liệu thu được
trong điều tra thực trạng và TN nhằm rút ra những kết luận cần thiết.
6.3.2. Phương pháp chuyên gia
Dùng phương pháp này để tham khảo ý kiến của một số nhà
RQĐ đúng đắn sẽ có thể giải quyết được các vấn đề hiệu quả.
- Có thể hình thành, rèn luyện và phát triển kỹ năng RQĐ cho
SV bằng cách trang bị các bước cơ bản của kỹ năng RQĐ, sau đó tổ
chức cho SV vận dụng nó vào các tình huống xác định mục tiêu,
quản lý thời gian, giải quyết mâu thuẫn, ứng phó với những tệ nạn
xã hội
- Giáo dục, rèn luyện kỹ năng RQĐ vừa đòi hỏi, vừa thúc
đẩy các KNS có liên quan như tư duy phê phán, tư duy sáng tạo,
xác định giá trị, xác định mục tiêu phát triển theo. Vì vậy, giáo
dục kỹ năng RQĐ cần gắn liền với giáo dục những KNS khác như
là một chỉnh thể.
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC
KỸ NĂNG RA QUYẾT ĐỊNH CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC
1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Các tác giả đề cập đến vấn đề RQĐ của con người với các
kiểu quyết định khác nhau, nhận biết các bước trong quá trình RQĐ,
các yếu tố ảnh hưởng tới việc RQĐ và cách RQĐ có hiệu quả,
phương pháp RQĐ cho những quyết định quan trọng và có trách
nhiệm với quyết định của mình
Ngoài các nghiên cứu về kỹ năng RQĐ trong cuộc sống của
mọi đối tượng, có những nghiên cứu, bàn luận về RQĐ trong
quản lý thời gian, kế hoạch học tập, về ăn uống để dẫn đến thành
công trong thể thao, quân sự để phòng tránh những rủi ro trong
môi trường phức tạp.
Từ góc độ quản lý, các nghiên cứu đã đề cập RQĐ với tư cách
là vấn đề then chốt trong quản lý; bàn về quá trình RQĐ, các giai
đoạn RQĐ, những lựa chọn phương án quyết định trong quản lý sản
xuất….Những nghiên cứu về lĩnh vực tâm lý học quản lý của RQĐ đề
nhiệm vụ tương ứng”.
1.2.2. Kỹ năng sống
Quan niệm về KNS rất đa dạng, cách hiểu về KNS gắn với văn
hóa và bối cảnh cụ thể. Trong đề tài này tác giả quan niệm: Kỹ năng
sống là năng lực tâm lý - xã hội giúp con người thích ứng, giao tiếp,
giải quyết những tình huống trong xã hội hiện đại một cách tích cực
và hiệu quả.
1.2.3. Kỹ năng ra quyết định
RQĐ trong cuộc sống là: Sự lựa chọn được phương án tối ưu từ
5
các phương án để giải quyết các vấn đề, tình huống trong cuộc sống.
Kỹ năng RQĐ là: Khả năng của con người lựa chọn phương
án tối ưu từ các phương án có thể để giải quyết kịp thời, hiệu quả
các vấn đề trong cuộc sống. Hiệu quả phải gắn liền với tính xây
dựng, tích cực và phù hợp với bối cảnh.
1.2.4. Giáo dục kỹ năng ra quyết định
Giáo dục kỹ năng ra quyết định là quá trình tác động có mục
đích, có tổ chức với nội dung, phương pháp, biện pháp phù hợp của
các lực lượng giáo dục nhằm hình thành và phát triển kỹ năng RQĐ
cho người được giáo dục.
1.3. Quá trình giáo dục kỹ năng ra quyết định cho sinh viên
1.3.1. Sự tất yếu phải giáo dục kỹ năng ra quyết định cho sinh viên
1.3.1.1. Yêu cầu của xã hội
Con người trong XH hiện đại cần được trang bị các KNS nói
chung, kỹ năng RQĐ nói riêng để luôn có những quyết định phù hợp,
hiệu quả, đạt được thành công và chất lượng cuộc sống
1.3.1.2. Đặc điểm tâm lý - xã hội của sinh viên
Sinh viên là lứa tuổi trưởng thành về thể chất, là giai đoạn phát
triển khá ổn định, hệ thần kinh cũng như sức nhanh, sức mạnh, sự
bền bỉ, linh hoạt, dẻo dai phát triển mạnh.
chọn ra phương án tối ưu.
1.3.3.2. Giáo dục kỹ năng ra quyết định gắn với các vấn đề của sinh viên
- Vận dụng kỹ năng RQĐ vào giải quyết những vấn đề
trong học tập
- Vận dụng kỹ năng RQĐ vào quản lý thời gian
- Vận dụng kỹ năng RQĐ trong những vấn đề trong cuộc sống
hàng ngày
1.3.4. Nguyên tắc giáo dục kỹ năng ra quyết định cho sinh viên
Giáo dục kỹ năng RQĐ cho sinh viên cần quán triệt các
nguyên tắc: Nguyên tắc trải nghiệm qua hoạt động, nguyên tắc tương
tác, nguyên tắc thay đổi hành vi.
1.3.5. Phương pháp giáo dục kỹ năng ra quyết định cho sinh viên
Các phương pháp giáo dục kỹ năng ra quyết định cho SV bao
gồm: Động não, thảo luận, luyện tập, rèn luyện, nghiên cứu tình
huống, nghiên cứu trường hợp điển hình, trò chơi và đóng vai.
1.3.6. Các con đường giáo dục kỹ năng ra quyết định cho sinh viên
đại học
Giáo dục kỹ năng RQĐ cho sinh viên được thực hiện qua một số
con đường: Thông qua quá trình học tập các môn học trong chương
trình đào tạo, thông qua dạy học môn tự chọn (chuyên đề) về “kỹ
năng sống” hoặc “kỹ năng mềm”, thông qua hoạt động ngoài giờ lên
lớp, thông qua công tác tham vấn để giáo dục kỹ năng RQĐ cho sinh
viên và thông qua các tình huống thực trong cuộc sống.
1.3.7. Quy trình tổ chức giáo dục kỹ năng ra quyết định cho sinh viên
- Thứ nhất, tổ chức cho SV trải nghiệm kỹ năng ra quyết định để
7
nhận thức được thế nào là kỹ năng RQĐ.
- Thứ hai, tổ chức và đặt SV vào các tình huống đa dạng (có
thể là tình huống giả định) để luyện tập RQĐ.
- Thứ ba, yêu cầu SV tiếp tục vận dụng kỹ năng RQĐ vào các
có ảnh hưởng lớn tới việc RQĐ của SV.
1.4.2. Yếu tố chủ quan: Mục tiêu, giá trị, lối sống, sức khoẻ, khả năng
8
quyết đoán của cá nhân, ý thức rèn luyện, năng lực nhận thức của cá
nhân, đặc biệt là tư duy phê phán và tư duy sáng tạo để đưa ra những
dự đoán, ý thức trách nhiệm và khả năng đảm nhiệm trách nhiệm,
cùng những KNS khác… của từng SV có ảnh hưởng trực tiếp đến
quá trình giáo dục kỹ năng RQĐ và chất lượng quyết định của họ.
Chương 2
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG RA QUYẾT ĐỊNH
CHO SINH VIÊN TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
HIỆN NAY
2.1. Mục tiêu và phương pháp khảo sát
2.1.1. Mục tiêu khảo sát
Tìm hiểu thực trạng kỹ năng ra quyết định của sinh viên và
việc giáo dục kỹ năng này ở một số trường đại học, nhằm xác định
cơ sở thực tiễn để đề xuất biện pháp giáo dục kỹ năng ra quyết định
cho SV có hiệu quả cao hơn.
2.1.2. Phương pháp khảo sát
Bao gồm: Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi, phỏng vấn sâu
(đối với sinh viên, cán bộ quản lý và giảng viên), quan sát cách xử lý
tình huống của sinh viên, phương pháp nghiên cứu trường hợp.
2.2. Phân tích kết quả nghiên cứu thực trạng kỹ năng ra quyết
định và giáo dục kỹ năng ra quyết định cho sinh viên
2.2.1. Nhận thức của cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên về
tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng ra quyết định cho sinh viên
Qua kết quả thống kê ở bảng 2.1a (luận án) cho thấy đa số
CBQL, GV (94%) sinh viên (97%) nhận thức được tầm quan trọng
của việc giáo dục kỹ năng RQĐ cho sinh viên. Đồng thời từ nguồn
phỏng vấn cũng thu được những nhận định về tầm quan trọng của
9 7.50 163 23.39
5 Khả năng của con người lựa chọn
phương án tối ưu để giải quyết các
vấn đề trong cuộc sống.
28 23.34 81 11.62
6 Không trả lời
1 0.83 18 2.58
Tổng số 120 100.00 697 100.00
Trong 5 phương án trả lời thì phương án số 3 là phù hợp nhất.
Nhìn kết quả thu được ở bảng trên cho thấy chỉ có 50% CBQL, GV
và 37,88% sinh viên đã lựa chọn phương án đúng là 3. Điều này cho
thấy số đông sinh viên hiểu về kỹ năng RQĐ còn hạn chế.
2.2.3. Nhận thức của CBQL, giảng viên và sinh viên về ý nghĩa
của kỹ năng ra quyết định đối với cuộc sống cá nhân
10
Bảng 2.3: Nhận thức của CBQL, giảng viên và sinh viên về ý
nghĩa của kỹ năng ra quyết định đối với cá nhân
STT Các ý nghĩa đối với cá nhân
CBQL, GV Sinh viên
SL % SL %
1 Giúp cá nhân thành công
trong cuộc sống
65 54.17 372 53.37
2 Tự lập và làm chủ cuộc sống
83 69.17
48
0
68.87
3 Luôn tự tin 44 36.67 288 41.32
4 Giải quyết công việc đạt hiệu quả
STT Các vấn đề
CBQL,
giảng viên
Sinh viên
SL % SL %
1 Trong học tập
44 36.67 113 16.21
2 Trong ứng xử 69 57.50 369 52.94
3 Trong quan hệ tình cảm khác
giới, quan hệ tình dục
60 50,00 297 42.61
4 Trong việc phòng tránh các tệ nạn
xã hội
41 34.17 64 9.18
5 Trong ứng phó với Stress 48 40.00 204 29.27
6 Trong việc quản lý thời gian 61 50.83 213 30.56
7 Trong việc xác định mục tiêu phù
hợp
47 39.17 233 33.43
8 Trong việc xác định giá trị 14 11.67 121 17.36
9 Trong hoạt động nghề nghiệp
sau này
40 33.33 189 27.12
Nhìn kết quả các số liệu thu được ở bảng trên cho thấy, có
nhiều vấn đề trong cuộc sống sinh viên cảm thấy khó khăn khi ra
quyết định như: Trong ứng xử, trong tình cảm khác giới/trong quan
hệ giới tính, trong quản lý thời gian, trong xác định mục tiêu phù
hợp, trong học tập…Đây là những vấn đề trong cuộc sống thường
ngày sinh viên thường phải va chạm. Trong các vấn đề trên thì các
vấn đề trong quan hệ, ứng xử, trong quan hệ với bạn khác giới, trong
Kết quả nghiên cứu ở bảng 2.7b (luận án) cho thấy, sinh viên
tự đánh giá về quá trình RQĐ của mình khá tốt. Tất cả các bước đều
được sinh viên lựa chọn ở mức thường xuyên và khá thường xuyên
với tỉ lệ cao (trên 50%). Có một số bước sinh viên lựa chọn ở mức
thường xuyên và khá thường xuyên với tỉ lệ rất cao như: Xác định
vấn đề, trên 86%; Lựa chọn phương án tối ưu, trên 80%; Liệt kê các
phương án có thể, xấp xỉ 70%.
Như vậy, phần lớn sinh viên khi RQĐ đã thực hiện và tuân
thủ đầy đủ các bước. Đây là cơ hội để sinh viên có các quyết định
đúng đắn.Kết hợp với phương pháp quan sát và nghiên cứu sản
phẩm để thẩm định thì kết quả thấp hơn.
Để bổ sung cho kết quả trên, kiểm chứng sinh viên RQĐ theo
các bước đúng hay không, chúng tôi đưa ra câu hỏi số 10b (Phụ lục 1
luận án), câu hỏi 11b (Phụ lục 2 luận án). Kết quả được phản ánh
trong bảng 2.7c (luận án) có đến 78,9% SV đưa ra thứ tự các bước ra
quyết định chưa đúng, điều này cho thấy, kỹ năng RQĐ của sinh viên
còn nhiều hạn chế. Phỏng vấn sinh viên được biết: chủ yếu các em tự
13
RQĐ theo ý chủ quan, sở thích, theo cảm tính của mình, các em
không biết RQĐ theo một quy trình nào cả. Vì thế, kết quả RQĐ của
các em có thể phù hợp, có thể không phù hợp.
2.3.5. Nhu cầu được giáo dục kỹ năng ra quyết định của sinh viên
2.3.5.1. Mức độ nhu cầu được giáo dục
Bảng số 2.8 (luận án) cho thấy, sinh viên có nhu cầu được
giáo dục kỹ năng RQĐ rất cao (trên 88% sinh viên mong muốn và
rất mong muốn). Sinh viên rất cần có kỹ năng RQĐ bởi họ đã nhận
thức được tầm quan trọng và sự cần thiết của kỹ năng RQĐ. Số
sinh viên không có nhu cầu được giáo dục kỹ năng RQĐ chiếm một
tỉ lệ rất nhỏ. Đây là thực trạng đòi hỏi các trường đại học hiện nay
cần quan tâm.
SL % SL %
1 Không trả lời
1 0.83 6 0.86
2 Chưa được giáo dục
4 3.33 50 7.17
3 Hiếm khi
11 9.17 84 12.05
4 Thỉnh thoảng 37 30.83 317 45.48
5 Khá thường xuyên 54 45.00 139 19.94
6 Thường xuyên 13 10.83 101 14.49
Kết quả ở bảng 2.10 cho thấy, sinh viên đánh giá thấp hơn
CBQL và GV về mức độ được giáo dục kỹ năng RQĐ. Chỉ có hơn
30% SV cảm thấy họ được giáo dục kỹ năng RQĐ ở mức thường
xuyên và khá thường xuyên. Gần 20% SV cho rằng họ hiếm khi hoặc
không được giáo dục kỹ năng ra quyết định. Đây là những con số hết
sức đáng lưu tâm. Đánh giá về vấn đề này, chúng tôi chủ yếu căn cứ
vào ý kiến của sinh viên, vì họ là những người cảm nhận trực tiếp có
được giáo dục hay không. Sự khác nhau về tần suất được giáo dục kỹ
năng RQĐ của SV có thể do có những sinh viên tham gia học thêm ở
các trung tâm đào tạo kỹ năng hoặc tự nguyện tham gia sinh hoạt
trong các Câu lạc bộ do nhà trường tổ chức.
2.4.2. Các hình thức giáo dục kỹ năng ra quyết định cho sinh viên
Tìm hiểu thực trạng về vấn đề này chúng tôi thu được kết quả
ở bảng 2.11 (luận án).
Bảng số liệu cho thấy 60% CBQL, GV và 53.8% sinh viên
cho rằng sinh viên được giáo dục kỹ năng RQĐ thông qua việc xử
lý các tình huống gặp phải trong thực tiễn. Đây là hình thức được
CBQL, GV và sinh viên lựa chọn cao nhất. Tìm hiểu thực tế được
biết, một số trường đại học có tổ chức cho sinh viên được giáo dục
KNS, KNM như: Trường ĐH Ngoại thương; Trường ĐH Sư phạm
Qua số liệu thu được ở bảng 2.12 (luận án) cho thấy, ý kiến
của CBQL, GV và sinh viên khá đồng thuận với nhau về kết quả của
việc giáo dục kỹ năng RQĐ cho sinh viên. Sinh viên chưa thu hoạch
được nhiều sau những buổi tham gia các hoạt động giáo dục KNS-
thể hiện chỉ 58.39% SV nhận thức được ý nghĩa của kỹ năng RQĐ
trong cuộc sống. Tỷ lệ sinh viên hiểu được ý nghĩa của RQĐ cao gấp
đôi tỷ lệ sinh viên biết các bước RQĐ (24.10%) và chỉ có 27.69%
vận dụng vào các tình huống trong cuộc sống.
2.4.4. Các lực lượng tham gia giáo dục kỹ năng ra quyết định cho
sinh viên
Kết quả nghiên cứu ở bảng 2.13 (luận án), có một nhận xét
chung là: Lực lượng được đánh giá cao nhất là Đoàn thanh niên và
Hội sinh viên, với 67.50% CBQL, GV và 55.81% sinh viên lựa chọn.
Tiếp theo là các lực lượng như GVCN, CVHT; phòng Công tác sinh
viên cũng được CBQL và GV đánh giá cao (hơn 65%), nhưng sinh
viên đánh giá không cao lắm (chỉ hơn 30%). Đối với ban Giám hiệu
nhà trường, sinh viên đánh giá không cao (13.49%); Qua quan sát
16
thực tế, chúng tôi thấy đây là những lực lượng chủ công trong công
tác giáo dục KNS, kỹ năng RQĐ cho sinh viên.
2.4.5. Đánh giá mức độ hài lòng đối với quá trình giáo dục kỹ
năng ra quyết định cho sinh viên
Qua kết quả ở bảng 2.14 (luận án), tìm hiểu nguyên nhân được
biết, các yếu tố như kinh nghiệm và kiến thức về lĩnh vực RQĐ của
nhà tổ chức có hạn, kinh phí eo hẹp, thời gian và hứng thú của SV…
đã ảnh hưởng đến kết quả tổ chức, vì thế mức độ hài lòng và rất hài
lòng được đánh giá chưa cao.
2.5. Những yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng ra quyết định của sinh viên
Theo kết quả nghiên cứu ở bảng 2.15 (luận án) chúng tôi thấy,
các yếu tố khách quan: Tác động của môi trường xã hội, nguyện
buộc/tự chọn, chuyên đề về giáo dục KNS/kỹ năng mềm; Giáo dục
kỹ năng RQĐ cho sinh viên thông qua tham vấn; Giáo dục kỹ năng
RQĐ cho sinh viên thông qua các hoạt động GDNGLL như: Giáo
dục kỹ năng RQĐ cho sinh viên qua hoạt động thực tế, tham quan;
giáo dục kỹ năng RQĐ cho sinh viên thông qua hình thức CLB.
3.3. Các điều kiện đảm bảo giáo dục kỹ năng ra quyết định đạt hiệu quả
Bao gồm: Công tác chỉ đạo, giảng viên, sinh viên, thời gian,
cơ sở vật chất, tài chính.
3.4. Thực nghiệm sư phạm
3.4.1. Đối tượng thực nghiệm
Chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm giáo dục kỹ năng RQĐ
cho sinh viên K12 (58 sinh viên TN, 60 sinh viên ĐC) và K13 (39
sinh viên TN, 40 sinh viên ĐC) Đại học Tâm lý học, khoa Tâm lý -
Giáo dục, trường Đại học Hồng Đức.
3.4.2. Nội dung thực nghiệm
Thiết kế và tổ chức dưới hình thức sinh hoạt câu lạc bộ các
chủ đề về kỹ năng RQĐ trong việc xác định mục tiêu; RQĐ trong
học tập; RQĐ trong việc quản lý thời gian; RQĐ trong giao tiếp, ứng
xử; RQĐ trong quan hệ tình cảm khác giới; RQĐ trong phòng tránh
các tệ nạn xã hội.
3.4.3. Tiêu chí và thang đánh giá
- Chúng tôi đánh giá trình độ kỹ năng RQĐ của SV thông qua
một số tiêu chí dưới đây.
* Nhận thức
Về mặt nhận thức, chúng tôi yêu cầu sinh viên hiểu rõ để phân
tích được bản chất của kỹ năng RQĐ. SV phải liệt kê được đầy đủ và
đúng trình tự của các bước RQĐ, vai trò, ý nghĩa của kỹ năng RQĐ
trong cuộc sống cá nhân sinh viên phải hiểu biết đúng nội dung các
kỹ năng RQĐ trong giao tiếp, ứng xử, trong phòng tránh các tệ nạn
xã hội, trong quan hệ tính cảm khác giới; trong học tập; trong xác
của nhóm đối chứng tương ứng
thời gian trước và sau tác động lần
thứ nhất
19
Biểu đồ 3.3: Kết quả đo về thái độ của
nhóm thực nghiệm trước và sau tác động
lần thứ nhất
Biểu đồ 3.4: Kết quả đo thái độ của
nhóm đối chứng tương ứng thời gian
trước và sau tác động lần thứ nhất
Biểu đồ 3.5: Kết quả đo hành vi của
nhóm thực nghiệm trước
và sau tác động lần thứ nhất
Biểu đồ 3.6: Kết quả đo hành vi của
nhóm đối chứng tương ứng thời gian
trước và sau tác động lần thứ nhất
Biểu đồ 3.7: Kết quả đo nhận thức
nhóm thực nghiệm trước và sau
tác động lần thứ hai
Biểu đồ 3.8: Kết quả đo nhận thức
nhóm ĐC tương ứng thời gian trước
và sau tác động lần thứ hai
20
Biểu đồ 3.9: Kết quả đo thái độ nhóm
thực nghiệm trước và sau
tác động lần thứ hai
Biểu đồ 3.10: Kết quả đo thái độ
nhóm ĐC tương ứng thời gian trước
và sau tác động lần thứ hai
Biểu đồ 3.11: Kết quả đo hành vi
Trước khi được tham gia sinh hoạt Câu lạc bộ về Giáo dục kỹ
năng RQĐ, sinh viên thường RQĐ theo thói quen, kinh nghiệm ít ỏi
của bản thân hoặc do người lớn, người thân hướng dẫn, thậm chí có
em còn quyết định theo bản tính, thói quen, sở thích cá nhân. Sau quá
trình làm thực nghiệm, chúng tôi nghiên cứu những cuốn sổ nhật ký
mà các em đã ghi lại sự trải nghiệm của bản thân trong cuộc sống sau
khi sinh hoạt Câu lạc bộ về kỹ năng RQĐ, các em đều đã vận dụng
các bước trong quá trình RQĐ để giải quyết công việc có hiệu quả cả
trong giao tiếp, ứng xử, tình bạn, tình yêu hay trong việc phòng tránh
các tệ nạn xã hội….
100% sinh viên được nghiên cứu nêu trên đều cho rằng: Để
biết RQĐ và có kỹ năng RQĐ có hiệu quả thì nhà trường cần tổ chức
nhiều các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, thông qua các môn
học. Đặc biệt, sinh viên cần được sinh hoạt CLB, tham gia nhiều
hoạt động bổ ích.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
KẾT LUẬN
Kỹ năng RQĐ là một kỹ năng cốt lõi trong các KNS của mỗi
con người. Có rất nhiều cách phân loại KNS, nhưng trong đó kỹ
năng RQĐ luôn luôn là kỹ năng cơ bản.
Kỹ năng RQĐ là một dạng năng lực tâm lý xã hội với 5 bước
RQĐ như sau: Xác định vấn đề, thu thập thông tin cần thiết về vấn đề,
liệt kê (đề ra) các phương án có thể xảy ra, phân tích từng phương
án, lựa chọn ra phương án tối ưu.
22
Kỹ năng RQĐ có mối quan hệ chặt chẽ với các KNS khác và phụ
thuộc vào kinh nghiệm sống, sự từng trải của cá nhân trong một lĩnh vực
cụ thể. Những người từng trải, có nhiều kinh nghiệm thường có những
quyết định hợp lý trước các tình huống xảy ra. Kỹ năng RQĐ phải giáo
dục gắn liền với việc trang bị nhận thức, thái độ, niềm tin và rèn một số
KIẾN NGHỊ
- Đối với Ban Giám hiệu trường đại học
Chỉ đạo giảng viên lồng ghép giáo dục KNS nói chung, kỹ năng
RQĐ nói riêng vào trong quá trình dạy học các môn học, học phần cấu
thành chương trình đào tạo.
Nhà trường cần có các cơ chế và thời gian cho sinh viên tổ
chức các câu lạc bộ, toạ đàm, các hoạt động… Để tạo điều kiện cho
sinh viên tham gia các hoạt động nhằm phát triển kỹ năng RQĐ, nhà
trường cần đầu tư cơ sở vật chất, các phương tiện hỗ trợ hoạt động
như: phòng học, sân chơi, hệ thống loa đài…
Nhà trường cần trở thành đầu mối tổ chức các hoạt động
như mời chuyên gia nói chuyện, mời cán bộ tham vấn, lựa chọn
nội dung, hình thức tổ chức…
Xây dựng nội dung chương trình giáo dục KNS cho sinh viên,
trong đó có kỹ năng RQĐ. Đầu tư mua tài liệu, sách vở có liên quan
đến các nội dung giáo dục.
- Đối với khoa
Khoa cần phối hợp với nhà trường, với tổ chức Đoàn thanh
niên, Hội sinh viên để tổ chức các hoạt động giáo dục. Lãnh đạo
khoa đứng ra điều hành các GVCN, CVHT, GV, giúp các tập thể lớp
chủ động đề xuất các nội dung giáo dục sinh viên.
- Đối với Đoàn thanh niên và Hội sinh viên
Tổ chức Đoàn thanh niên, Hội SV cần chủ động và sáng tạo
các hình thức tổ chức giáo dục sao cho phù hợp với đặc điểm lứa tuổi
sinh viên, điều kiện của nhà trường. Đoàn thanh niên và Hội sinh
viên cần chủ động đề xuất với khoa, với nhà trường về nhu cầu được
giáo dục của sinh viên, để từ đó đề xuất các nội dung và hình thức
giáo dục phù hợp. Tích cực cùng với nhà trường, với khoa tổ chức
tốt các buổi tạo đàm, các CLB, các hoạt động ngoài trời, tham quan
dã ngoại…