Nghiên cứu đánh giá vùng ngập nước và xâm nhập mặn bởi nước biển dâng do biến đổi khí hậu phục vụ định hướng sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2050 của huyện bình đại, tỉnh bến tre - Pdf 28

1

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BĐKH

Biến đổi khí hậu

ĐBSCL

Đồng bằng sông Cửu Long

ĐBSH

Đồng bằng sông Hồng

ĐNB

Đông Nam Bộ

GDP

Tổng sản phẩm quốc nội

GEF

Quỹ môi trường toàn cầu

IPCC

Ủy ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu

Bảng 1.2: Nước biển dâng theo kịch bản phát thải trung bình (cm) 18
Bảng 1.3: Nước biển dâng theo kịch bản phát thải cao (cm) 18
Bảng 1.4: Tổng hợp thiệt hại do tác động của BĐKH đối với một
số cây trồng chính
.
20
Bảng 2.1: Đặc điểm địa hình của tỉnh Bến Tre 28
Bảng 2.2: Phân bố diện tích theo từng loại đất trong tỉnh Bến Tre 29
Bảng 2.3: Đặc trưng nhiệt độ (
o
C) bình quân tháng tại trạm quan trắc Ba Tri 30
Bảng 2.4: Lượng mưa trung bình (mm) các tháng trong giai đoạn từ năm 2005-2012
32
Bảng 2.5: Độ ẩm (%) trung bình các tháng trong giai đoạn từ năm 2005-2012 33
Bảng 2.6: Thời điểm xuất hiện biên độ triều lớn nhất tại các trạm trong vùng 35
Bảng 2.7: Biên độ triều (cm) tại các trạm thủy văn trong vùng nghiên cứu 35
Bảng 2.8: Đặc trưng mực nước tại các trạm thủy văn giai đoạn từ năm
1984-2006
36

Bảng 2.9: Đặc trưng mực nước tại các trạm thủy văn vùng phụ cận 36
Bảng 2.10: Lưu lượng nước (m
3
/s) trung bình tại các sông nhánh 37
Bảng 2.11: Phân phối dòng chảy (m
3
/s) mùa lũ và mùa cạn 37
Bảng 2.12: Thống kê độ mặn (g/l) lớn nhất tháng 38
Bảng 2.13: Thống kê độ mặn lớn nhất của các năm xâm nhập sâu 39
Bảng 2.14: Thời gian duy trì độ mặn tại các trục sông kênh chính 39

Hình 2.4: Sơ đồ tính toán thủy lực 47
Hình 2.5: So sánh kết quả hiệu chỉnh H tính toán với thực đo trạm Chợ Lách 49
Hình 2.6:So sánh kết quả hiệu chỉnh H tính toán với thực đo trạm Mỹ Tho 49
Hình 2.7: So sánh kết quả hiệu chỉnh H tính toán với thực đo trạm Hòa Bình 49
Hình 2.8: Kết quả hiệu chỉnh độ mặn (g/l) tính toán với thực đo trạm Hòa Bình 50
Hình 2.9: Kết quả hiệu chỉnh độ mặn (g/l) tính toán với thực đo trạm Lộc Thuận . 51
Hình 2.10: Kết quả hiệu chỉnh độ mặn (g/l) tính toán với thực đo trạm Mỹ Tho 51
Hình 2.11: Kết quả hiệu chỉnh độ mặn (g/l) tính toán với thực đo trạm Sơn Đốc 51
Hình 2.12: Kết quả kiểm định mực nước tính toán với số liệu thực đo
trạm Chợ Lách tháng 4/2005 51
Hình 2.13: Kết quả kiểm định mực nước tính toán với số liệu thực đo
trạm Mỹ Tho tháng 4/2005 52
Hình 2.14: Kết quả kiểm định mực nước tính toán với số liệu thực đo
trạm Hòa Bình tháng 4/2005 52
Hình 2.15: Kết quả kiểm định độ mặn tính toán với số liệu thực đo
trạm Hòa Bình Ngày 20-22/ 4/2005 53
Hình 2.16: Kết quả kiểm định độ mặn tính toán với số liệu thực đo
trạm Lộc Thuận ngày 20-22/ 4/2005 53
Hình 2.17: Kết quả kiểm định độ mặn tính toán với số liệu thực đo
trạm Sơn Đốc ngày 20-22/ 4/2005 53
Hình 3.1: Minh họa vùng ngập nước 53
Hình 3.2: Sơ đồ quy trình xác định vùng ngập, xâm nhập mặn huyện Bình Đại,
tỉnh Bến Tre 56
5

Hình 3.3: Biểu đồ so sánh diện tích ngập
của các xã trong huyện Bình Đại với các

kịch bản KB_00, KB_22, KB_30 60
Hình 3.4: Biểu đồ so sánh diện tích ngập của các loại đất huyện Bình Đại với các

1.2.1. Tác động của biến đổi khí hậu đến cây trồng 20

1.2.2. Tác động của biến đổi khí hậu đến vật nuôi 20
1.2.3. Tác động của biến đổi khí hậu đến thủy sản 21

1.2.4. Kinh nghiệm ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng trong sản
xuất nông nghiệp 21

1.2.5. T
ổng quan các công trình nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu đến
sản xuất nông nghiệp của tỉnh Bến Tre 23

1.3. Các mô hình đánh giá ngập lụt và xâm nhập mặn 24

1.3.1. Mô hình MIKE 24

1.3.2. Các mô hình khác 26

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ
NĂNG NGẬP NƯỚC VÀ XÂM NHẬP MẶN TỈNH BẾN TRE ĐẾN NĂM 2050
27

2.1. Khái quát về địa bàn nghiên cứu 27

2.1.1. Điều kiện tự nhiên 27

2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 39

2.1.3. Hiện trạng và quy hoạch sử dụng đất 40


3.2. Đánh giá diện tích đất nông nghiệp bị ảnh hưởng bởi nước biển dâng của huyện
Bình Đại
58

3.2.1. Đánh giá về nguy cơ ngập 59

3.2.2. Đánh giá về nguy cơ xâm nhập mặn 62

3.3. Đề xuất giải pháp hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của nước biển dâng, xâm nhập
mặn và định hướng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Bình Đại, tỉnh Bến
Tre đến năm 2050 65

3.3.1. Nâng cấp hệ thống đê biển và đê vùng cửa sông 65

3.3.2.
Bảo đảm quy hoạch sử dụng sử dụng đất đáp ứng đáp ứng chiến lược phát

triển kinh tế-xã hội, an ninh quốc phòng và thích ứng với BĐKH 67

3.3.3. C
huyển dịch cơ cấu cây trồng và vật nuôi thích ứng với biến đổi khí hậu
67

3.3.4. Mở rộng diện tích, nâng cao chất lượng và bảo vệ hệ sinh thái rừng ngập
mặn, rừng phòng hộ 68

3.3.5. Phát triển ngành thủy sản thích ứng với biến đổi khí hậu 69

3.3.6. Một số định hướng sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2050 70


C vào mùa
mưa và 2,1
o
C vào mùa khô, lượng mưa hàng năm sẽ giảm 6,8% vào mùa khô và
tăng 15,1% vào mùa mưa. Nước biển dâng sẽ tăng thêm 12cm vào năm 2020 và
100cm vào năm 2100. Như vậy, nguy cơ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến các
ngành kinh tế của Việt Nam là rõ rệt và nghiêm trọng.
Vì là một nước nông nghiệp với phần lớn dân số tham gia và chủ yếu sống ở
vùng nông thôn, đối tượng sản xuất nông nghiệp lại nhạy cảm với các vấn đề về
môi trường, do đó ngành nông nghiệp sẽ là ngành chịu tác động nặng nề nhất do tác
động của biến đổi khí hậu.
Tuy nhiên, nghiên cứu về biến đổi khí hậu là một nội dung liên quan đến nhiều
lĩnh vực, đòi hỏi nghiên cứu trong thời gian dài. Do vậy mà hầu hết các nước đang
tiến hành tìm kiếm các giải pháp và hoàn thiện phương pháp nghiên cứu, đánh giá,
đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Việt Nam có một bờ biển dài (trên
3000 km) và hầu hết đất lúa đều nằm ở các vùng hạ lưu các con sông ven biển như
9

châu thổ đồng bằng sông Hồng (ĐBSH), đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), do
đó được cảnh báo là có nguy cơ cao về các ảnh hưởng tiêu cực của BĐKH như ngập
lụt, nhiễm mặn, xói mòn, rửa trôi, hạn hán và thiên tai. Ngoài ra, các biến đổi bất
thường khó dự báo trước về thời tiết, phân bố lượng mưa cũng có thể gây ra hạn
hán, ngập úng cục bộ,… Tất cả những hiện tượng cực đoan này đều ẩn chứa những
mối đe dọa to lớn đối với sản xuất nông nghiệp và đời sống, nơi mà đa số nông dân
nghèo và nguồn sống chính là dựa vào nông nghiệp,…
Xuất phát từ tình hình thực tế như vậy, việc nghiên cứu đánh giá vùng bị ngập
nước và xâm nhập mặn bởi nước biển dâng do biến đổi khí hậu phục vụ định hướng
sử dụng đất nông nghiệp cho các địa phương ven biển là một nhiệm vụ có tính cấp
thiết cao.
2. Mục tiêu nghiên cứu

văn, các điều kiện ban đầu và điều kiện biên của mô hình để giải hệ phương trình vi
phân Saint-Venant, tính toán truyền tải khuếch tán và lan truyền chất và mô phỏng
sự xâm nhập mặn vào hệ thống sông, kênh, trên địa bàn huyện Bình Đại.
- Phương pháp thống kê: dùng để tổng hợp số liệu, tìm ra quy luật của các hiện
tượng để từ đó đưa ra nhận xét, đánh giá.
6. Cơ sở tài liệu để thực hiện luận văn
Trên cơ sở nội dung nghiên cứu của đề tài cần phải tiến hành thu thập các tài
liệu sau phục vụ cho công tác nghiên cứu:
- Bản đồ địa hình tỉ lệ 1/5.000 của khu vực nghiên cứu.
- Số liệu khí tượng, thuỷ văn trên địa bàn tỉnh Bến Tre.
- Số liệu đo độ mặn tại các trạm thuỷ văn trong vùng.
- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất huyện Bình Đại.
- Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam năm 2012.
- Các tài liệu chuyên ngành.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được bố cục thành 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đến
sản xuất nông nghiệp.
Chương 2: Phân tích đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng ngập nước
và xâm nhập mặn tỉnh Bến Tre đến năm 2050.
Chương 3: Đánh giá các vùng ngập nước và xâm nhập mặn phục vụ định
hướng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre đến năm 2050.

11

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 1.1. Vấn đề biến đổi khí hậu và nước biển dâng

4
, N
2
O, HFCs, PFCs và
SF
6
[17]:
- CO
2
phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và là nguồn
khí nhà kính chủ yếu do con người gây ra trong khí quyển. CO
2
cũng sinh ra từ các
hoạt động công nghiệp như sản xuất xi măng và cán thép.
- CH
4
sinh ra từ các bãi rác, lên men thức ăn trong ruột động vật nhai lại, hệ
thống khí, dầu tự nhiên và khai thác than.
- N
2
O phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp.
- HFCs được sử dụng thay cho các chất phá hủy ozon (ODS) và HFC-23 là sản
phẩm phụ của quá trình sản xuất HCFC-22.
- PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm.
- SF
6
sử dụng trong vật liệu cách điện và trong quá trình sản xuất magiê.
Các biểu hiện của biến đổi khí hậu:
- Sự nóng lên của khí quyển và Trái đất nói chung.
- Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống

C) trong giai đoạn từ năm 1901-2000. Sự
gia tăng nhiệt độ đang trở nên phổ biến trên toàn cầu và tăng nhiều hơn ở khu vực
có vĩ độ Bắc cao. Khu vực đất liền nóng lên nhanh hơn so với các đại dương.
Những thay đổi về nồng độ khí nhà kính trong khí quyển, các sol khí, độ che phủ
đất và bức xạ mặt trời đã làm thay đổi sự cân bằng năng lượng của hệ thống khí
hậu. Lượng khí thải nhà kính trên toàn cầu do con người tạo ra đã tăng khoảng 70%
so với thời kỳ trước cách mạng công nghiệp trong khoảng thời gian từ 1970 đến
năm 2004.
b. Mực nước biển dâng
Thủy triều ở biển thay đổi theo thời gian là do tác động của Mặt trăng, Mặt
trời và các yếu tố khí hậu khác, trong đó tác động của Mặt trăng và Mặt trời là yếu
tố chính. Vì vậy, thủy triều ở biển lên xuống theo thời gian có tính chu kỳ ngày
đêm, nửa tháng, một tháng, một năm và nhiều năm.
Mực nước đỉnh triều, chân triều chịu sự tác động chính của Mặt trăng, Mặt trời
và các yếu tố khí hậu bình thường, ngoài ra còn chịu tác động của các yếu tố khí
hậu bất bình thường không mang tính quy luật nên rất khó cho việc nghiên cứu chu
kỳ nhiều năm. Mực nước trung bình là yếu tố có tính ổn định cao, ít bị ảnh hưởng
của những hiện tượng khí hậu bất thường. Vì vậy để nghiên cứu chu kỳ nhiều năm
người ta thường nghiên cứu sự biến đổi mực nước biển trung bình.
Ở Việt Nam có 3 trạm hải văn có số liệu nhiều năm là Hòn Dấu (Hải Phòng),
Sơn Trà (Đà Nẵng) và Vũng Tàu (Bà Rịa – Vũng Tàu). Thủy triều ở Hòn Dấu có
chế độ nhật triều ngày lên xuống một lần có biên độ lớn từ 4,0m – 4,5m và có thời
gian quan trắc dài từ năm 1961 đến năm 2006. Thủy triều ở Sơn Trà có chế độ bán
nhật triều ngày lên xuống hai lần có biên độ nhỏ từ 1,0 đến 2,0m. Thủy triều ở
Vũng Tàu có chế độ bán nhật triều ngày lên xuống hai lần có biên độ lớn từ 4,0m –
4,5 m, tài liệu quan trắc thu thập được từ năm 1982 đến năm 2007.
Trong 46 năm (từ 1961 đến 2006), nếu bỏ qua 4 năm (1961 đến 1964) nghi
ngờ có sai số thì mực nước trung bình năm cao nhất của trạm Hòn Dấu là 204cm
(năm 1984) và thấp nhất là 183cm (năm 1965) (cao độ Hải đồ).
Trong 25 năm (1982 - 2007) mực nước trung bình năm cao nhất của trạm

thấy sự gia tăng.
15

Sự gia tăng mực nước biển chủ yếu là do sự gia tăng mực nước đỉnh triều.
Theo quan hệ H max18 năm ~ T thì mỗi năm ở Hòn Dấu tăng khoảng 3,4 mm mỗi
năm và ở Vũng Tàu tăng khoảng 6,2 mm mỗi năm. Đây là một nhân tố gây ngập lụt
ở những vùng thấp trũng ở ĐBSCL.
Hình 1.1: Biến trình mực nước trung bình 10 năm tại Hòn Dấu và Vũng Tàu
(Nguồn: Nguyễn Đức Khâm, 2009 [7])

1.1.2. Các kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam
Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam đã được Bộ Tài
nguyên và Môi trường xây dựng và công bố năm 2012. Các tính toán trong kịch bản
đã khai thác tối đa các nguồn số liệu, dữ liệu, các điều kiện khí hậu cụ thể của Việt
Nam cập nhật đến năm 2010 và sản phẩm của các mô hình khí hậu, công cụ thống
kê được lựa chọn, xây dựng chuyên biệt cho Việt Nam. Các kịch bản biến đổi khí
hậu, nước biển dâng cho Việt Nam có mức độ chi tiết đến đơn vị hành chính cấp
tỉnh và các khu vực ven biển, đặc biệt là đã bổ sung một số yếu tố cực trị khí hậu,
phục vụ cho công tác tính toán thiết kế và quy hoạch.
Hình 1: Biến trình mực nước trung bình 5 năm tại Hòn Dấu và Vũng Tàu
16

a. Kịch bản biến đổi khí hậu đối với nhiệt độ
Theo kịch bản phát thải thấp, đến cuối Thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm
tăng từ 1,6 đến lớn hơn 2,2
o
C trên đại bộ phận diện tích phía Bắc (từ Thừa Thiên
Huế trở ra). Mức tăng nhiệt độ từ 1,0 đến 1,6
o
C ở đại bộ phận diện tích phía Nam

b. Kịch bản biến đổi khí hậu đối với lượng mưa năm
Theo kịch bản phát thải thấp, lượng mưa năm tăng đến 5% vào giữa Thế kỷ
21, và trên 6% vào cuối Thế kỷ 21. Mức tăng thấp nhất là ở Tây Nguyên, chỉ vào
khoảng dưới 2% vào giữa và cuối Thế kỷ 21.
Theo kịch bản phát thải trung bình, mức tăng phổ biến của lượng mưa năm
trên lãnh thổ Việt Nam từ 1 đến 4% (vào giữa Thế kỷ) và từ 2 đến 7% (vào cuối
Thế kỷ). Tây Nguyên là khu vực có mức tăng thấp hơn so với các khu vực khác trên
cả nước, với mức tăng khoảng dưới 1% vào giữa Thế kỷ và từ dưới 1 đến gần 3%
vào cuối Thế kỷ 21.
Theo kịch bản phát thải cao, lượng mưa năm vào giữa Thế kỷ tăng phổ biến từ
1 đến 4%, đến cuối Thế kỷ mức tăng có thể từ 2 đến trên 10%. Khu vực Tây
Nguyên có mức tăng ít nhất, khoảng dưới 2% vào giữa Thế kỷ và từ 1 đến 4% vào
cuối Thế kỷ 21[4].
17

c. Kịch bản nước biển dâng
Theo kịch bản phát thải thấp (B1): Vào cuối Thế kỷ 21, mực nước biển dâng
cao nhất ở khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 54 đến 72cm; thấp
nhất ở khu vực từ Móng Cái đến Hòn Dấu trong khoảng từ 42 đến 57cm. Trung
bình toàn Việt Nam, mực nước biển dâng trong khoảng từ 49 đến 64cm [4].
Bảng 1.1: Nước biển dâng theo kịch bản phát thải thấp (cm)
Khu vực
Các mốc thời gian của Thế kỷ 21
2020

2030

2040

2050

Hòn Dấu-
Đèo Ngang
8-9
11-
13
15-
17
19-
23
24-
30
29-
37
34-
44
38-
51
42-
58
Đèo Ngang-
Đèo Hải Vân
7-8
11-
12
16-
18
22-
24
28-
31

11-
13
16-
19
22-
26
29-
34
35-
42
42-
51
47-
59
53-
68
Mũi Kê Gà-
Mũi Cà Mau
8-9
11-
13
17-
19
22-
26
28-
34
34-
42
40-

18

Bảng 1.2: Nước biển dâng theo kịch bản phát thải trung bình (cm)
Khu vực
Các mốc thời gian của Thế kỷ 21
2020 2030 2040 2050 2060 2070 2080 2090 2100
Móng Cái-
Hòn Dấu
7-8
11-
12
15-
17
20-
24
25-
31
31-
38
36-
47
42-
55
49-
64
Hòn Dấu-
Đèo Ngang
7-8
11-
13

61
60-
71
Đèo Hải Vân-
Mũi Đại Lãnh
8-9
12-
13
18-
19
24-
26
31-
35
38-
44
45-
53
53-
63
61-
74
Mũi Đại Lãnh-
Mũi Kê Gà
8-9
12-
13
17-
20
24-

Mũi Cà Mau-
Kiên Giang
9-10
13-
15
19-
22
25-
30
32-
39
39-
49
47-
59
55-
70
62-
82
(Nguồn: Bộ TN&MT, 2012[4])
Theo kịch bản phát thải cao (A1FI): Vào cuối Thế kỷ 21, nước biển dâng cao
nhất ở khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 85 đến 105cm; thấp
nhất ở khu vực từ Móng Cái đến Hòn Dấu trong khoảng từ 66 đến 85cm. Trung
bình toàn Việt Nam, mực nước biển dâng trong khoảng từ 78 đến 95cm.
Bảng 1.3: Nước biển dâng theo kịch bản phát thải cao (cm)
Khu vực
Các mốc thời gian của Thế kỷ 21
2020

2030


Hòn Dấu- Đèo Ngang 8-9 12-14

16-19

22-27

30-36

38-47

47-59

56-72

82-94

Đèo Ngang-Đèo Hải Vân 8-9 13-14

19-20

26-28

36-39

46-51

58-64

70-79


48-55

59-70

72-85

79-99

Mũi Kê Gà-Mũi Cà Mau 8-9 13-14

19-21

26-30

35-41

45-53

56-68

68-83

85-
105
Mũi Cà Mau- Kiên Giang

9-10

14-15

C theo kịch bản
phát thải cao và 1,6
o
Cđến 2,2
o
C theo kịch bản phát thải thấp. Biên độ dâng cao mực
nước biển ở nước ta là khá lớn theo tất cả các kịch bản, mặc dù vậy vẫn chỉ là tương
đương hoặc thấp hơn chút ít so với dự báo của IPCC năm 2007.
BĐKH kéo theo hiện tượng El Nino, làm giảm đến 20-25% lượng mưa ở khu
vực miền Trung - Tây Nguyên, gây ra hạn hán không chỉ phổ biến và kéo dài mà
thậm chí còn gây khô hạn thời đoạn ngay trong thời gian El Nino. Tác động này ở
Nam Trung Bộ lớn hơn Bắc Trung Bộ, Bắc Tây Nguyên lớn hơn Nam Tây Nguyên
Với nguy cơ nước biển dâng cao do biến đổi khí hậu gây ảnh hưởng đối với
các cộng đồng dân cư ven biển là không thể tránh khỏi. Theo đánh giá của Chương
trình Phát triển Liên Hợp Quốc (năm 2007), Việt Nam nằm trong nhóm 5 nước
đứng đầu thế giới dễ bị tổn thương nhất trước sự biến đổi khí hậu. Nếu mực nước
biển tăng 1mthì sẽ có khoảng 39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long, trên 10%
diện tích đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, trên 2,5% diện tích tích thuộc các
tỉnh ven biển miền Trung và trên 20% diện tích Thành phố Hồ Chí Minh có nguy cơ
bị ngập; gần 35% dân số thuộc các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, trên 9%
dân số vùng đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, gần 9% dân số các tỉnh ven biển
miền Trung và khoảng 7% dân số Thành phố Hồ Chí Minh bị ảnh hưởng trực tiếp;
trên 4% hệ thống đường sắt, trên 9% hệ thống quốc lộ và khoảng 12% hệ thống tỉnh
lộ của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng [4].
20

1.2. Tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp
1.2.1. Tác động của biến đổi khí hậu đến cây trồng
Những thay đổi về nhiệt độ, lượng carbon dioxide (CO
2

1
-65,27

-0,18

- 65,27

-0,18

1.2. Giảm sản lượng do suy giảm
tiềm năng năng suất
-1.966,6

-8.10

-3.634,7

-14.97

- Lúa xuân -1.222,8

-7,93

-2.159,3

-14,01

- Lúa hè thu -743,8

-8,40

Thiệt hại sản lượng lúa do thiên tai tạm tính bằng mức bình quân chung giai đoạn 1989-2008, dựa vào
nguồn số liệu của Bộ NN&PTNT, 1989-2008
21

động chăn nuôi. Trong khu vực có lượng mưa tăng, độ ẩm - tác nhân gây bệnh phụ
thuộc có thể phát triển mạnh [19].
1.2.3. Tác động của biến đổi khí hậu đến thủy sản
Nước biển dâng làm cho môi trường nước thay đổi. Nhiệt độ nước biển tăng
gây bất lợi về nơi cư trú của một số thủy sản, quá trình khoáng hóa và phân hủy
nhanh hơn ảnh hưởng đến nguồn thức ăn của sinh vật, làm cho thủy sinh tiêu tốn
hơn trong quá trình hô hấp và hoạt động khác, ảnh hưởng đến năng suất và chất
lượng thương phẩm của thủy sản; thúc đẩy quá trình suy thoái của san hô hoặc thay
đổi quá trình sinh lý và sinh hóa trong quan hệ cộng sinh giữa san hô và tảo. Làm
thay đổi về vị trí, cường độ dòng triều, các vùng nước trồi và gia tăng tần số, cường
độ bão cũng như các xu thế nhiễu động và các xoáy nhỏ. Cường độ bão tăng kết
hợp với mưa bão tăng, nồng độ muối giảm ảnh hưởng đến sinh thái của một số loài
nhuyễn thể.
Hàm lượng ôxy trong nước giảm nhanh, làm chậm tốc độ sinh trưởng của thủy
sản, tạo điều kiện bất lợi cho các thủy sinh đã thích nghi với môi trường thủy sản từ
trước đến nay, giảm lượng thức ăn của thủy sinh. Các điều kiện thủy lý và thủy hóa
có thể thay đổi, ảnh hưởng đến chất lượng sống và tốc độ phát triển của thủy sinh.
Mất nơi sinh sống thích hợp của một số loài thủy sản nước ngọt trong các rừng ngập
mặn. Ao hồ cạn kiệt trước thời kỳ thu hoạch, sản lượng nuôi trồng giảm đi rõ rệt.
Biến đổi khí hậu gây suy giảm sản lượng và chất lượng thủy sản biển cũng
như thủy sản nước ngọt, diện tích nuôi trồng thủy sản, thời gian đánh bắt và năng
suất khai thác nghề cá trên biển. Chi phí tu sửa, bảo dưỡng, xây dựng mới bến bãi,
cảng cá, ngư cụ, tàu thuyền đều gia tăng đáng kể [19].
1.2.4. Kinh nghiệm ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng trong sản
xuất nông nghiệp
Một số biện pháp thích ứng với BĐKH đã được áp dụng cho nông nghiệp tại

dịch rầy nâu trong những năm trước đây đã phá hoại một diện tích rất lớn lúa của
đồng bằng sông Cửu Long. Do vậy, vùng ĐBSCL tìm các giải pháp thích ứng cụ
thể như sau:
+ Thời vụ hóa các công thức luân canh:
Công thức luân canh mới được hình thành từ khoảng năm 2004 với công thức
chính là: lúa đông xuân (tháng 11-tháng 2) - lúa mùa sớm (tháng 3-tháng 5) - lúa
mùa trung (tháng 6-tháng 8) – lúa mùa muộn (tháng 9 - tháng 11). Đây là công thức
luân canh tốt nhất cho cả vùng, tuy nhiên công thức luân canh phổ biến hiện nay là
23

3 vụ lúa bởi vì từ giữa tháng 9 mùa mưa bắt đầu kèm theo nước biển dâng và lũ từ
đầu nguồn sông Cửu Long kéo về. Công thức luân canh mới có tác dụng rất lớn
trong việc ngăn chặn được sự lan truyền và kế thừa sâu bệnh, góp phần ổn định
năng suất và sản lượng lúa của vùng. Tuy nhiên phụ thuộc vào độ thích nghi cây
trồng mà người nông dân có thể bố trí các công thức luân canh với thu nhập khác
nhau, ví dụ có thể thay thế 1 hoặc 2 vụ lúa bằng các loại cây trồng khác như dưa
hấu, đậu tương, lạc với thu nhập cao hơn trồng lúa [20].
+ Mô hình lúa - cá:
Mô hình này ngày càng được áp dụng phổ biến ở vùng Đông Nam Bộ và đồng
bằng sông Cửu Long. Tại các vùng này vào mùa mưa, mực nước biển lại dâng cao,
kết hợp lũ thượng nguồn, diện tích ngập lụt ngày càng tăng, khả năng canh tác bị
hạn hẹp, năng suất bấp bênh. Từ công thức luân canh cũ là 3 vụ lúa, ngày nay người
nông dân mạnh dạn chuyển vụ lúa 3 sang nuôi cá ngay trên đồng ruộng của mình
bằng cách dùng lưới quây xung quanh ruộng. Cá có thể được thu hoạch vào cuối
mùa mưa, khi nước rút xuống và đất lại được sử dụng cho việc trồng lúa. Vụ cá này
có thể có thu nhập cao hơn so với vụ lúa 3 [20].
1.2.5. Tổng quan các công trình nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu đến
sản xuất nông nghiệp của tỉnh Bến Tre
Trước tình hình biến đổi khí hậu và nước biển dâng có thể ảnh hưởng nghiêm
trọng đến ngành sản xuất nông nghiệp và đời sống của người dânvùng Đồng bằng

chảy và chất lượng nước xuất phát từ hệ phương trình Saint - Venant một chiều (ở
các dạng khác nhau) và các phương trình lan truyền chất một chiều. Tuy nhiên, sơ
đồ và thuật toán giải các hệ phương trình này lại khác nhau tùy thuộc vào lựa chọn
của tác giả của từng mô hình, từ đó độ chính xác của kết quả cũng như thời gian
tính toán có khác nhau.
1.3.1. Mô hình MIKE
Phần mềm tạo mô hình mô phỏng dòng chảy và chất lượng nước có tính
thương mại rất phổ biến trên thế giới là bộ MIKE, trong đó có MIKE11 (với modul
thủy lực HD, modul tính mặn, chất lượng nước AD, ECOLAB,…). Đây là bộ phần
mềm của viện DHI Đan Mạch được ứng dụng, nghiên cứu cho dự án quy hoạch và
quản lý tài nguyên nước và phòng chống thiên tai tại nhiều nước trên thế giới như
Nhật Bản, Thái Lan, Bangladesh,… Trong khuôn khổ của Dự án tăng cường năng
lực các viện ngành nước ở Việt Nam, DHI đã đào tạo và chuyển giao bản quyền cho
một số cơ quan ngành nước thuộc Bộ NN&PTNT
25

Để tính toán dòng chảy trên các sông, kênh, MIKE11 sử dụng hệ phương trình
Saint- Venant một chiều và sử dụng sơ đồ sai phân 6 điểm xen kẽ Q, H của Abbott
và Ionescu; tài liệu địa hình được cho tại các mặt cắt tính H; vận tốc u được tính tại
điểm Q. Hệ phương trình sai phân được giải trực tiếp và bằng phương pháp lặp, vì
vậy tốc độ tính toán chậm và cần có kinh nghiệm xử lý khi tạo điều kiện ban đầu
(hotstart file).
Trong modul AD đã sử dụng phương pháp sai phân hữu hạn cho phương trình
lan truyền chất một chiều, vì thế thường gặp hiện tượng khuếch tán số ảnh hưởng
đến độ chính xác của kết quả như nồng độ có khi bị âm hoặc không có nguồn chất
trong miền mà nồng độ trong miền cao hơn giá trị ở biên,…
Để sử dụng công cụ GIS, trong MIKE11 đã dùng kết hợp với bộ phần mềm
ArcView/ArcGIS để tổ chức cơ sở dữ liệu và biểu diễn kết quả. MIKE11 có các ưu,
nhược điểm sau[18]:
Ưu điểm:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status