Đồ án tốt nghiệp Khảo sát hệ thống bôi trơn của động cơ KAMAZ - 740
SVTH: Lê Việt Hùng - Lớp: 24C4 Trang 2
1. MỤC ĐÍCH - Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI:
1.1: Ý NGHĨA KINH TẾ:
Ngày nay, động cơ đốt trong đã phát triển rộng khắp trên mọi lĩnh vực: Giao
thông vận tải (đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, hàng không ), nông nghiệp, công
nghiệp, xây dựng, quốc phòng
Ngoài việc được sử dụng song hành với các loại động cơ nhiệt khác trong một
số lĩnh vực, cho đến nay động cơ đốt trong là động lực duy nhất được sử dụng. Tổng
công suất do động cơ đốt trong tạo ra chiếm khoảng 90% công suất thiết bị động lực
do mọi nguồn năng lượng tạo ra (bao gồm: Nhiệt năng, thuỷ năng, năng lượng nguyên
tử, năng lượng mặt trời ). Trong đó, động cơ đốt trong loại piston có hiệu suất cao
nhất trong các loại động cơ đốt trong, chiếm số lượng lớn nhất và được sử dụng rộng
rãi nhất. Vì thế, thuật ngữ “động cơ đốt trong” còn có ý dùng ngắn ngọn để chỉ động
cơ đốt trong loại piston, ngoài ý chỉ tổng quát về động cơ đốt trong. Để thuận tiện cho
việc nghiên cứu, người ta phân ra trong động cơ đốt trong làm nhiều hệ thống như: Hệ
thống bôi trơn, hệ thống làm mát, hệ thống nhiên liệu mỗi hệ thống đều có tầm quan
trọng nhất định. Trong đó, hệ thống bôi trơn là một trong những hệ thống chính của
động cơ đốt trong.
1.2: Ý NGHĨA VỀ KỸ THUẬT:
Trong quá trình học tập các môn học chuyên ngành về động cơ đốt trong, đồ án
tốt nghiệp với đề tài khảo sát, mà cụ thể là khảo sát một hệ thống bất kỳ của động cơ
đốt trong giúp cho sinh viên biết cách tìm hiểu một trong các hệ thống đó, trên cơ sở
khảo sát tương tự sẽ nắm bắt sâu hơn các hệ thống khác của động cơ đốt trong Ngoài
ra, việc khảo sát này còn giúp cho sinh viên có thêm kinh nghiệm, biết hướng để đi sâu
tìm hiểu một hệ thống bất kỳ trong động cơ đốt trong và thêm nhiều kinh nghiệm sau
khi ra trường. Do vậy, đề tài khảo sát hệ thống bôi trơn là một trong những đề tài đã
nói trên.
2. ĐẶC ĐIỂM HỆ THỐNG BÔI TRƠN ĐỘNG CƠ ĐỐT TRONG.
2.1.YÊU CẦU CHUNG VỀ HỆ THỐNG BÔI TRƠN TRONG ĐỘNG CƠ ĐỐT
TRONG.
Là trạng thái ma sát trung gian giữa ma sát ướt và ma sát khô. Khi xảy ra ma sát
tới hạn, trên bề mặt ma sát tồn tại một lớp dầu nhờn, nhưng lớp dầu này rất mỏng.
Màng dầu này chịu tác dụng của lực phân tử của bề mặt kim loại nên bám chặt trên bề
mặt kim loại và mất đi khả năng di động. Vì vậy, trong trường hợp này, lực ma sát
quyết định bởi quá trình sản sinh do kết quả của lực tương tác giữa bề mặt ma sát với
màng dầu nhờn bám lên nó.
Hệ số ma sát.
Đồ án tốt nghiệp Khảo sát hệ thống bôi trơn của động cơ KAMAZ - 740
SVTH: Lê Việt Hùng - Lớp: 24C4 Trang 4
Tuỳ thuộc vào vị trí và điều kiện làm việc cụ thể của ổ trục mà ta chọn vật liệu
chế tạo ổ trục ứng với hệ số ma sát, hoặc ngược lại cho hợp lý. Hệ số ma sát của các
loại vật liệu ổ trục trong điều kiện ma sát khô và ma sát ướt bảng 2.1:
Bảng 2.1. Hệ số ma sát của một số loại vật liệu.
Vật liệu ổ trục
Hệ số ma sát
Ma sát khô
Ma sát ướt
Gang với gang
Gang với đồng
Thép với thép
Thép với đồng
Thép với babít
Thép với nhôm
0.15
0.150.2
0.15
0.15
0.25 0.28
0.26
0.070.12
SVTH: Lê Việt Hùng - Lớp: 24C4 Trang 5
2.1.4. Bao kín buồng cháy.
Do có lớp dầu giữa hành xylanh và piston, giữa xecmăng và rãnh xecmăng nên
giảm được khả năng lọt khí xuống cacte.
Ngoài bốn nhiệm vụ trên, dầu nhờn còn có tác dụng như một lớp bảo vệ chống ăn mòn
hoá học.
2.2 HỆ THỐNG BÔI TRƠN DÙNG CHO ĐỘNG CƠ ĐỐT TRONG.
2.2.1. Các phương án bôi trơn trong động cơ đốt trong.
Hình 2.1. Sơ đồ nguyên lý bôi trơn bằng phương pháp vung toé dầu.
1- Bánh lệch tâm; 2- Piston bơm dầu; 3- Thân bơm; 4-Cácte; 5-Điểm tựa; 6- Máng dầu
phụ; 7-Thanh truyền có thìa hắt dầu.
2.2.1.1. Bôi trơn bằng phương án vung toé dầu:
Nguyên lý làm việc :
Bôi trơn vung toé trong động cơ nằm ngang.
Bôi trơn vung toé trong động cơ đứng.
Bôi trơn vung toé có bơm dầu đơn giản.
Dầu nhờn được chứa trong cacte (4) khi động cơ làm việc nhờ vào thìa múc
dầulắp trên đầu to thanh truyền (7) múc hắt tung lên.
Nếu múc dầu trong cacte bố trí cách xa thìa múc thì hệ thống bôi trơn có dùng
thêm bơm dầu kết cấu đơn giản để bơm dầu lên máng dầu phụ (6), sau đó dầu nhờn
mới được hắt tung lên. Cứ mỗi vòng quay của trục khuỷu thìa hắt dầu múc dầu lên một
lần. Các hạt dầu vung té ra bên trong khoảng không gian của cacte sẽ rơi tự do xuống
các mặt ma sát của ổ trục. Để đảm bảo cho các ổ trục không bị thiếu dầu, trên các vách
ngăn bên trên ổ trục thường có các gân hứng dầu khi dầu tung lên.
Đồ án tốt nghiệp Khảo sát hệ thống bôi trơn của động cơ KAMAZ - 740
SVTH: Lê Việt Hùng - Lớp: 24C4 Trang 6
Ưu, nhược điểm:
- Ưu điểm: Kết cấu của hệ thống bôi trơn rất đơn giản, dễ bố trí.
Đồ án tốt nghiệp Khảo sát hệ thống bôi trơn của động cơ KAMAZ - 740
SVTH: Lê Việt Hùng - Lớp: 24C4 Trang 7
sau đó dầu đi qua lọc thô 3, khi đi qua bầu lọc thô, dầu được lọc sạch sơ bộ các tạp
chất cơ học có kích cỡ các hạt lớn, tiếp theo đó dầu nhờn được đẩy vào đường dầu
chính 6 để chảy đến các ổ trục khuỷu, ổ trục cam, Đường dầu 5 trong trục khuỷu đưa
dầu lên bôi trơn ở chốt, ở đầu to thanh truyền rồi theo đường dầu 8 lên bôi trơn chốt
piston. Nếu như không có đường dầu trên thanh truyền thì đầu nhỏ trên thanh truyền
phải có lỗ hứng dầu. Trên đường dầu chính còn có các đường dầu 13 đưa dầu đi bôi
trơn các cơ cấu phối khí Một phần dầu (khoảng 15 ÷ 20% lượng dầu bôi trơn do
bơm dầu cung cấp ) đi qua bầu lọc tinh 10 rồi trở về lại cácte. Bầu lọc tinh có thể được
lắp gần bầu lọc thô hoặc để xa bầu lọc thô, nhưng bao giờ cũng lắp theo mạch rẽ so
với bầu lọc thô. Đồng hồ M báo áp suất và đồng hồ T báo nhiệt độ của dầu nhờn.
Khi nhiệt độ của dầu bôi trơn lên cao quá 80
0
C, vì do độ nhớt giảm sút, van điều khiển
C sẽ mở để dầu nhờn đi qua két làm mát dầu nhờn 11. Sau một thời gian làm việc bầu
lọc thô có thể bị tắt do quá tải, van an toàn D của bầu lọc thô được dầu nhờn đẩy mở
ra, dầu lúc này không thể qua bầu lọc thô mà trực tiếp đi vào đường dầu chính 6. Để
đảm bảo áp suất dầu bôi trơn có trị số không đổi trên cả hệ thống, trên hệ thống bôi
trơn có lắp van an toàn a.
Ngoài việc bôi trơn các bộ phận trên, để bôi trơn các bề mặt làm việc của
xilanh, piston người ta kết hợp tận dụng dầu vung ra khỏi ổ đầu to thanh truyền trong
quá trình làm việc ở một số ít động cơ, trên đầu to thanh truyền khoan một lỗ nhỏ để
phun dầu về phía trục cam tăng chất lượng bôi trơn cho trục cam và xilanh.
Ưu- nhược điểm:
Ưu điểm: Cung cấp khá đầy đủ dầu bôi trơn cả về số lượng và chất lượng, độ
tin cậy làm việc của hệ thống bôi trơn tương đối cao.
Nhược điểm: Do dùng cácte ướt (chứa dầu trong cácte ) nên khi động cơ làm việc ở độ
nghiêng lớn, dầu nhờn dồn về một phía khiến phao hút dầu bị hẫng. Vì vậy lưu lượng
dầu cung cấp sẽ không đảm bảo đúng yêu cầu.
trên hình (3.4)
Hình 2.3. Sơ đồ nguyên lý làm việc của hệ thống bôi trơn cácte khô.
1- Phao hút dầu; 2- Bơm chuyển dầu nhờn; 3- Bầu lọc thô; 11-Két làm mát dầu 14-
Thùng chứa dầu; 15-Bơm hút dầu từ cácte về thùng chứa; a- Van an toàn của bơm; b-
Van an toàn của bầu lọc thô; d- Van khống chế dầu qua két làm mát ; M- Đồng hồ áp
suất; T- Đồng hồ nhiệt độ dầu nhờn.
Ưu - nhược điểm:
Ưu điểm: Cácte chỉ hứng và chứa dầu tạm thời, còn thùng dầu mới là nơi chứa
dầu để đi bôi trơn nên động cơ có thể làm việc ở độ nghiên lớn mà không sợ thiếu dầu,
dầu được cung cấp đầy đủ và liên tục.
Nhược điểm: Kết cấu phức tạp hơn, giá thành tăng lên do phải thêm đến 2 bơm
dầu hút dầu cácte qua thùng, thêm đường dầu và bố trí thùng dầu sao cho hợp lý.Hệ
thống bôi trơn cưỡng bức cácte khô thường dùng trên các loại động cơ điêsel dùng trên
máy ủi đất, xe tăng, máy kéo, tàu thuỷ Đồ án tốt nghiệp Khảo sát hệ thống bôi trơn của động cơ KAMAZ - 740
SVTH: Lê Việt Hùng - Lớp: 24C4 Trang 10
Hình 2.4. Sơ đồ bố trí bơm tay hoặc bơm điện trong hệ thống bôi trơn cưỡng bức.
1-Phao hút dầu; 2- Bơm chuyển dầu nhờn; 3- Bầu lọc thô; 11- Két làm mát dầu ; 14-
Đường dẫn dầu; 15- Van dầu; 16- Bơm tay hoặc bơm điện; a- Van an toàn của bơm; b-
Van an toàn của bầu lọc thô; T- Đồng hồ nhiệt độ dầu nhờn.
b. Phạm vi sử dụng:
Trong một số động cơ tĩnh tại và tàu thuỷ, trên hệ thống bôi trơn còn bố trí bơm
tay hoặc bơm điện để cung cấp dầu nhờn đến các mặt ma sát và điền đầy các đường
ống dẫn trước khi khởi động cơ.
Ngoài ra, để đảm bảo bôi trơn cho mặt làm việc của xilanh, hệ thống bôi trơn
của các loại động cơ này còn thường dùng van phân phối để cấp dầu nhờn vào một số
điểm chung quanh xi lanh, lỗ dầu thường khoan trên lót xilanh.
Hệ thống bôi trơn sử dụng trên các loại động cơ đốt trong đều chỉ sử dụng dầu nhờn để
làm tiêu hao công suất do ma sát gây ra tại ổ trục. Đưa nhiệt lượng do ma sát sinh ra ra
ngoài ổ trục, toả vào môi trường xung quanh, nhờ đó làm giảm được lượng mài mòn
của các chi tiết máy, bảo vệ các chi tiết máy trong động cơ đốt trong không bị gỉ.
2.3. KẾT CẤU CÁC CHI TIẾT CỤM CHI TIẾT CHÍNH CỦA HỆ THỐNG BÔI TRƠN.
2.3.2. Bơm dầu nhờn:
Trên động cơ đốt trong, bơm dầu nhờn đều là các loại bơm thể tích chuyển dầu
bằng áp suất thuỷ tĩnh bơm piston, bơm phiến trượt, bơm bánh răng và bơm trục vít.
Mỗi loại bơm đều có đặc điểm kết cấu riêng, do đó ưu nhược điểm và phạm vi sử dụng
cũng khác nhau.
Trên động cơ ôtô, đa số sử dụng bơm bánh răng, bởi kết cấu nhỏ gọn, dễ bố trí
trên động cơ, áp suất bơm dầu đảm bảo cung cấp dầu liên tục, đặc biệt là độ tin cậy
cao, tuổi thọ dài. Ở đây ta khảo sát một số loại bơm điển hình dùng trên động cơ đốt
trong.
Bơm bánh răng:
Bơm bánh răng được ứng dụng trong các máy thuỷ lực, hệ thống điều khiển tự
động, trong công nghệ người máy, trong bôi trơn các bộ phận chuyển động của máy.
Do không có van hút và đẩy nên bơm bánh răng có thể quay với vận tốc lớn nên nó
thường truyền động trực tiếp từ động cơ. Vì khi làm việc bơm bánh răng luôn tiếp xúc
với dầu nhờn, dầu thuỷ lực nên tuổi thọ của nó cao. Các bề mặt làm việc của bơm phải
được chế tạo với độ chính xác cao thì mới tạo được áp lực lớn và không tổn thất nhiều
Đồ án tốt nghiệp Khảo sát hệ thống bôi trơn của động cơ KAMAZ - 740
SVTH: Lê Việt Hùng - Lớp: 24C4 Trang 12
lưu lượng. Nguyên lý làm việc và kết cấu của bơm bánh răng rất đơn giản nó gồm có
hai bánh răng được dẫn động theo chiều nhất định.
Hình 2.5. Bơm bánh răng.
1- Bánh răng dẫn động trên trục chủ động; 2- Trục chủ động; Vòng đệm chặn lực
dọc trục; 4- Bánh răng chủ động; 5- Bánh răng bị động; 6- Trục bị động; 7-
Thân bơm; 8- Nắp bơm dầu; 9- Van an toàn; 10- Lò xo van an toàn; 11- Đường
Thông thường người ta làm mát dầu nhờn.
Két làm mát dầu nhờn được đặt trong áo nước của động cơ. Làm mát dầu nhờn
bằng nước dựa trên nguyên lý trao đổi nhiệt bằng cách truyền nhiệt. Nguyên lý làm
việc của két làm mát dầu nhờn bằng nước: Nước làm mát được dẫn vào hai khoang
chứa ở hai đầu ống dẫn 5, còn dầu nhờn đi bao ngoài các ống dẫn nước và lưu động
ngược chiều với dòng nước để tăng tác dụng trao đổi nhiệt.
Đặc điểm sử dụng: Loại két làm mát này được dùng rất nhiều trên động cơ tàu
thuỷ và tĩnh tại. Do nguồn nước làm mát thuận tiện, các ống dẫn nước đều làm bằng
đồng hoặc nhôm, vỏ két đúc bằng gang xám.
Ưu nhược điểm:
Ưu điểm: Hiệu quả làm mát cao nên trạng thái nhiệt của dầu thấp, giảm được tiếng ồn
do không phải dùng quạt ,giảm được tổn hao công suất động cơ.
Nhược điểm: Kết cấu phức tạp, dùng vật liệu quý như đồng, thiết để tản nhiệt
tốt, dễ rò gỉ nước làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng dầu nhờn, phải súc rửa két nước
để loại cặn bẩn hoặc nước cứng đóng cặn làm giảm khả năng truyền nhiệt, hiệu quả
không cao khi sử dụng ở vùng thiếu nước, không thích hợp khi dùng ở vùng khí hậu
lạnh do nước dễ đóng băng. Do vậy thường dùng trên động cơ tĩnh tại và tàu thuỷ.
Đồ án tốt nghiệp Khảo sát hệ thống bôi trơn của động cơ KAMAZ - 740
SVTH: Lê Việt Hùng - Lớp: 24C4 Trang 14 Hình 2.6. Két làm mát dầu nhờn bằng nước.
1 và 4. Bản đẩy; 2. Vách ngăn; 3. Van xả dầu; 4. Nắp két làm mát; 5. Ống dẫn
nước.
3. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỘNG CƠ KAMAZ -740.
3.1 GIỚI THIỆU CHUNG
Động cơ KAMAZ-740 là động cơ đốt trong, sử dụng nhiên liệu điêden, 4 kỳ,
làm mát bằng nước (theo kiểu làm mát cưỡng bức), có 8 xylanh được bố trí theo kiểu
hình chữ V, chia làm hai hàng mỗi hàng có 4 xylanh.
Bơm cao áp của động cơ được bố trí ở giữa hai hàng xylanh. Bơm được dẫn
Đồ án tốt nghiệp Khảo sát hệ thống bôi trơn của động cơ KAMAZ - 740
SVTH: Lê Việt Hùng - Lớp: 24C4 Trang 16
1 2 3 4 5
7
8
6
9
10
11
18 17 16 15 13
12
14 Hình 3.2. Mặt cắt dọc động cơ KAMAZ - 740.
1-Máy phát điện ; 2-Bơm nhiên liệu thấp áp ; 3-Bơm tay; 4-Bơm cao áp ;5-Khớp tự
động điều chỉnh góc phun sớm ; 6-Bán khớp dẫn động bơm cao áp ; 7-Đường ống nạp
; 8-Bầu lọc tinh nhiên liệu ; 9-Cảm biến đồng hồ chỉ số vòng quay ; 10-Bánh đà ; 11-
Cacte bánh đà ; 12-Bulông xả dầu ; 13-Cacte; 14-Nắp gối đỡ trục ; 15-Bơm dầu ; 16-
Trục chủ động của phần dẫn động khớp thuỷ lực ; 17-Puli dẫn động máy phát ; 18-
Quạt gió.
Những giải pháp kết cấu trên cũng như việc sử dụng khớp thuỷ lực tự động dẫn
động quạt gió và hai bộ van hằng nhiệt trong hệ thống làm mát, chu trình lọc dầu tuần
hoàn liên tục, không khí vào đường nạp được lọc sạch một cách có hiệu quả, quá trình
lọc tinh nhiên liệu, lọc dầu bôi trơn bằng phương pháp lọc ly tâm nhằm đảm bảo cho
các chi tiết và cụm máy có khả năng chống mài mòn, giảm hư hỏng cao và do đó giảm
được nhiều khối lượng công việc trong bảo dưỡng và sửa chữa.
Đồ án tốt nghiệp Khảo sát hệ thống bôi trơn của động cơ KAMAZ - 740
SVTH: Lê Việt Hùng - Lớp: 24C4 Trang 17
154 (210)
KW (ml)
2
Số vòng quay động
cơ ứng với N
emax
n
N
2600
Vòng/phút
3
Mômen xoắn cực đại
động cơ
M
emax
638 (65)
Nm (KG.m)
Đồ án tốt nghiệp Khảo sát hệ thống bôi trơn của động cơ KAMAZ - 740
SVTH: Lê Việt Hùng - Lớp: 24C4 Trang 18
4
Số vòng quay ứng
với M
emax
n
M
1500
Thể tích làm việc
V
h
10.85
lít
10
Suất tiêu hao nhiên
liệu
g
e
g
emin
g
emax
224(165)
238(175)
g/(KG.h)(g/Hp.h)
g/(KG.h)(g/Hp.h)
11
Góc mở sớm xupap
nạp
1
10
Sau
ĐCT
15
Số lượng xupap của 1
xylanh
2 16
Ap suất dầu ở động
cơ nóng:
-Ứng với n
M
-Ứng với n
min 392539
>98 (1) Kpa
Kpa(KG/cm
2
)
chết trên xuống (ĐCD). Đồng thời cơ cấu phối khí mở đường thông qua xupap nạp,
nối không gian bên trên pittông với đường ống nạp.
Cùng với mức tăng tốc của pittông, áp suất khí sót trong xy lanh cũng trở nên
nhỏ dần so với áp suất không khí trên đường nạp (chênh lệch áp suất giữa đường nạp
và trong xy lanh vào khoảng 0,010,03 MPa). Chính sự chênh lệch áp suất này tạo nên
quá trình nạp không khí từ đường ống nạp vào xy lanh động cơ. Không khí trước khi
nạp vào xy lanh được lọc sạch nhờ các phần tử lọc không khí trong xy lanh trộn với
khí sót còn lại trong quá trình xả, áp lực không khí trong xy lanh ở kỳ nạp từ 80 90
kPa (0,80,9KG/cm
2
) và nhiệt độ đạt tới 5080
0
C
Kỳ nén: Pittông chuyển từ ĐCD lên ĐCT, không khí trong xy lanh bị nén. Cuối
kỳ nạp pittông ở vị trí ĐCD áp suất không khí trong xy lanh (Pa) còn nhỏ hơn không
khí trên đường nạp (P
k
). Do đó ở đầu kỳ nén, khi pittông đi lên được một đoạn thì áp
suất không khí trong xy lanh mới đạt tới giá trị áp suất không khí trên đường nạp, lúc
này xupáp nạp mới đóng lại hoàn toàn. Sau khi đóng xupáp nạp, chuyển động đi lên
của pittông làm cho áp suất và nhiệt độ không khí trong xy lanh tăng cao. Vào cuối kỳ
nén, áp suất không khí trong xy lanh 3,4 3,6 Mpa và nhiệt độ từ 600700
0
C. Để tận
dụng tốt nhiệt lượng do nhiên liệu được đốt cháy tạo ra thì điểm bắt đầu và kết thúc
quá trình cháy cần nằm ở khu vực sát ĐCT. Do đó ở động cơ KAMAZ - 740 việc
phun nhiên liệu vào xy lanh động cơ được thực hiện trước khi pittông đến ĐCT. Nhiên
liệu được phun vào buồng cháy dưới dạng sương mù, áp suất nhiên liệu được khoảng
Đồ án tốt nghiệp Khảo sát hệ thống bôi trơn của động cơ KAMAZ - 740
SVTH: Lê Việt Hùng - Lớp: 24C4 Trang 20
3.2.1. Thân máy:
Thân máy là chi tiết lớn nhất của động cơ. Khối lượng của nó chiếm khoảng
25% khối lượng toàn bộ của động cơ.
Thân máy bao gồm:Thân xy lanh và hộp trục khủyu. Thân máy của động cơ
KAMAZ - 740 là loại thân máy chịu lực. Xy lanh được chế tạo riêng dưới dạng ống lót
rồi lắp vào vỏ thân.
Ở động cơ KAMAZ – 740, thân xy lanh và trục khủyu được làm thành một khối
nguyên và trục khuỷu được lắp đặt theo kiểu treo, nên không có đế máy.
Kết cấu thân máy: Loại thân máy theo kiểu thân xy lanh, hộ trục khuỷu đựơc
đúc bằng gang xám và được gia cố bằng các gân tang độ bền, độ cứng vững, khối
lượng của thân máy, dễ dàng bao kín và ít bề mặt lắp ghép. Đối với thân máy loại này
thì vỏ xy lanh là phần chịu lực (áo xy lanh chịu lực).
Đồ án tốt nghiệp Khảo sát hệ thống bôi trơn của động cơ KAMAZ - 740
SVTH: Lê Việt Hùng - Lớp: 24C4 Trang 21
Mặt lắp ghép với cacte thấp hơn mặt phân chia ổ trục, do đó lực và mômen của
trục khuỷu truyền cho thân máy đều được hộp trục khủyu có tiết diện ngang và khối
lượng kim loại lớn chịu đựng.
Kích thước cơ bản của thân máy là chiều dài, chiều rộng và chiều dày của thành
thân máy.
Hình 3.5. thân máy
3.2.1.1. Nắp máy (Nắp xy lanh )
Là chi tiết dùng để đậy kín buồng cháy và là nơi để lắp ráp các bộ phận khác
như : vòi phun, cò mổ, đòn gánh, xupáp, lò so xupáp, ống dẫn hướng xupáp, các
đường nạp, đường thải, đường dầu bôi trơn, đường làm mát. Ở động KAMAZ - 740
mỗi xy lanh được bố trí một nắp xy lanh riêng biệt nên có những ưu điểm.
- Đơn giản trong chế tạo
- Ít bị biến dạng do lực xiết gu jông không đều gây ra (vì có ít gu jông).
- Thuận lợi trong quá trình sửa chữa, xy lanh nào hư hỏng thì tháo nắp của xy
lanh đó, do ít tốn thời gian. Nắp xilanh được chế tạo bằng gang hợp kim theo phương
Các te có nhiệm vụ chứa dầu bôi trơn và lắng đọng bụi bẩn tạp chất che chắn và bao
kín phần dưới của hộp trục khuỷu và bơm dầu bôi trơn.
Trên cacte có một vách ngăn ở giữa, nhằm hạn chế bụi bẩn, từ ngăn chứa qua
ngăn bên cạnh. Khi động cơ nằm nghiêng nó còn có tác dụng đỡ ống hút của bơm dầu.
Ở dưới cacte có một bulông để xả dầu khi bảo dưỡng, thay thế dầu bôi trơn, bu lông xả
dầu nằm ở vị trí thấp nhất của các te để xả dầu đồng thời cũng xả được bụi bẩn trong
cacte. Cacte được làm bằng thép và được chế tạo bằng phương pháp dập.
Đồ án tốt nghiệp Khảo sát hệ thống bôi trơn của động cơ KAMAZ - 740
SVTH: Lê Việt Hùng - Lớp: 24C4 Trang 23
Hình 3.6. Nắp đậy và Nắp máy
1. Nắp máy, 2. Đệm nắp đậy nắp máy, 3.Bulông nắp đậy., 4. Nắp đậy và Nắp máy, 5.
Bulông bắt nắp máy, 6. Vòng đệm, 7.16 xupáp, 9. Ống dẫn hướng, 10. Đĩa chặn. 11.
Lò xo., 12. Đĩa lò xo, 13. Cơ cấu xoay, 14. Vòng hãm, 15. Ống lót
3.2.1.3. Cácte
Các te được bắt chặt với thân máy bằng 28 bulông M10 . Các bu long được siết
ngang hình thành một kết cấu vững chắc giữa hai bề mặt tiếp xúc, có một đệm kín làm
tăng độ kín giữa hai bề mặt tiếp xúc.
3.2.2.Cơ cấu phân phối khí của động cơ kamaz - 740
3.2.2.1. Nhiệm vụ và yêu cầu.
Cơ cấu phối khí dùng để thực hiện quá trình thay đổi khí, thải sạch khí thải khỏi
xy lanh và nạp đầy không khí mới vào xy lanh để động cơ làm việc liên tục.
3.2.2.2. Yêu cầu
- Đóng mở đúng thời gian quy định ;
- Độ mở lớn để dòng khí dễ lưu thong;
- Đóng kín, xupáp thải không tự mở trong quá trình nạp;
- Ít mòn, tiếng ồn nhỏ;
- Thuận lợi trong điều chỉnh và sửa chữa;
3.2.2.3. Kết cấu của cơ cấu phân phối khí
hãm; 14,15-Xupap; 16-Mặt chặn dịch chuyển dọc trục; 17-Bánh răng dẫn động.
3.2.2.4. Các chi tiết chính trong cơ cấu phân phối khí.
3.2.2.5. Xupap:
Trong quá trình làm việc mặt nấm xu páp chịu phụ tải động và phụ tải nhiệt rất lớn
Lực khí thể tác dụng lên diện tích mặt nấm xupáp rất lớn có thể đến 20.000N. Hơn nữa
mặt nấm xupáp luôn luôn va đập với đế xupáp nên rất dễ bị biến dạng . Do trực tiếp
tiếp xúc với khí cháy nên xu páp còn phải chịu nhiệt độ rất cao khoảng 700
0
C. Hơn
Đồ án tốt nghiệp Khảo sát hệ thống bôi trơn của động cơ KAMAZ - 740
SVTH: Lê Việt Hùng - Lớp: 24C4 Trang 25
nữa, tốc độ dòng khí thải cũng rất lớn, khiến cho xu páp nhất là xu páp thải thường dễ
bị quá nóng và bị dòng khí ăn mòn.
Ngoài ra trong nhiên liệu còn có lưu huỳnh nên khi cháy tạo thành axit ăn mòn
nấm xupáp
Vật liệu chế tạo xupap.
-Xupap thải :Thép hợp kim - 48.
-Xupap nạp :Thép hợp kim Crôm.
-Thân xupap làm bằng thép 40X, sau đó được hàn lại với nấm xupap.
Kết cấu xupap gồm ba phần chính: Nấm xupap (đầu), thân xupap., đuôi xupap. Nấm
xupap:
Mặt làm việc quan trọng nhất của phần nấm là mặt côn, có góc đo = 45
0
Góc
ảnh hưởng đến độ cứng vững của phần nấm. Góc càng nhỏ thì tiết diện lưu thông
càng lớn nhưng mặt nấm càng mỏng, độ cứng vững của mặt nấm càng kém do đó dễ bị
cong vênh, tiếp xúc không kín khít với đế xupap. Nếu nhỏ quá ( 0
0
) thì dòng khí
sẽ bị gấp khúc.
lắp trực tiếp với đĩa lò xo mà lắp trực tiếp với ống lót hình côn. Ống lót này lắp trên lỗ
hình côn cuả đĩa lò xo bằng vành phía trên của ống lót. Vì vậy mômen masat trên mặt
tiếp xúc này rất nhỏ. Trong quá trình dao động của cơ cấu, mômen ma sát có lúc giảm
xuống bằng không, do đó tạo điều kiện cho xu páp xoay quanh trục của nó.
Đế xupap:
Để giảm hao mòn cho thân máy và nắp xy lanh khi chịu lực va đập của xu páp,
người ta dùng đế xu páp ép vào họng đường thải và đường nạp.
Đế xupap làm bằng gang hợp kim (gang trắng) chịu va đập và mài mòn cao. Đế
xupap được lắp vào nắp máy bằng cách ép có độ dôi.
Kết cấu của đế xupap là một vòng hình trụ, trên có vát mặt côn để tiếp xúc với
mặt côn của nấm xupap.
Ống dẫn hướng xupap:
Để dễ sửa chữa và tránh hao mòn cho nắp xylanh ở chỗ lắp xupap, người ta lắp
ống dẫn hướng xupap. Ống dẫn hướng xupap được chế tạo bằng ceramic.Ống dẫn
hướng được bôi trơn bằng dầu từ trên đầu cò mổ chảy xuống (một lượng rất nhỏ )
Ống dẫn hướng kết cấu hình trụ rỗng và được đóng ép vào nắp xylanh. Chiều
dày của ống dẫn hướng là : 3,3[mm] và chiều dài là:75,3[mm].
Lò xo xupap:
Lò xo xupap dùng để đóng kín xupap trên đế xupap và đảm bảo xupap chuyển
động theo đúng qui luật của cam phối khí, do đó trong quá trình đóng mở xupap không
có hiện tượng va đập trên mặt cam.
Lò xo xupap làm việc trong điều kiện tải trọng động thay đổi rất đột ngột.Vật
liệu chế tạo lò xo xupap là thép lò xo.
Lò xo dùng trong cơ cấu phân phối khí là lò xo xoắn ốc hình trụ. Có hai lò xo
được đặt lồng vào nhau. Hai vòng của hai đầu lò xo quấn sít vào nhau và được mài
phẳng để lắp ghép với đĩa lò xo và vòng đệm ở nắp xylanh. Số vòng làm việc của lò xo
(không kể hai vòng đầu):
-Lò xo ngoài : 4 [vòng].
-Lò xo trong :6 [vòng].