Nghiên cứu các yếu tố cơ bản
của thị trờng phân bón vô cơ trên
thị trờng Việt nam
Lời nói đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài:
- Nông nghiệp là một ngành sản xuất quan trọng của Việt Nam, hiện tại
nông nghiệp vẫn chiếm 70% lực lợng lao động của toàn xã hội và khoảng
27,2% GDP của cả nớc. Theo nghị quyết đại hội toàn quốc lần thứ VIII của
Đảng cộng sản Việt Nam, từ năm 1997 trở đi Việt Nam sẽ chuyển sang một
giai đoạn phát triển mới giai đoạn thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Mặc dù vậy sản xuất nông nghiệp vẫn có một vị trí hết sức quan trọng trong
nhiều năm nữa.
- Trong sản xuất nông nghiệp, có nhiều yếu tố tác động đến năng suất và
sản lợng các loài cây trồng nh: đất đai, thời tiết, khí hậu, các thiết bị kỹ thuật,
giống, phân bón ...v.v. Song phân bón bao giờ cũng là yếu tố có tính quyết
định thờng xuyên. Bởi vậy, ở Việt Nam phân bón đợc xếp vào loại mặt hàng
chiến lợc hết sức quan trọng.
- Là một nớc nông nghiệp, nên nhu cầu về phân bón của Việt Nam rất lớn
(bình quân mỗi năm trên 2 triệu tấn). Tuy nhiên công nghiệp phân bón của
Việt Nam đang còn quá nhỏ bé và lạc hậu, hiện tại mới sản xuất và cung ứng
đợc khoảng 8- 10% nhu cầu về phân ure của cả nớc, số còn lại phải dựa vào
nhập khẩu từ bên ngoài.
- Nông nghiệp luôn cần phân, song do nhiều lý do khách quan và chủ quan
tác động (tài chính, tổ chức quản lý, cơ chế chính sách...) nên việc nhập khẩu
phân bón của Việt Nam vừa qua diễn ra không đợc thuận lợi. Điều này đã
làm cho Cung-Cầu, giá cả phân bón ở Việt Nam diễn ra không ổn định: lúc sốt
1
nóng, lúc sốt lạnh gây không ít khó khăn cho nông dân và cho sản xuất nông
nghiệp.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu các yếu tố cơ bản của thị trờng phân bón vô
cơ nh: cung, cầu, giá cả phân bón vô cơ trên thị trờng và các chính sách điều tiết
dân sản xuất và hiện nay ngành này đang tạo ra gần 30% GDP và hơn 45%
giá trị xuất khẩu của cả nớc.
Tích luỹ từ nông nghiệp tuy không lớn về ngoại tệ, nhng lại diễn ra trên
phạm vi rộng (trên 10 triệu hộ nông nghiệp). Tích luỹ từ ngành này đợc thực
hiện trực tiếp thông qua thuế nông nghiệp trớc đây(nay là thuế sử dụng đất
nông nghiệp). Đối với các Tỉnh, Huyện nông nghiệp thì đây là nguồn thu
chủ yếu.
3
Biểu 1: tỷ lệ thuế nông nghiệp trong tổng thu ngân
sách và GDP nông nghiệp (1993-1998)
Năm Tỷ lệ thuế nông nghiệp
so với
Tổng thu ngân sách Tổng GDP nông nghiệp
1993 4,7% 1,9%
1994 6,7% 2,3%
1995 6,1% 3,6%
1996 4,2% 3,3%
1997 2,7% 2,4%
1998 2,7% 2,5%
Mức và tỷ lệ đóng góp của thuế nông nghiệp vào ngân sách nhà nớc và
vào GDP tuy không lớn nhng là nguồn thu ổn định, có ý nghĩa rất quan
trọng đến sự phát triển kinh tế địa phơng trong bớc đi ban đầu của thời kỳ
công nghiệp hoá.
+ Sản xuất nông nghiệp là nguồn cung cấp ngoại tệ nhờ xuất khẩu: Để
hiện đại hoá và công nghiệp hoá đất nớc thì nớc ta phải tạo điều kiện dựa
vào thế mạnh của mình- đó là sự thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và sản
xuất hàng tiêu dùng. Nhờ vậy sản phẩm nông nghiệp đóng vai trò quan
trọng trong việc xuất khẩu, tạo điều kiện cho việc mở rộng và phân công
hợp tác quốc tế. Hơn nữa, với khoa học kỹ thuật còn kém, công nghiệp nhỏ
bé, sản phẩm công nghiệp cha đủ sức cạnh tranh trên thị trờng thế giới thì
cùng với quá trình công nghiệp hoá, tình trạng đó sẽ đợc khắc phục dần
bằng việc xuất khẩu các sản phẩm tinh chế qua công nghiệp kỹ thuật cao.
Khi đó vai trò của nông nghiệp trong việc cung cấp nguyên liệu cho công
nghiệp càng tăng lên.
+Nông nghiệp còn là nguồn cung cấp nhân lực cho công nghiệp và dịch
vụ. Học thuyết về kinh tế và thực tiễn các nớc đã qua công nghiệp hoá chỉ ra
rằng, quá trình phát triển kinh tế theo hớng hiện đại đều gắn kết với việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động từ nông thôn ra thành thị, từ nông
nghiệp sang phi nông nghiệp. Công nghiệp hoá gắn liền với thành thị hoá và
thu hút nguồn lao động từ nông nghiệp chuyển sang các ngành phi nông
5
nghiệp. Quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá không đòi hỏi tăng
nhanh số lợng lao động vào các hoạt động thuần tuý Công nghiệp nhng đòi
hỏi nhiều hoạt động dịch vụ hỗ trợ nh vận chuyển, bao bì, đóng gói, phân
loại sản phẩm, nhận hàng, tiếp thị, thông tin thị trờng, y tế, văn hoá, giáo
dục,....khi các hoạt động này tăng lên tất yếu đòi hỏi nguồn lao động bổ
sung rất lớn từ nông nghiệp.
Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể thấy rằng nông nghiệp giữ một vị trí
cực kỳ quan trọng trong sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nớc. Chính vì
vậy, Đảng ta đã khẳng định: Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn đã,
đang và sẽ còn là mối quan tâm hàng đầu có vai trò quyết định đối với việc
ổn định tình hình kinh tế, xã hội, tạo cơ sở cho phát triển công nghiệp.
1.2.Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp và nhu cầu phân bón vô cơ.
Trớc năm 1950, trong sản xuất nông nghiệp ngời nông dân Việt Nam d-
ờng nh chỉ dùng các loại phân hữu cơ (phân chuồng, phân xanh, phân bùn, phân
bắc....) để bón cho các loại cây trồng. Phân hữu cơ có những u điểm là: làm cho
đất tơi xốp, từng bớc đợc cải tạo, nâng cao dần độ màu mỡ của đất, song nhợc
điểm là phân huỷ lâu, cây trồng sử dụng đợc ít. Vì thế năng suất cây trồng tăng
chậm. Từ những năm 1960 trở lại đây, các loại phân bón vô cơ nh ure, kali,
lân.... đợc đa vào sử dụng ngày một tăng ở Việt Nam. Ngày nay, để vừa cải tạo
các biện pháp để nâng cao năng suất của mùa vụ cũng khác nhau. Tuy khối l-
ợng chất dinh dỡng trong đất rất lớn nhng trên thực tế cây trồng không thể huy
động hết đợc. Mặt khác, tỷ lệ chất dinh dỡng trong đất không giống nhau. Có
loại đất chứa nhiều đạm nhng ít lân, Ka li và ngợc lại. Ngoài ra, chất dinh dỡng
còn bị các loại cây trên mặt đất sử dụng hoặc đất bị rửa trôi. Do đó mà việc sử
dụng phân bón cho đất, cho cây là rất cần thiết.
1.3.Phân bón vô cơ và nhu cầu phân bón vô cơ trong nông nghiệp
Phân bón đã từng là một trong những nhân tố quan trọng (cùng với giống
và thuỷ lợi) của cách mạng xanh, giúp cho nhiều nớc đông dân tự túc đợc lơng
thực thoát khỏi đói nghèo.
Trớc đây sản lợng ngũ cốc chủ yếu đa vào 2 yếu tố: Diện tích và năng suất.
Trong thời gian gần đây khi diện tích đất canh tác ngày càng tới gần giới hạn tối
7
đa thì vai trò năng suất ngày càng quan trọng.Theo tính toán của IFPRI năm
1996, hiện nay tăng năng suất đóng góp trên 80% tăng sản lợng ngũ cốc và
trong tơng lai, việc tăng sản lợng sẽ cũng dựa vào tăng năng suất. Để đảm bảo
an ninh lơng thực quốc gia, thâm canh gần nh là giải pháp duy nhất đối với Việt
Nam. Mà trong thâm canh, vai trò của phân bón lại càng quan trọng, phân bón
có thể góp phần tăng năng suất cây trồng qua nhiều cơ chế tác động khác nhau.
Song quan trọng hơn cả là phân bón cung cấp cho cây trồng những dinh dỡng
cần thiết mà đất không đủ khả năng cung cấp, góp phần duy trì độ phì nhiêu của
đất trong canh tác. Thêm nữa, cùng với năng suất kinh tế, phân bón góp phần
tăng lợng sinh khối và nhờ đó tăng hữu cơ trở lại cho đất- yếu tố cực kỳ quan
trọng với đất nhiệt đới.
Cùng với gieo cấy các giống mới, việc nâng cao hệ số sử dụng đất thông
qua tăng vụ cũng là nguyên nhân làm cho nhu cầu dinh dỡng phải bổ sung tăng
lên. Nh vậy, ngoài những nguyên nhân gây thoái hoá đất nh sói mòn, rửa trôi....
thì việc không đảm bảo cân bằng giữa lợng dinh dỡng đợc bón vào đất cũng là
một yếu tố làm đất thoái hoá (dạng thoái hoá này có xu hớng tăng lên).
ở những vùng đồi núi nơi mà nông dân có tập quán du canh thì trớc đây
-Bón phân cân đối cho lạc 50 2 698 58
Cộng 3.726 172 38.120 2.225
Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong sử dụng phân bón vô cơ, song hệ số sử
dụng phân đạm ở Việt Nam cũng chỉ mới đạt 30-40%, phân lân và kali khoảng
50-60%. Một lợng lớn phân vô cơ bị mất đi do rửa trôi, xói mòn, bay hơi, cố
định chặt.... Chỉ tính riêng với phân đạm, hàng năm chúng ta mất đi xấp xỉ 1-1,2
triệu tấn (quy ure) với giá trị hàng triệu USD/ năm, còn cha kể đến những tác
động môi trờng do sự mất mát này đem lại. Bón phân cân đối hiện nay đợc coi
là giải pháp quan trọng nhất để năng cao hiệu lực phân bón. Theo tổng kết của
FAO, bón phân không cân đối có thể giảm hiệu lực phân bón từ 20-50%. ở các
nớc đang phát triển nh Việt Nam hiên nay, việc sử dụng không cân đối dinh d-
ỡng với liều lợng phân đạm tơng đối cao đã làm giảm hiệu lực phân bón (khái
9
niệm cân đối bao gồm: cân đối về nhu cầu và lợng hút của cây trồng, cân đối
giữa các chất dinh dỡng tại các thơì kỳ sinh trởng khác nhau, cân đối với các
điều kiện tự nhiên liên quan đến hiệu lực phân bón, cũng nh cân đối với từng
loại cây trồng trong một hệ thống luân canh). Tóm lại, phân bón nói chung và
phân bón vô cơ nói riêng rất cần cho cây trồng. Song để sử dụng mang lại kết
quả nh mong muốn thì phải quan tâm và nghiên cứu đến tính chất, tác dụng
từng loại phân cũng nh đặc điểm đất đai, sử dụng hợp lý và đúng thời vụ.
2. Các nhân tố cơ bản ảnh hởng đến cầu phân bón vô
cơ ở Việt nam.
ở các nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển hoàn hảo, có nền nông nghiệp
phát triển cao, cơ cấu các loại cây trồng tơng đối ổn định thì nhu cầu phân vô cơ
của ngời nông dân chủ yếu phụ thuộc vào thu nhập của ngời nông dân, song ở
Việt Nam nhu cầu phân vô cơ hiện tại còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố đó là:
2.1. Phụ thuộc vào sự phát triển của diện tích gieo trồng.
Việt Nam chỉ có khoảng 7 triệu ha đất nông nghiệp, song do Việt Nam
nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, ma nhiều, nắng cũng nhiều, thời tiết nóng
ẩm quanh năm. Các loại cây ngắn ngày, nếu giải quyết vấn đề tới tiêu nớc, vấn
không có nghĩa là các loại cây trồng khác không cần dùng phân vô cơ, rất cần
song vì khả năng có hạn, nên trớc hết ngời ta phải u tiên cho các loại cây trồng
giữ vai trò chủ yếu (bảo đảm an ninh lơng thực Quốc gia, tạo ra hàng hoá lớn
phục vụ cho xuất khẩu ...).
Bởi vậy, khi khả năng đầu t của ngời nông dân ngày một tăng thì các loại
cấy trồng đợc bón phân vô cơ cũng sẽ đợc mở rộng thêm và nh vậy nhu cầu
phân vô cơ sẽ tăng.
2.3. Phụ thuộc vào thu nhập của ngời nông dân
Về mặt lý thuyết thì dờng nh ngời nông dân nào của Việt Nam cũng hiểu đ-
ợc rằng, muốn nâng cao năng suất cây trồng phải có sự đầu t thoả đáng, đặc biệt
là đầu t phân bón. Song với một đất nớc 80% dân số sống ở nông thôn, trên
70% lực lợng lao động của toàn xã hội làm việc trong nông nghiệp nhng đất
11
nông nghiệp lại quá ít (tính bình quân đầu ngời vào loại ít nhất thế giới). Đã thế
lại chịu sự tàn phá nặng nề của 2 cuộc chiến tranh trong suốt 30 năm, do đó ng-
ời dân, nhất là nông dân nghèo cho đến nay GDP bình quân ở nông thôn mới
đạt khoảng 200 USD/năm /ngời, thì nông dân khó có thể đem nhiều tiền để mua
phân bón, bởi lẽ họ còn nhiều nhu cầu khác cần thiết hơn. Theo đánh giá của
một số chuyên gia, ngời dân nớc ta cha đủ khả năng để dùng phân bón vừa đủ.
So với định mức của Hội phân bón Quốc tế(IFA), mức phân bón cho cây lúa,
cam, chè ở Việt nam chỉ đạt 50%, cho cây cà phê chỉ đạt 70%, khoai sắn chỉ đạt
6-7%. Mấy năm gần đây, nhờ thu nhập của ngời nông dân có tăng lên, do đó
việc đầu t mua phân bón có khá hơn.
2.4. phụ thuộc vào tập quán sản xuất và trình độ thâm canh của từng
vùng trong nớc.
Xuất phát từ điều kiện tự nhiên- kinh tế -xã hội cụ thể, lãnh thổ Việt Nam
đợc chia thành, vùng kinh tế và sinh thái khác nhau.
-Vùng trung du và miền núi bắc bộ
-Vùng đồng bằng sông hồng
-Vùng khu 4 cũ
Nông dân các vùng đồng bằng đều có sử dụng phân vô cơ vào sản xuất
nông nghiệp. Tuy nhiên mức độ cũng có khác nhau, ở đồng bằng Sông Cửu
Long do sản xuất lúa gạo hàng hoá là chính và ngời dân ở đây cũng quen với
việc dùng phân vô cơ hơn nên số lợng họ dùng để bón cho 1 ha cây trồng thờng
cao hơn ở đồng bằng Sông Hồng, Đồng bằng khu 4 cũ và đồng bằng Duyên hải
miền trung. Chẳng hạn, tổng số phân bón NPK bón cho 1ha lúa ở đồng bằng
sông Hồng những năm qua bình quân từ 150-200 kg/vụ, thì ở đồng bằng Sông
Cửu Long con số đó là 200-250kg. Thêm vào đó là việc không hiểu biết của ng-
ời nông dân, nhiều khi do một ý thích nẩy sinh không có cơ sở khoa học có thể
thích loại phân này hơn loại khác. Có thời kỳ nông dân thích sử dụng loại phân
đạm hạt nhỏ làm cho loại hạt to bị ứ đọng, mặc dù nó có tác dụng đến cây trồng
là nh nhau.
Nh vậy, để nâng cao hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh
phân bón vô cơ thì phải nắm bắt đựơc các tính chất này, để từ đó đảm bảo đợc
cân bằng cung cầu trên thị trờng. Có nh vậy mới bảo đảm đợc chi phí lu kho,
13
tăng đợc vòng quay vốn, nâng cao đợc kết quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
3. Các phơng pháp xác định nhu cầu phân bón vô cơ ở
Việt nam
3.1. Căn cứ vào mức tiêu hao phân bón cho một đơn vị sản phẩm cây
trồng.
Cách tính này dựa trên quyết định số 18-UB/ĐM của Uỷ ban Kế hoạch Nhà
nớc ngày 14/2/1987 về việc ban hành định mức kinh tế kỹ thuật. Trong đó có
các quy định về mức phân bón cho 1 đơn vị sản phẩm để làm căn cứ cho việc
tính nhu cầu phân bón.
+Cơ sở phơng pháp
Dựa trên 2 yếu tố:
*Sản lợng cây trồng dự kiến trong một thời kỳ nhất định
*Mức tiêu hao vật t cho một đơn vị sản phẩm của cây trồng cần xác định.
Trong phạm vi cả nớc việc thống kê số liệu này là rất khó, vì vậy có thể lấy số l-
ợng vật t đã đợc nhập khẩu và số vật t đã đợc bán ra của các cơ sở sản xuất
trong nớc là số vật t thực tế sử dụng.
-Lợng vật t tính theo lý thuyết: Sử dụng công thức trên.
+Ưu điểm của phơng pháp:
-Trên cùng một đơn vị diện tích nhng năng suất càng cao, yêu cầu phân bón
càng lớn.
3.2. Phơng pháp dự tính nhu cầu phân bón căn cứ vào tiêu hao cho một
đơn vị diện tích gieo trồng.
+ Cơ sở phơng pháp, dựa vào:
-Diện tích gieo trồng .
-Tiêu hao vật t cho 1ha gieo trồng .
Định mức này do viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp thuộc Bộ nông
nghiệp- CNTP ban hành năm 1990 với mục đích làm căn cứ cho việc tính toán
các qui hoạch, kế hoạch về vật t nông nghiệp.
Theo phơng pháp này, muốn dự tính nhu cầu của một loại phân bón vô cơ
nào cho một cây trồng trong một thời kỳ kế hoạch ta lấy diện tích gieo trồng dự
kiến của cây trồng đó nhân với mức tiêu hao vật t cho một đơn vị diện tích gieo
trồng của loại cây đó, theo công thức:
Q= D.M
Q: Nhu cầu dự tính cho một loại cây trồng.
15
D: Diện tích gieo trồng của cây đó .
M: Mức tiêu hao vật t cho một đơn vị diện tích của cây trồng đó.
VD:- Diện tích đay bẹ năm 1995 là 7.000ha.
-Tiêu hao phâm đạm cho 1ha đay bẹ là 750kg phân đạm tiêu chuẩn.
-Nhu cầu phân đạm cho sản phẩm đay bẹ là 5250tấn .
Tổng nhu cầu một loại vật t cho các loại cây trồng trong một thời kỳ nào đó
đợc xác định theo công thức sau: Q= D.M
Q: Tổng nhu cầu của các loại vật t cần tính.
Có 2 nguồn cung câp phân bón vô cơ cho sản xuất nông nghiệp trên thị tr-
ờng Việt nam đó là: Nguồn nhập khẩu và nguồn sản xuất phân bón trong nớc.
1. Nguồn sản xuấtphân bón vô cơ trong nớc.
1.1. Năng lực sản xuất của các doanh nghiệp trong nớc:
Hiện tại nền công nghiệp hoá chất, nhất là công nghiệp sản xuất phân bón
vô cơ của chúng ta cha có khả năng sản xuất và cung ứng đủ lợng phân bón vô
cơ các loại cần thiết cho nông dân theo yêu cầu. Theo các phơng pháp tính toán,
thu thập đợc cho thấy, nhu cầu về phân bón ure của toàn quốc là khoảng 1,4
triệu tấn /năm đến 1,5 triệu tấn/năm; nhu cầu về phân DAP là từ khoảng
450.000 tấn/năm đến 500.000tấn/năm; nhu cầu phân NPK là từ khoảng
500.000- 600.000tấn/năm; nhu cầu về phân Kali (K) khoảng 300.000tấn/năm.
Trong khi nhu cầu về phân bón vô cơ lớn nh vậy nhng tình hình sản xuất trong
nớc hết sức hạn chế, nhà máy sản xuất phân ure Hà Bắc sản xuất đợc 100.000
17
tấn/năm, hai nhà máy phân lân Long Thành- TPHCM và nhà máy phân bón
Lâm Thao cũng chỉ sản xuất đợc khoảng từ 600.000- 700.000tấn/ năm. Nhà
máy sản xuất phân lân nung chảy Văn Điển và Ninh Bình sản xuất đợc khoảng
từ 100.000- 200.000 tấn/ năm . Đối với phân NPK, năm 1999 mới có nhà máy
liên doanh với Nhật để sản xuất, còn trớc đây ta phải nhập phân bón vô cơ hoàn
toàn từ các nớc khác. Tổng kết lại, so với nhu cầu của sản xuất nông nghiệp,
phân đạm mới đảm bảo khoảng 7% nhu cầu trong tổng nhu cầu phân bón hoá
học cả nớc, phân lân khoảng 40-50%. Nh vậy hơn 90% phân đạm, khoảng 50%
phân Lân, 100% Kali và các loại phân bón vô cơ khác cần phải nhập khẩu.
Có thể ví dụ về sản lợng năm 1998 của một số công ty sản xuất phân bón vô cơ
lớn nh sau:
Biểu số 3 : Tình hình sản lợng phân bón vô cơ ở một số
doanh nghiệp năm 1998
ĐVT:( tấn)
Công ty phân đạm và hoá chất Hà Bắc NPK 4.775
urê 120.000
Phân hoá học
các loại
354 450 530 714 841 937 965 982 974
Doanh nghiệp
Nhà nớc
354 450 530 714 841 937 965 982 974
Doanh nghiệp
khác
- - - - - - 3 2.4 1.5
DN Nhà nớc
TW
354 450 530 714 841 937 962 980,6 972,5
19
Nguồn tính từ số liệu của tổng cục Thông kê
Nguồn tính từ số liệu của tổng cục thông kê Trớc tình hình nhu cầu phân
hoá học ngày một tăng các đơn vị sản xuất phân hoá học ở Việt Nam cũng đã
tìm cách khôi phục và mở rộng các hoạt động sản xuất của mình.
Có thể nhận định tình hình sản xuất phân bón qua những DN chủ yếu
sau:
1.1.1. Nhà máy phân đạm Hà Bắc:
Từ sản lợng 45.000 tấn urê năm 1992, do việc đầu t chiều sâu khôi phục
và cải tạo và đổi mới thiết bị đã mang lại hiệu quả rõ rệt, đến năm 1995 đã đợc
nâng lên 110.000 tấn và vợt công suất thiết kế (Công suất tối đa 120.000
tấn/năm dây chuyền công nghệ của Trung Quốc). Đồng thời do nông nghiệp
càng phát triển thì việc gia tăng sản lợng phân đạm cung cấp cho sản xuất nông
nghiệp là tất yếu. Gần đây sản lợng lơng thực của đất nớc ngày càng gia tăng
(Từ 21 triệu tấn năm 1991 lên 29 triệu tấn năm 1998). Bên cạnh đó là mối lo vì
tốc độ nhập khẩu phân urê ngày càng gia tăng (từ 781 ngàn tấn năm 1991 lên
đến 1,9 triệu tấn năm 1998).
Nếu khả năng 1998 chúng ta xuất khẩu đợc 3 triệu tấn gạo với tổng
Về lâu dài, nớc ta còn u tiên phát triển công nghiệp sản xuất phân bón,
tăng tỷ trọng phân bón nội địa trong tổng nguồn cung ứng cho sản xuất nông
nghiệp. Một trong những khó khăn không nhỏ là vốn đầu t để sản xuất phân
đạm rất lớn nhng lợi nhuận lại không cao. Do đó không hấp dẫn các nhà đầu t,
cho nên khả năng huy động vốn trong và ngoài nớc để liên doanh là một trở
ngại lớn (một nhà máy phân đạm với công suất 550.000 tấn urê/năm cần số vốn
đầu t là 500 triệu USD). Vì vậy, Nhà nớc cần u tiên tập trung vốn để đổi mới
dây chuyền công nghệ, tăng sản lợng, hoặc đầu t thông qua liên doanh, triển
khai dự án phân bón trọng điểm. Theo dự đoán của Bộ nông nghiệp và PTNT,
nhu cầu phân urê từ nay đến năm 2000 sẽ tăng khoảng 10% năm. Năm 2000 sẽ
là 2,5 triệu tấn và năm 2005 sẽ là 3 triệu tấn. Do đó kế hoạch phát triển sản xuất
phân urê những năm sắp tới là từng bớc triển khai dây chuyền công nghệ
21
140.000 tấn đạm ở nhà máy phân đạm Hà Bắc, nh vậy sản lợng hàng năm sẽ
tăng 20 - 30 ngàn tấn/năm so với năm 1995.
1.1.2. Nhà máy supe phốt phát Lâm Thao, nhà máy phân Lân Văn
Điển:
Đã đầu t vốn cho việc đổi mới kỹ thuật và công nghệ sản xuất, mở rộng
thêm năng lực sản xuất của mình, nhờ đó số lợng cũng nh chất lợng của phân
lân do các nhà máy sản xuất ra đã đợc nâng lên hết sức nhanh chóng. Đặc biệt
trong những năm gần đây, khi các tỉnh phía nam sử dụng phân lân cho lúa, cho
cà phê, cao su, thấy có hiệu quả tốt, thì nhu cầu phân lân (kể cả phân lân nung
chảy) đã tăng lên rất nhanh. Tuy nhiên do nguồn nguyên liệu nên đại bộ phận
các nhà máy sản xuất phân lân tập trung ở Miền Bắc Việt Nam và sản xuất ra
khoảng 90% lợng lân của cả nớc. ở phía Nam chỉ có một nhà máy sản xuất đợc
khoảng 10% lợng lân. Sản xuất phân lân trong nớc năm 1996 so với 1989 đã
tăng gần 3 lần, lợng phân làm ra đã đáp ứng đợc khoảng 50-65% nhu cầu của
nền nông nghiệp. Trong cơ cấu phân lân, thì supe lân chiếm khoảng 70%, loại
phân này đợc sử dụng rộng rãi trên nhiều loại đất và nhiều cây trồng, lân nung
chảy chiếm khoảng 30% - loại phân này chủ yếu dùng cho cây lúa và cây công
1989 109.100 đ/tấn 110.000 đ/tấn
1990 126.300 130.000
1991 424.300 430.000
1992 539.600 540.000
1995 737.700 770.000
1996 838.400 840.000
1997 895.200 900.000
1998 895.300 901.000
1999 923.000 940.000
23
Riêng phân lân, mục tiêu 5-10 năm tới, nớc ta hoàn toàn đáp ứng đủ nhu
cầu phân lân trong cả nớc với bớc đi sau:
- Sử dụng hợp lý, có hiệu quả công suất các cơ sở sản xuất Supe phốt phát
đơn hiện có, trên cơ sở đầu t chiều sâu cải tiến thiết bị áp dụng kỹ thuật, công
nghệ mới để hạ giá thành, nâng cao chất lợng sản phẩm.
- Phân lân nung chảy là loại phân bón có công nghệ đơn giản, nguyên
liệu hoàn toàn trong nớc, thiết bị hoàn toàn tự thiết kế chế tạo đợc, vốn đầu t ít,
sản lợng tăng nhanh, sản phẩm thích hợp với nhiều loại đất, nhất là đối với đất
chua phèn và loại cây công nghiệp. Đây là loại sản phẩm cần u tiên đầu t phát
triển. Trong giai đoạn tới một mặt tiếp tục tuyên truyền hớng dẫn sử dụng, mở
rộng thị trờng, một mặt tập trung nâng cao hàm lợng dinh dỡng, đạt trên 18%
P
2
O
5
- nghiên cứu đổi mới công nghệ thiết bị để có thể tăng nhanh công suất lên
35 - 40 vạn tấn năm vào năm 2005.
Nghiên cứu khả năng nâng công suất phân lân nung chảy Văn Điển
180.000tấn/năm và Lâm Thao supe phốt phát từ 30.000 tấn/năm lên 50.000
tấn/năm phát huy thế mạnh nguồn nguyên liệu từ cây lúa, cây công nghiệp, đặc
Công ty Hoá chất Việt Nam là doanh nghiệp lớn sản xuất các loại phân bón
phục vụ nông nghiệp trong cả nớc. Hiện nay, Tổng Công ty có 4 cơ sở sản xuất
phân lân chế biến với Tổng công suất 820.000 tấn/năm, một cơ sở sản xuất phân
đạm urê công suất 110.000 tấn/năm và 12 cơ sở sản xuất phân tổng hợp NPK.
1.2. Khả năng phát triển nguồn phân bón sản xuất trong nớc
Nh trên đã phân tích, việc sử dụng pphân bón vô cơ là yếu tố quan trọng để
nâng cao năng suất cây trồng. Nhng mức sử dụng chất dinh dỡng cho cây thấp
và không cân đối. Mức sử dụng lân và ka li quá ít với tỷ lệ dinh dỡng trung bình
của thế giới hiện nay là : N : P
2
O
5
: K
2
O là 1: 0,47: 0,35. Đối với các nớc phát
triển tỷ lệ này là 1: 0,37: 0,17. Còn của Việt Nam mới đạt 1: 0,23: 0,04. Do mức
độ sử dụng phân bón khác nhau nh vậy, nên năng suất cây trồng của Việt Nam
còn thấp so với các nớc trong khu vực, năng suất lúa của Việt Nam năm 1989 là
25