ĐỀ BÀI.
Câu 1: Trình bày vai trò của hoạt động kinh doanh quốc tế thông qua những ví dụ thực tế
đối với các chủ thể của Việt Nam.
Câu 2: Trình bày cơ sở của hoạt động kinh doanh quốc tế. Nếu là nhà hoạch định chiến
lược xuất nhập khẩu của Việt Nam trong 5 năm tới thì bạn sẽ quan tâm tới những lĩnh
vực hay mặt hàng gì? Hãy giải thích thông qua những ví dụ thực tế trong các năm vừa
qua.
BÀI LÀM.
Câu 1: Trình bày vai trò của hoạt động kinh doanh quốc tế thông qua những ví dụ thực tế
đối với các chủ thể của Việt Nam.
ĐỀ TÀI: VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG XUÁT KHẨU ĐỐI VỚI CÔNG TY XUẤT
KHẨU GẠO MIỀN NAM.
I. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Việc chuyển sang cơ chế thị trường, thương mại quốc tế cùng với việc tham gia sâu
rộng vào sự phân công lao động quốc tế, Việt Nam đang từng bước hòa nhập, thay đổi và đi
đúng quỹ đạo của sự phát triển quốc tế. Để nền kinh tế ngày càng phát triển đuổi kịp các nước
trong khu vực cũng như trên thế giới thì kinh doanh quốc tế được xem là một trong những
ngành kinh tế chiến lược. Đồng thời kinh doanh quốc tế là một bộ phận quan trọng tạo động
lực phát triển cho nền kinh tế đất nước, góp phần làm phát triển kinh tế đất nước, thu về lượng
ngoại tệ nhằm công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần giải quyết công ăn việc làm,
nâng cao đời sống cho người lao động đưa đất nước ngày một giàu mạnh.
Xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong hoạt động thương mại quốc tế, là phương tiện
thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Việc mở rộng xuất khẩu để tăng thu nhập ngoại tệ cho tài
chính, học tập kinh nghiệm quản lý, công nghệ, tạo điều kiện phát triển cơ sở hạ tầng, tăng
mức thu nhập của nhân dân và phát huy nội lực là mục tiêu quan trọng nhất của chính sách
thương mại.
Chính vì lý do đó em xin phân tích vai trò của kinh doanh quốc tê mà cụ thể là tác động
của hoạt động xuất khẩu đối với công ty XUẤT KHẨU GẠO MIỀN NAM để thấy rõ vai trò
của hoạt động kinh doanh quốc tế đối với các chủ thể nói riêng và nền kinh tế VN nói chung.
II. TỔNG QUAN VÊ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT KHẨU.
Hoạt động kinh doanh xuất khẩu là hoạt động mua bán không chỉ diễn ra trong phạm vi
IV. TÌNH HÌNH KINH DOANH CỦA CÔNG TY KHI CHUYỂN SANG HOẠT
ĐỘNG XUẤT KHẨU.
Bảng 1: Cơ cấu doanh thu xuất khẩu của công ty từ 2007-2009
Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Doanh thu
(triệu đồng)
Tỷ trọng
%
Doanh thu
(triệu đồng)
Tỷ trọng
%
Doanh thu
(triệu đồng)
Tỷ trọng
%
Tiêu thụ nội địa 196.097 43,7 241.218 42,2 270.019 34,9
Xuất khẩu 252.701 56,3 330.565 57,8 504.333 65,1
Tổng 448.798 100,0 571.783 100,0 774.352 100,0
Qua bảng số liệu cho thấy doanh thu xuất khẩu tăng dần qua các năm. Từ 252.701 triệu
đồng năm 2007 chiếm 56,3% tỷ trọng tăng lên 330.565 triệu đồng năm 2008 chiếm 57,8% và
năm 2009 tiếp tục tăng lên 504.333 triệu đồng chiếm 65,1%.
Năm 2009 tăng so với năm 2008 là 173768 triệu đồng, so với năm 2007 là 251632 triệu
đồng trong khi năm 2008 tăng so với năm 2007 là 77864 triệu đồng. Điều này cho thấy doanh
thu xuất khẩu ngày một tăng cao.
Từ đó cho thấy tốc độ tăng doanh thu của xuất khẩu rất cao. Tốc độ tăng doanh thu của
năm 2008 so với năm 2007 là 30% và tốc độ tăng doanh thu năm 2009 so với năm 2008 là
52,57%.
Trong khi đó tiêu thụ nội địa của công ty trong những năm qua đang có chiều hướng
giảm đi và không còn là thị trường chính của công ty.
- Doanh lợi
tiêu thụ
% 4,36 4,48 4,36
ROA % 0,80 0,80 0,90
-Về khả năng thanh toán ngắn hạn của công ty : năm 2007 là 0,91; năm 2008 tăng lên
là 1,09; đến năm 2009 hệ số thanh toán ngắn hạn là 1. Mức độ thay đổi về khả năng thanh toán
ngắn hạn qua các năm là không lớn, điều này cho thấy mức độ trang trải của tài sản lưu động
đối với nợ ngắn hạn mà không cần tới một khoản vay mượn thêm của công ty là rất tốt, khả
năng trả nợ khi đến hạn là rất cao.
-Về khả năng thanh toán nhanh của công ty : năm 2007 là 0,48; năm 2008 tăng lên
0,55; đến năm 2009 hệ số thanh toán nhanh là 0,54. Từ những số liệu này cho thấy công ty có
khả năng đáp ứng nhanh các khoản nợ ngắn hạn, khả năng chi trả là rất tốt, không gây ra tình
trạng mất cân đối của vốn lưu động.
-Về tỷ số đảm bảo nợ dài hạn nhìn chung là tăng dần qua các năm, cụ thể là từ 2,2 năm
2007 tăng lên 2,47 năm 2008; đến năm 2009 tiếp tục tăng lên là 2,57, điều này cho thấy khả
năng đảm bảo nợ dài hạn của công ty là rất tốt, tỷ số là rất cao và mỗi năm đều tăng, tạo niềm
tin cho các chủ nợ, thuận lợi cho việc vay vốn dài hạn để phát triển hoạt động kinh doanh của
công ty.
-Về tỷ số nợ : năm 2007 là 0,79; năm 2008 là 0,74; năm 2009 là 0,75. Những số liệu
này chênh lệch không cao, mức độ thay đổi qua các năm là không lớn, chứng tỏ tỷ lệ của vốn
vay trong tổng số vốn của công ty là tương đối cao. Tuy nhiên, khả năng thanh toán nợ ngắn
hạn và tỷ số đảm bảo nợ dài hạn của công ty là rất tốt, điều này làm cho các chủ nợ an tâm, tin
tưởng vào công ty.
-Về kỳ thu tiền bình quân : năm 2007 là 61 ngày, năm 2008 giảm xuống còn 57 ngày,
năm 2009 tiếp tục giảm thấp còn 40 ngày. Từ những số liệu này cho thấy khả năng thu hồi vốn
trong thanh toán tiền hàng của công ty là nhanh và giảm dần qua các năm, điều này là rất tốt,
chứng tỏ vốn của công ty ít bị đọng trong khâu thanh toán.
-Về tỷ lệ lãi gộp : năm 2007 là 8,37%; năm 2008 tăng lên là 12,1%; đến năm 2009
giảm xuống còn 6,94%. Điều này cho thấy khả năng trang trải chi phí đặc biệt là chi phí bất
biến để đạt lợi nhuận là vừa phải.
2008 là 571783 triệu đồng, năm 2009 là 774.352 triệu đồng.
Doanh lợi tiêu thụ của công ty năm 2007 là 19.567,6 triêu đồng. Năm 2008 đạt
25.615,9 triệu đồng. Năm 2009 là 33.761,7 triệu đồng.
-Tác động tới trình độ kỹ thuật của công nhân viên:
Để đáp ứng được với yêu cầu kỹ thuật cao của trang thiết bị hiện đại công ty cũng đã
có những chương trình đào tạo nâng cao tay nghề cho công nhân. Số lượng công nhân có trình
độ là kỹ sư đại học tăng cao và đạt 127 người năm 2009.
-Tác động tới công nghệ và trang thiết bị của công ty:
Công ty đã đáp ứng được đòi hỏi về qui trình sản xuất và hoàn thiện theo công nghệ
mới của các đối tác nước ngoài.
-Tác động tới thu nhập của công nhân viên.
Thu nhập bình quân của công nhân tăng lên qua các năm: năm 2007 thu nhập bình quân
là 3,6 triệu đồng. năm 2008 là 3,8 triệu đồng và năm 2009 là 3,9 triệu đồng.
-Tác động từ chênh lệch từ tỷ giá ngoại tệ:
Công ty thường xuyên bị tác động mạnh từ sự chênh lệch vè tỷ giá của đồng VND so
với các đồng tiền khác từ các bạn hàng là nước ngoài, điều đó ảnh hưởng trực tiếp tới kế hoạch
kinh doanh của công ty.
VI. VAI TRÒ CỦA XUẤT KHẨU ĐỐI VỚI CÔNG TY.
Hoạt động xuất khẩu với các công ty có vai trò rất quan trọng. Thực chất nó là hoạt
động bán hàng của các Công ty xuất nhập khẩu và thu lợi nhuận từ hoạt động này góp phần
quyết định sự tồn tại và phát triển của Công ty. Lợi nhuận là nguồn bổ sung vào nguồn vốn
kinh doanh, các quỹ của Công ty. Lợi nhuận cao cho phép Công ty đẩy mạnh tái đầu tư vào tài
sản cố định, tăng nguồn vốn lưu động để thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu, giúp Công ty
ngày càng mở rộng và phát triển.
Cùng với sự bùng nổi của nền kinh tế toàn cầu thì xu hướng vươn ra thị trường quốc tế
là một xu hướng chung của tất cả các quốc gia và các doanh nghiệp.
1. Xuất khẩu là một trong những con đường quen thuộc để các doanh nghiệp thực hiện kế
hoạch bành trướng, phát triển, mở rộng thị trường của mình.
2. Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm do
doanh nghiệp sản xuất ra. Nhờ có xuất khẩu mà tên tuổi của doanh nghiệp không chỉ được các
Để Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá đòi hỏi phải có số vốn lớn để nhập khẩu máy móc,
thiết bị, kỹ thuật,công nghệ tiến tiến.
Nguồn vốn để nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn như:
- Từ tích luỹ trong nền kinh tế quốc dân
- Đầu tư nước ngoài.
- Vay nợ, viện trợ.
- Thu từ hoạt động du lịch, dịchvụ thu ngoại tệ.
- Xuất khẩu hàng hoá.
2. Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát
triển.
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá phù hợp với xu hướng
phát triển của kinh tế thế giới là tất yếu đối với Việt Nam.
Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế.
Một là: xuất khẩu chỉ là tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vượt quá nhu cầu
nội địa. Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển như nước ta, sản xuất về
cơ bản chưa đủ tiêu dùng và nếu chỉ thụ động chờ sự thừa ra của sản xuất thì xuất khẩu vẫn cứ
nhỏ bé, không có cơ sở tồn tại và phát triển.
Hai là: trên cơ sở lợi thế so sánh của đất nước mình, coi thị trường là điểm xuất phát và
đặc biệt thị trường thế giới là hướng quan trọng để tổ chức sản xuất, chỉ sản xuất cái gì thị
trường cần. Quan điểm này xuất phát từ nhu cầu thị trường thế giới kết hợp với tiềm năng, thực
lực của đất nước để tổ chức sản xuất, hình thành các ngành kinh tế hướng về xuất khẩu. Những
ngành kinh tế đó phải có kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để hàng hoá khi tham gia thị trường
thế giới có đủ sức cạnh tranh và mạng lại lợi ích cho quốc gia. Điều đó có tác động tích cực
đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thúc đẩy sản xuất phát triển. Đó là:
- Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi.
- Xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần thúc đẩy sản xuất phát
triển.