Đề tài : Nâng cao chất lượng phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 5 thông qua tiết
trả bài viết
MỤC LỤC
Trang
!"#$%"
&'()*+, ,-/0
1231!
2 456,7
82-9'*:,(';<56,7
Tiếng Việt là một trong số các ngôn ngữ hết sức phong phú, đa dạng và có sức
biểu cảm. Từ ngữ Tiếng Việt tinh tế và giàu hình ảnh, nếu biết cách sử dụng từ ngữ
trong viết văn sẽ giúp chúng ta truyền đạt đến người đọc những nội dung, thông tin
một cách có hiệu quả nhất. Chính vì vậy, việc rèn kỹ năng sử dụng Tiếng Việt đối với
mỗi chúng ta là rất cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn cao.
Trong chương trình Tiểu học, Tiếng Việt là một môn học có nhiệm vụ cung cấp
cho học sinh những kiến thức cơ bản về tiếng mẹ đẻ, rèn cho các em sử dụng Tiếng
Việt trong nghe, nói, đọc, viết. Tập làm văn là một phân môn rất quan trọng của môn
Tiếng Việt, thông qua phân môn Tập làm văn, học sinh được rèn về khả năng dùng từ,
Tác giả : Trang 1
Đề tài : Nâng cao chất lượng phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 5 thông qua tiết
trả bài viết
đặt câu một cách chính xác, độc đáo để từ đó giúp các em có thể viết được bài văn
hay, giàu tính nghệ thuật. Song song với các tiết Tập làm văn luyện nói, luyện viết thì
tiết Tập làm văn trả bài viết có một vị trí quan trọng. Giờ trả bài viết có mục đích rèn
cho học sinh kĩ năng kiểm tra, đánh giá, tự điều chỉnh bài viết của mình. Chính vì vậy,
giáo viên cần giúp học sinh biết tự sửa lỗi về chính tả, dùng từ, đặt câu … để lần sau
các em viết văn mạch lạc, giàu hình ảnh, có cảm xúc chân thật.
Tuy quan trọng như vậy nhưng khi dạy tiết Tập làm văn trả bài viết cho học sinh
còn có những thực trạng khó khăn như sau :
trả bài viết
cho kiến thức chuyên môn của mình mà chỉ phụ thuộc vào những kiến thức trong sách
giáo khoa.
- Giáo viên chấm bài thiếu tỉ mỉ, chưa chu đáo, ít chú ý đến việc hướng dẫn học
sinh chữa lỗi, học cách viết văn hay … mà chỉ dạy chung chung, áp đặt học sinh và
chưa thực sự quan tâm đặc biệt đến giờ Tập làm văn trả bài viết.
- Thực tế qua khảo sát các giờ Tập làm văn trả bài viết, hầu như các giáo viên ít
đầu tư thời gian ghi lại những từ hay, ý đẹp hoặc những lỗi sai của học sinh về mọi
phương diện vào sổ tay văn học của mình. Chính vì thế giáo viên không sửa được các
lỗi của học sinh.
- Trong giờ Tập làm văn trả bài viết, hầu hết giáo viên chưa khai thác hết yêu cầu
của giờ học. Có giờ nặng về nêu ưu điểm nên học sinh chưa thấy hết cái sai của mình
và lần sau lại mắc lỗi. Có giờ nặng về nêu khuyết điểm nhưng lại rất chung chung, gây
không khí thiếu tích cực trong giờ học và quả nhiên giáo viên làm việc nhiều còn học
sinh thụ động tiếp thu. Điều đó làm cho kết quả đạt được của giờ trả bài viết rất hạn
chế.
E2I,(-J<5&'KL,(';<()M-&M0>
E28I,(-J<
Giải pháp mới của đề tài phát huy tối đa tính tích cực của học sinh. Các em sẽ tự
phát hiện những khiếm khuyết trong bài làm của mình, của bạn và biết tự sửa lỗi về
chính tả, dùng từ, đặt câu, viết đoạn … để lần sau các em viết văn mạch lạc, giàu hình
ảnh, có cảm xúc chân thật.
Đề tài còn bồi dưỡng cho học sinh tâm hồn nhạy cảm, giàu cảm xúc, phát triển kĩ
năng làm văn, góp phần hình thành cho các em ý thức trách nhiệm, lòng tự trọng đối
với sản phẩm tinh thần do chính mình tạo ra.
E2E&'KL,(';<()M-&M0>
Đề tài sẽ giúp cho học sinh nắm vững cách viết văn thông qua việc sửa lỗi về
chính tả, cách dùng từ, đặt câu, lỗi diễn đạt … Rèn luyện cho các em cách viết văn
hay, giàu hình ảnh, mang tính nghệ thuật, tính sáng tạo. Bên cạnh đó đề tài còn giúp
các em nhận ra một bài văn có điểm nào hay, điểm nào chưa hay và sửa như thế nào
miêu tả hình ảnh, sự vật một cách sinh động. Chính vì vậy, việc giúp học sinh rèn kĩ
năng làm văn, kĩ năng tự sửa lỗi là một vấn đề hết sức quan trọng, cần thiết.
82E@BQ-9'U,
Trong giảng dạy, việc nâng cao chất lượng giờ dạy Tập làm văn trả bài viết cho
học sinh lớp 5 không phải là một vấn đề đơn giản. Các em chưa có ý thức học tập tốt
phân môn này. Học sinh chỉ làm bài theo yêu cầu của bài tập, viết một cách máy móc
mà chưa hiểu rõ bản chất của vấn đề, chưa nắm được cấu tạo của bài văn theo từng thể
loại, các em mắc quá nhiều lỗi khi viết văn, thậm chí có em làm chưa đúng với yêu
cầu của đề bài. Điều này thể hiện rõ qua các bài kiểm tra viết và kiểm tra định kì của
học sinh. Bên cạnh đó, chúng ta có thể thấy rằng một số ít giáo viên chưa chú tâm
nhiều đến tiết Tập làm văn trả bài viết, giảng dạy chung chung. Đã thế tiết trả bài viết
trong sách giáo khoa không được hướng dẫn cụ thể, chi tiết cho từng đề. Vì vậy, giáo
viên cũng rất khó khăn trong bài dạy của mình.
Từ những lí do khách quan và chủ quan trên, thông qua việc học tập và giảng dạy
trong những năm qua, tôi đã chọn đề tài “Nâng cao chất lượng phân môn Tập làm văn
cho học sinh lớp 5 thông qua tiết trả bài viết” để nghiên cứu sâu hơn nhằm tìm ra
Tác giả : Trang 4
Đề tài : Nâng cao chất lượng phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 5 thông qua tiết
trả bài viết
được phương pháp, hình thức tổ chức phù hợp nhất, vận dụng tốt nhất cho quá trình
giảng dạy.
Khi dạy phân môn Tập làm văn, tôi đã ra đề “Hãy tả ngôi trường thân yêu đã gắn
bó với em trong nhiều năm qua.” để khảo sát học sinh lớp 5A năm học 2011-2012. Số
học sinh được khảo sát (32 em) đã phản ánh thực trạng này như sau:
V W-& *O,(XA,- YPO
Z Z Z Z
3 9,37 9 28,1 16 50,0 4 12,5
* Về nội dung bài Tập làm văn
- Khoảng 20 % học sinh viết văn có bố cục rõ ràng, bài viết cô đọng xúc tích.
- Khoảng 70 % học sinh thực hiện được yêu cầu của đề nhưng diễn đạt ý còn
- Hoàn thành đề tài vào cuối tháng 8 năm 2013.
1%2]^!
2L'HO
Đề tài hướng dẫn cho học sinh biết được những ưu điểm, hạn chế trong bài làm
của mình và tự biết cách sửa lỗi mà mình mắc phải. Thông qua việc sửa lỗi, các em sẽ
có kinh nghiệm hơn trong khi viết văn, làm được những bài văn hay có tính sáng tạo
và tính nghệ thuật cao. Bên cạnh đó, đề tài còn giúp các em nhận ra được những điểm
hay trong bài làm của bạn để học tập và rút kinh nghiệm. Điều này rất quan trọng đối
với học sinh.
Đề tài bồi dưỡng cho học sinh năng lực viết văn. Đó là năng lực sản sinh ngôn
bản dưới hình thức viết. Nhờ năng lực này, các em biết sử dụng tiếng Việt làm công cụ
giao tiếp, tư duy và học tập. Điều này sẽ giúp học sinh rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng
Việt một cách khoa học và mang tính nghệ thuật cao.
Đề tài còn bồi dưỡng cho học sinh khả năng sáng tạo vì mỗi bài văn tuy được viết
theo cấu trúc của từng thể loại nhưng nó vẫn mang tính rất riêng của từng học sinh.
Đề tài được ứng dụng sẽ giúp cho học sinh dần nắm được cách viết văn theo
nhiều phong cách khác nhau sau quá trình luyện tập lâu dài của các em.
Đề tài được áp dụng thành công còn góp phần bổ sung kiến thức, phát triển tư
duy và hình thành nhân cách tốt đẹp cho học sinh.
2_)()M-&M';<7
Tác giả : Trang 6
Đề tài : Nâng cao chất lượng phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 5 thông qua tiết
trả bài viết
82S,-0>';<7
828 `KO,(D-&aO& ';<7
Đề tài này gồm các nội dung như sau:
- Hướng dẫn học sinh cách làm bài văn theo bố cục 3 phần của từng kiểu bài theo
từng thể loại.
- Rèn luyện kỹ năng phát hiện lỗi và sửa lỗi trong bài làm của mình.
- Hướng dẫn học sinh phân tích, học tập những đoạn văn hay, bài văn hay.
Đề tài : Nâng cao chất lượng phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 5 thông qua tiết
trả bài viết
82f28?>,(Kh,-F'B,-5'6O:C';<0`X5e,
82f28286O:C';<X5e,)'),-
Bài văn tả cảnh thường có 3 phần :
Mở bài: Giới thiệu bao quát về cảnh sẽ tả.
- Cảnh đó ở đâu, đó là cảnh gì?
- Cảnh đó được em thấy vào thời điểm nào?
Thân bài : Tả từng phần của cảnh hoặc sự thay đổi của cảnh theo thời gian.
- Tả bao quát toàn cảnh : những nét chung, những nét nổi bật, đặc sắc.
- Tả cảnh theo trình tự hợp lí : Từ xa đến gần hoặc ngược lại ; từ trên cao
xuống thấp hoặc ngược lại.
- Tả người hoặc vật có liên quan đến cảnh.
Kết bài : Nêu nhận xét hoặc cảm nghĩ của người viết về cảnh được tả.
Khi dạy, tôi thường hướng dẫn các em cách viết văn dựa theo cấu tạo như trên.
82f282E6O:C';<X5e,),(?\
Bài văn tả người thường có 3 phần:
Mở bài : Giới thiệu người định tả.
- Người đó là ai, quan hệ như thế nào với em ?
- Em gặp người ấy ở đâu, vào dịp nào ?
Thân bài : - Tả ngoại hình (đặc điểm nổi bật về tầm vóc, cách ăn mặc, khuôn
mặt, mái tóc, cặp mắt, hàm răng …).
- Tả tính tình, hoạt động (lời nói, cử chỉ, thói quen, cách cư xử với
người khác, …).
Kết bài : Nêu cảm nghĩ về người được tả.
- Nhận xét, suy nghĩ của em về người mình tả.
- Tình cảm của em đối với người được tả.
82f282G6O:C';<X5e,Dc'-Od[,
Bài văn kể chuyện thường có 3 phần :
Mở bài : Giới thiệu câu chuyện được kể.
(hoa, quả) theo thời gian.
- Tả cảnh vật thiên nhiên xung quanh, hoạt động của con người,
chim chóc, bướm ong … liên quan đến cây (hoa, quả).
Kết bài : Nêu suy nghĩ hoặc tình cảm của em với cây (hoa, quả) được miêu tả.
82f282j6O:C';<X5e,)'C,5T
Bài văn tả con vật thường có 3 phần :
Mở bài : Giới thiệu con vật mà em định tả (Con vật đó có từ khi nào ? Nó có
nguồn gốc từ đâu ?).
Thân bài : - Tả đặc điểm, hình dáng (từ khái quát đến chi tiết) của con vật.
+ Chiều cao, cân nặng.
+ Màu sắc của bộ lông.
+ Dáng vẻ, tiếng kêu.
+ Các bộ phận : đầu, mình, chân, đuôi …
- Tả đặc điểm hoạt động của con vật.
+ Đi lại, chạy nhảy.
+ Ăn uống, bắt mồi.
+ Thái độ đối với con vật khác.
Tác giả : Trang 9
Đề tài : Nâng cao chất lượng phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 5 thông qua tiết
trả bài viết
Kết bài : Con vật gần gũi với cuộc sống của em, được em yêu quý như thế nào?
82f2E-k,(X[,M-&M(gM(&C5H,K:d=PTMR05e,*)X5P
82f2E28-60X
Chấm bài không nằm trong quá trình lên lớp 40 phút trả bài nhưng nó lại là yếu
tố quan trọng, làm cơ sở cho giờ trả bài. Giờ trả bài có thành công hay không ? Học
sinh có thấy được đúng sai trong bài làm của mình hay không đều do việc chấm bài
của giáo viên, đó là khâu quan trọng góp phần nâng cao chất lượng bài làm của học
sinh.
Song song với việc chấm bài kĩ, giáo viên phải có sổ chấm bài. Sổ chấm bài có
tác dụng thống kê các loại lỗi để tìm ra lỗi phổ biến, ghi chép những sai đúng của từng
và biểu dương những học sinh có bài làm tốt hoặc bài làm có tiến bộ. Giáo viên nên
công bố tên học sinh có ưu điểm, không cần thiết nêu tên học sinh có khuyết điểm.
82f2E2G?>,(Kh,-F'B,-'-k<X
Căn cứ vào kết quả bài làm của học sinh, giáo viên có thể tiến hành việc hướng
dẫn học sinh chữa bài sao cho linh hoạt và đạt hiệu quả thiết thực theo các cách sau :
- Trả bài làm cho học sinh, yêu cầu học sinh đọc thầm lại toàn bộ bài làm, lời
nhận xét chung và những chỗ lưu ý cụ thể của giáo viên trong bài viết.
- Hướng dẫn học sinh chữa lỗi chung về nội dung (sai, thiếu ý hoặc chi tiết sự
việc …) và hình thức (về bố cục, về cách dùng từ, đặt câu, lỗi chính tả …).
- Tổ chức cho học sinh tự chữa bài làm của cá nhân, sau đó đổi bài để kiểm tra,
giúp đỡ nhau về việc chữa lỗi.
- Đọc cho học sinh nghe những câu văn hay, đoạn văn hay, bài văn hay để giúp
các em vận dụng vào bài bài viết của mình. Giúp các em viết văn giàu hình ảnh, cô
đọng, xúc tích. Gợi ý học sinh trao đổi để học tập những ưu điểm trong bài văn của
bạn (về bố cục, sắp xếp ý, diễn đạt, dùng từ đặt câu, sử dụng biện pháp nghệ thuật …).
- Hướng dẫn học sinh chọn viết một đoạn văn trong bài làm cho tốt hơn (Đây là
bước dành cho học sinh khá, giỏi). Tùy điều kiện thời gian cho phép, giáo viên có thể
hướng dẫn học sinh thực hiện yêu cầu này tại lớp hoặc luyện tập thêm ở nhà để nâng
cao kĩ năng viết văn. Đoạn văn học sinh chọn để viết lại có thể là đoạn văn còn mắc
lỗi (lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu …) hoặc đoạn văn viết chưa hay.
- Để nâng cao hiệu quả của bài dạy, giáo viên cần sử dụng phiếu bài tập nhằm
phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, đồng thời tạo hứng thú cho
các em trong học tập.
82f2G&'X[,M-&M-?>,(Kh,-F'B,-'-k<Rn*C,(X5e,
82f2G28-&-[,Rn5Bo<Rn
82f2G2828o<RnKp,(q
Trong quá trình dạy học phân môn Tập làm văn ở lớp 5, đặc biệt khi chấm bài
cho học sinh ta thường thấy các em sử dụng từ chưa chính xác, dùng từ không đúng,
dùng từ chưa hay. Vì thế chất lượng bài viết của các em chưa cao.
Một trong những nguyên nhân cơ bản là do vốn từ của các em còn nghèo nàn
a. Bé Na có đôi mắt chòn xe và đen láy như hai hột nhãn.
b. Bé Na rất thích đi, bé đi chưa vững nên hay bị ngả.
Giáo viên hướng dẫn học sinh phát hiện lỗi sai trong các câu trên và yêu cầu các
em sửa lại cho đúng chính tả. Hai câu trên được sửa lại như sau:
a. Bé Na có đôi mắt tròn xoe và đen láy như hai hột nhãn.
b. Bé Na rất thích đi, bé đi chưa vững nên hay bị ngã.
r^:,(E^p,(qD-_,(7g,(,(-J<
Đó là việc sử dụng từ ngữ một cách tùy tiện do học sinh không hiểu rõ nghĩa của
các từ cần miêu tả, gây cho người đọc người nghe khó hiểu trước nội dung muốn thể
hiện của người viết. Nguyên nhân của việc dùng từ không đúng nghĩa là do các em
chưa hiểu được nghĩa của từ mình đang dùng, nhầm lẫn giữa các từ gần nghĩa, không
nắm được sắc thái biểu cảm của từ.
Tác giả : Trang 12
Đề tài : Nâng cao chất lượng phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 5 thông qua tiết
trả bài viết
Ví dụ 1 : Đề bài “Tả một người thân (ông, bà, cha, mẹ, anh, em …) của em”,
SGK- TV5- tập 1, có học sinh viết : Mỗi khi cười, mẹ để lộ hàm răng trắng xóa rất có
duyên. Trong trường hợp này, các em dùng từ trắng xóa là thiếu chính xác. Từ trắng
xóa dùng để chỉ độ trắng của tuyết hoặc của bọt nước. Còn chỉ độ trắng của hàm răng
thì dùng từ trắng bóng hoặc trắng sáng là thích hợp. Câu trên được sửa lại như sau:
Mỗi khi cười, mẹ để lộ hàm răng trắng sáng rất có duyên.
Ví dụ 2 : Đề bài “Tả một cảnh đẹp ở địa phương em” – SGK- TV5 - tập 1, có học
sinh đã viết như sau :
a. Cánh đồng như rộng hơn bởi sự uốn lượn của những đợt sóng lúa. Cảnh thiên
nhiên tươi đẹp ấy làm tăng thêm vẻ yên tĩnh cho quê hương.
b. Không khí trong trắng của quê hương đã khiến tâm hồn em trở nên sảng khoái
hơn.
Ở đây do học sinh không nắm được nghĩa của các từ mà sử dụng tùy tiện khi viết
câu gây khó hiểu cho người đọc, người nghe. Ở câu (a) học sinh đã dùng sai từ yên
tĩnh, ở câu b các em dùng sai từ trong trắng.
a. Con đường làng từ nhà đến trường rất đỗi thân thuộc với em nhưng em chẳng
muốn rời xa.
b.Cánh đồng bước vào mùa thu hoạch, bà con nông dân đã nô nức gặt lúa.
Trong ví dụ (a), do học sinh không nắm được ý nghĩa của câu ghép có cặp quan
hệ từ chỉ nguyên nhân – kết quả nên các em đã kết hợp sai từ nhưng với từ vì (đã bị
lược đi). Khi gặp lỗi trên, tôi yêu cầu học sinh nhắc lại ý nghĩa của các cặp quan hệ từ,
từ đó giải thích cho học sinh biết không có cặp quan hệ từ vì – nhưng và sửa lại bằng
cách thay từ nhưng thành từ nên.
Đối với câu (b), tôi tiếp tục cho học sinh nêu nghĩa của câu trên và yêu cầu học
sinh nêu cách dùng từ đã để học sinh nắm được đã dùng để nói về những sự việc đã
qua nên không thể viết đã gặt lúa trong khi đang vào mùa gặt. Tiếp theo tôi cho học
sinh tự sửa lại bằng cách bỏ từ đã hoặc thay từ đã bằng từ đang.
Hai câu văn trên được sửa lại như sau :
a. Con đường làng từ nhà đến trường rất đỗi thân thuộc với em nên em chẳng
muốn rời xa.
b.Cánh đồng bước vào mùa thu hoạch, bà con nông dân nô nức gặt lúa.
r^:,(f^p,(qB<KCR4Mq
Do vốn từ của học sinh còn nghèo nàn nên các em chưa biết sử dụng các từ đồng
nghĩa để thay thế cho nhau. Vì vậy trong bài viết của mình các em thường lặp lại từ
ngữ làm cho câu văn lủng củng, không mạch lạc. Có hai dạng lặp từ đó là: lặp từ hoàn
toàn và lặp từ đồng nghĩa.
Ví dụ 1 : Đề bài “Tả một người thân (ông, bà, cha, mẹ, anh, em …) của em”,
SGK- TV5- tập 1, có học sinh viết : “Khuôn mặt trái xoan của mẹ rất đẹp, làn da của
mẹ trắng hồng, mái tóc của mẹ đen bóng và suông thẳng.”
Trong ví dụ này, học sinh đã dùng lặp lại 3 lần cụm từ “của mẹ” gây nhàm chán
cho người đọc, người nghe. Trong trường hợp này, tôi hướng dẫn học sinh nhắc lại
cách liên kết câu bằng phương pháp thế ; sau đó cho các em dùng các từ khác có thể
thay thế cho cụm từ “của mẹ” mà nội dung của câu đó không thay đổi. Các em sẽ dễ
dàng tìm được các cụm từ thay thế đó là: “mẹ có làn da trắng hồng”, “mái tóc đen
bóng và suông thẳng ấy”. Câu văn trên được sửa lại như sau: Khuôn mặt trái xoan của
hướng như vậy sẽ giúp cho việc chữa lỗi phù hợp với trình độ của lớp. Tuy nhiên, để
có được bài văn tốt, giáo viên cũng tính đến việc sửa chữa lỗi diễn đạt cho học sinh.
Sửa lỗi diễn đạt có thể tiến hành sửa lỗi chung trước lớp và nội dung bài làm của cá
nhân, học sinh tự sửa lỗi trên bài viết đã được thầy cô giáo nhận xét. Để thực hiện việc
này, giáo viên cần thống nhất với học sinh lớp mình dạy một số kí hiệu trong quá trình
chấm bài của thầy cô. Để thực hiện vấn đề này có hiệu quả, trong thời gian qua bản
thân tôi đã làm như sau : Những lỗi thông thường hay gặp trong bài viết của học sinh
tôi đã gạch dưới và ghi ra bên lề kí hiệu xác nhận hình thức lỗi cần sửa. Học sinh nhận
lại bài khi cô giáo đã chấm và có trách nhiệm tìm đọc các lỗi đã được giáo viên phát
Tác giả : Trang 15
Đề tài : Nâng cao chất lượng phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 5 thông qua tiết
trả bài viết
hiện để chữa lại cho đúng. Các lỗi chính tả (kí hiệu CT), lỗi dùng từ (TN) thì có thể
sửa và viết lại ngay ở bên lề. Những lỗi về câu như thiếu hay thừa chủ ngữ (CN), vị
ngữ (VN), bổ ngữ (BN), định ngữ (ĐN) thì cần viết lại cả câu ở dưới bài viết. Những
lỗi về đoạn, lỗi về tính chính xác của dẫn chứng hay chi tiết cần được sửa lại ở bên
dưới bài.
Khi giao việc cho học sinh làm, giáo viên cần phải kiểm tra việc thực hiện. Chính
vì vậy sau tiết trả bài tôi thường yêu cầu học sinh nộp bài cũ mà các em đã sửa chữa
trước khi học bài mới, kết hợp với tuyên dương những em biết sửa chữa. Công việc
này giúp các em thực hiện việc sửa lỗi bài viết một cách nghiêm túc và tăng hiệu quả
luyện viết văn của bản thân.
Việc chữa lỗi chung trên lớp cũng cần được thực hiện cho đủ các nội dung sau :
- Phát hiện lỗi sai trong câu.
- Tìm hiểu nguyên nhân của lỗi sai.
- Xác định hướng sửa chữa.
- Tiến hành sửa lỗi cụ thể.
Cần lưu ý là việc sửa chữa lỗi sai có thể thực hiện theo hai ba cách khác nhau.
Một ý có thể diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhưng vẫn nêu đúng ý cần miêu tả.
Ví dụ 1: Đề bài “Tả một người thân trong gia đình em", có học sinh viết :“Em
bạn gà mái thân thiết.
82f2G282G2o<RnBoKL,(K6O'/O
Dấu câu có vai trò quan trọng trong việc sản sinh văn bản viết. Nó có tác dụng
phân cách các bộ phận trong câu, phân cách các câu với nhau, làm sáng tỏ ý cần trình
bày của người viết. Chính nhờ dấu câu cùng với các phương tiện đặc trưng của văn
bản viết để làm sáng tỏ ý cần trình bày.
Xác định được vai trò của dấu câu trong văn bản nên chương trình Tiểu học đã
đưa các dấu câu vào giảng dạy ở các lớp. Các loại dấu câu được dạy gắn kết với các
kiểu câu tương ứng. Tuy nhiên trong thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy học sinh thường
mắc hai lỗi cơ bản khi sử dụng dấu câu đó là lỗi không dùng dấu câu và lỗi dùng sai
dấu câu. Từ thực trạng trên, với trách nhiệm của người giáo viên, tôi đã tìm ra những
lỗi mà học sinh mắc phải và cách khắc phục những lỗi đó.
rnD-_,(Kp,(K6O'/O
Lỗi này do học sinh không dùng dấu câu ở những chỗ cần thiết. Việc học sinh
không sử dụng dấu câu gây khó khăn trong giao tiếp bởi người đọc không thể nhanh
chống nắm bắt được nội dung các em cần truyền đạt, thậm chí có trường hợp không
xác định hoặc hiểu sai ý các em muốn diễn đạt.
Ví dụ : Đề bài “Tả thầy giáo (cô giáo) đã từng dạy em và để lại cho em nhiều ấn
tượng tốt đẹp nhất”, SGK- TV5- tập 2, học sinh viết :“Cô Thiện đã ân cần dạy dỗ em
nên người em rất yêu quý và kính trọng cô.” Để chữa lỗi này, tôi thường hướng dẫn
học sinh phân tích để tách đoạn ra thành các câu và điền dấu chấm vào cuối câu kể,
viết hoa chữ cái đầu của câu sau. Các câu trên được sửa lại như sau : Cô Thiện đã ân
cần dạy dỗ em nên người. Em rất yêu quý và kính trọng cô.
Học sinh thường không dùng các dấu phẩy (dấu chấm phẩy) ngăn cách trạng ngữ
với chủ ngữ - vị ngữ, ngăn cách các bộ phận cùng chức vụ trong câu hoặc ngăn cách
các vế câu trong câu ghép.
Ví dụ 1: Đề bài “Tả một đêm trăng đẹp”, SGK - TV5 - tập 2, học sinh đã viết :
Tác giả : Trang 17
Đề tài : Nâng cao chất lượng phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 5 thông qua tiết
trả bài viết
sinh muốn truyền đạt lời nói của người khác theo hình thức gián tiếp nhưng các em đã
sử dụng sai dấu câu.
Ví dụ : - Cô giáo động viên cả lớp cố lên !
- Mẹ hỏi tôi đã hiểu bài tập này chưa ?
Học sinh mắc lỗi này do các em không nắm vững được quy tắc chuyển đổi từ lời
nói trực tiếp sang lời nói gián tiếp. Để chữa lỗi này, tôi đã hướng dẫn học sinh như
Tác giả : Trang 18
Đề tài : Nâng cao chất lượng phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 5 thông qua tiết
trả bài viết
sau: Muốn truyền đạt lời nói của người khác bằng lời nói của mình, khi gặp những câu
câu hỏi, câu khiến, câu cảm thì cần phải chuyển những câu đó thành câu kể và dùng
dấu chấm để kết thúc. Ví dụ trên được sửa lại như sau :
- Cô giáo động viên cả lớp cố lên .
- Mẹ hỏi tôi đã hiểu bài tập này chưa .
82f2G2EF'7C:,5e,-<d'-C-F'B,--<0D-)C
Bài văn, đoạn văn được đọc cho cả lớp nghe cần đảm bảo có chất lượng cả về nội
dung lẫn hình thức thể hiện. Bài được đọc trước lớp phải giúp học sinh học tập được
về cách chọn ý, sắp xếp ý cũng như thể hiện ý. Để làm tốt phần này, trong quá trình
giảng dạy tôi đã chọn bài đọc từ hai nguồn : Bài viết của lớp và bài viết bên ngoài (bài
của học sinh những năm học trước).
Đối với nguồn thứ nhất, giáo viên sử dụng bài viết của học sinh trong lớp sẽ tạo
được niềm hưng phấn cho các em. Học sinh có bài được tuyên dương đọc trước lớp sẽ
rất phấn khởi và các em trong lớp cũng cảm thấy tự hào vì có được người bạn có bài
viết hay, kích thích sự phấn đấu trong học tập của cả lớp. Tuy nhiên khi sử dụng bài
viết của học sinh trong lớp, giáo viên chỉ nên cho đọc từng đoạn nhỏ, ngắn. Có như
vậy mới làm nổi bật được ưu điểm trong đoạn văn viết của các em. Vấn đề tiếp theo là
chọn người đọc. Thường lệ, tôi để chính em học sinh viết đoạn văn đọc trước lớp vì
việc làm này sẽ là một động viên rất lớn cho em học sinh đó. Tuy nhiên, giáo viên
cũng cần lưu ý học sinh đó phải có giọng đọc rõ ràng, to, lưu loát và diễn cảm. Nếu
học sinh có bài viết tốt nhưng đọc chưa hay thì cũng không nhất thiết phải để em đó
Đoạn văn cần thể hiện được cảm xúc của người viết.
Sau khi học sinh viết xong, giáo viên gọi một số em lên trình bày trước lớp đoạn
văn vừa viết lại. Giáo viên cần hướng dẫn các em nhận xét để tìm ra cái mới, cái hay
trong đoạn văn vừa viết lại để cả lớp học tập và rút kinh nghiệm cho những bài viết
sau.
82f2G2foKL,(M-POXTM*C,(P*)X
Để phát huy tính tích cực, chủ động học tập của học sinh, trong tiết Tập làm văn
trả bài viết, giáo viên cần sử dụng phiếu bài tập nhằm giúp các em chủ động phát hiện
lỗi và sửa lỗi. Các phiếu bài tập dùng cho mỗi tiết dạy được giáo viên xây dựng dựa
trên việc chấm bài, ghi chép những lỗi của học sinh và lựa chọn những lỗi điển hình
sau đó soạn dạng bài tập cho phù hợp.
Ví dụ :
Đề 1: Tả một cơn mưa (Tiết trả bài văn tả cảnh )
a) Gạch chân dưới từ viết sai chính tả và chọn từ thích hợp điền vào chỗ chấm :
- Những đám mây đen ùng ùng kéo đến …
- Mưa to như chút nước…
- Bầy gà ướt lướt thướt gập gưỡng tìm chỗ chú …
b) Gạch dưới những từ ngữ dùng sai trong các câu văn sau và chép lại cho đúng.
- Trên bầu trời, những đám mây đen trùi trũi xuất hiện.
- Mưa xuống sầm sập, giọt ngã, giọt bay, bụi nước tung trắng bóng.
- Tiếng sấm vang lên lách tách.
c) Sửa lại các hình ảnh so sánh đã dùng trong các câu văn sau :
- Những giọt nước lăn xuống mái nhà như bầy ong vỡ tổ.
- Mấy chú chim từ những bụi cây bay ra hót râm ran như gió thổi.
Tác giả : Trang 20
Đề tài : Nâng cao chất lượng phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 5 thông qua tiết
trả bài viết
- Mặt trời ló ra, chói lọi như tia chớp.
Đề 2: Tả một người đang làm việc (Tiết trả bài văn tả người )
a) Khoanh vào chữ cái trước từ thích hợp có thể điền vào chỗ chấm trong các câu
V W-& *O,(XA,- YPO
R Z Z Z Z
Tác giả : Trang 21
Đề tài : Nâng cao chất lượng phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 5 thông qua tiết
trả bài viết
10 31,2 15 46,9 7 21,9 / /
Với kết quả khảo sát này cho thấy rõ các em đã có tiến bộ vượt bậc so với lúc
chưa áp dụng đề tài. Số lượng học sinh đạt khá và giỏi tăng cao.
E28^:d-9',(-[0*H,R>M7='-N,(
Không chỉ dừng lại ở phạm vi nghiên cứu là lớp 5A tôi đã giảng dạy năm học
2011-2012, tôi sử dụng ngay bài khảo sát trên để khảo sát học sinh lớp 5E - năm học
2012-2013, khi chưa áp dụng đề tài. Kết quả như sau : (Lớp có 29 em)
Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL % SL % SL % SL %
3 10,4 11 37,9 13 44,8 2 6,9
Qua kết quả khảo sát cho thấy : Cùng là một vấn đề về viết văn tả cảnh nhưng kết
quả hoàn toàn khác h†n nhau khi áp dụng đề tài và khi chưa áp dụng đề tài. Kết quả
nghiên cứu cho thấy, việc áp dụng đề tài trong giảng dạy phân môn Tập làm văn cho
học sinh đã có những tiến bộ đáng kể và kết quả rất khả quan.
Cùng với việc nghiên cứu, tôi đã hướng dẫn các em học theo phương pháp mới
mà mình đang nghiên cứu nhưng được sử dụng một cách linh hoạt hơn so với những
năm học trước. Sau một thời gian áp dụng đề tài vào giảng dạy, tôi đã tiến hành khảo
sát lại học sinh lớp 5E năm học 2012 -2013 với đề bài : “Em hãy miêu tả cô giáo
(hoặc thầy giáo) của em trong một giờ học mà em nhớ nhất ”. Kết quả thu được rất
khả quan :
Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL % SL % SL % SL %
8 27,6 15 51,7 6 20,7 / /
Với kết quả khảo sát này, số học sinh giỏi đã tăng lên rõ rệt so với lúc chưa áp
dụng đề tài. Số học sinh khá cũng tăng lên nhiều.
Sau khi nghiên cứu và thử nghiệm có kết quả, tôi đã cùng đồng nghiệp của mình
tiến hành áp dụng đề tài này trong giảng dạy các lớp 5 của trường tiết Tập làm văn trả
bài viết. Nó giúp cho học sinh khắc phục được các lỗi mà các em thường mắc phải và
chất lượng các bài tập làm văn được nâng lên rõ rệt.
Đề tài này không những áp dụng trong trường mà tôi còn trao đổi kinh nghiệm
này với một số đồng nghiệp đang dạy ở các trường khác. Họ cũng tiến hành thử
nghiệm và kết quả thu được từ bài làm của học sinh ở phân môn Tập làm văn cũng rất
khả quan.
Đề tài được áp dụng đã giúp cho giáo viên không còn lúng túng khi hướng dẫn
học sinh sửa lỗi. Vì trước đây giáo viên chỉ dựa vào lí thuyết chung chung của nội
dung trong bài nên việc gợi ý cho các em cách làm là rất khó. Sau khi áp dụng đề tài,
các em sẽ nắm rõ bố cục của một bài văn, nhận biết các lỗi thường mắc phải và cách
sửa các lỗi đó. Từ đó việc dạy phân môn Tập làm văn nói riêng và môn Tiếng Việt nói
chung cho học sinh ngày càng tốt và có hiệu quả hơn.
Học sinh được hưởng thụ từ việc áp dụng đề tài đã giúp cho các em bớt căng
Tác giả : Trang 23
Đề tài : Nâng cao chất lượng phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 5 thông qua tiết
trả bài viết
th†ng hơn, bớt lo lắng khi làm bài tập làm văn. Tiết học của các em trở nên sôi nổi,
hứng thú tạo cho các em tâm thế tốt nhất để học bài mới, mang lại hiệu quả học tập
cao. Qua đó chất lượng dạy và học môn Tiếng Việt không ngừng được nâng cao.
G2bS'-D,-Plw-`
G28bS'-';<5['&MKL,(77P,aO&*A,-(&CKL'x'_,(&'
G2828bS'-';<5['&MKL,(77P,aO&*A,-(&CKL'
Trong quá trình giáo dục, đề tài được áp dụng thành công sẽ mang lại lợi ích rất
thiết thực và hiệu quả.
Đề tài được áp dụng sẽ góp phần to lớn trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh.
Bồi dưỡng cho các em có tâm hồn trong sáng, thân thiện với môi trường xung quanh.
Điều đó rất cần thiết cho các em trong quá trình quan sát để viết văn.
Đề tài còn giúp cho các em biết viết những bài văn đảm bảo về nội dung, lôgic về