CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHÍA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
*************
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI: MỘT SỐ TRÒ CHƠI HỌC, MÔN TOÁN NHẰM GÂY
HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH LỚP 1
I/ THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI CÓ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1.Thuận lợi:
- Đại đa số học sinh ở gần trường và nằm ở khu vực trung tâm, nên nhận thức
của HS cũng như sự quan tâm của phụ huynh đến con em mình có phần chu
đaó hơn.
- Trường học là nơi trung tâm nên đi lại thuận tiện. Cơ sở vật chất và trang thiết
bò cho lớp học tương đối đầy đủ. Bản thân là giáo viên dạy lâu năm ở lớp đầu cấp. HS
đầy đủ đồ dùng, sách vở để học tập.
2.Khó khăn:
- Đòa hình trường đóng trên đòa bàn có buôn đồng bào dân tộc.Đa số phụ huynh đi
làm nương rẫy xa, ù nhiều phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của
con mình. Còn phó mặc cho nhà trường và giáo viên chủ nhiệm.
II/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
- Phát triển trí tuệ cho học sinh tiểu học là một trong những vấn đề được quan
tâm hàng đầu của hầu hết các quốc gia, của những bậc phụ huynh và thầy cô giáo.
Cùng với tất cả các môn học khác trong chiến lược phát triển toàn diện, có thể nói
Toán học đóng vai trò hết sức quan trong. Nó rèn luyện cho các em không phải đơn
thuần là tinmhs toán, mà điều chủ yếu là năng lực tư duy. Chính bởi tư duy sâu sắc
mà các em mới có thể nhanh nhẹn nhạy bén hơn trong nhiều môn học khác. Rèn
luyện Toán học không có nghóa đơn giản là kì vọng các em trở thành nhà toán học,
mà chính là rèn luyện tư duy cho các em trở nên linh hoạt hơn khi tiếp cận những vấn
đề trong nhà trường hoặc ở cương vò nào trên bước đường mai sau.
- Vì vậy muốn các em học tốt môn toán trước hết phải tạo cho các em những say
mê và hứng thú với môn học. Trên quan điểm đó người giáo viên cần lựa chọn những
phương pháp dạy học nào cho phù hợp để phát huy tính hiệu quả cao nhất trong từng
nhưng trò chơi tốn học khác với trò chơi “phi tốn học” ở chỗ ít nhiều phải chứa trong
đó một yếu tố kiến thức tốn học nào đó. Trò chơi tốn học cũng có thẻ là trò chơi tập thể
hoặc cá nhân thường kết hợp cả hai vận động lẫn trí tuệ. đối với các lóp dưới, trò chơi
tốn học nặng nề về vận động, càng lên lớp cao, lính trí tuệ càng phải cao hơn.
- Trong nhà trường, trò chơi tốn hcọ có thể tổ chức một hoạt động dạy tốn. Cơ sở
tâm lí và sinh lí khẳng định hoạt động dạy tốn dưới dạng trò chơi tốn học rất phù hợp
với lứa tuổi tiểu học. thực tế cho thấy hình thức tổ chức của trò chơi tốn học rất dễ được
học sinh hưởng ứng và tích cự tham gia.
- Xét về mục đích phục vụ dạy học nói chung, trò chơi tốn học có thể là:
+ trò chơi nhằm dẫn dắt hình thức tri thức mới.
+ trò chơi nhằm củng cố kiến thức, luyện tập kĩ năng.
+ trò chơi nhằm ơn tập, rèn luyện tư duy trong giờ học ngoại khố.
- Nếu phân loại trò chơi theo mạch kiến thức của tốn học ta có thể nói tới,chẳnghạn:
+ trò chơi tính tốn.
+ trò chơi hình học( vẽ hình, đếm hình, cắt, ghép hình…)
+ trò chơi gắn với hoạt động đo đại lượng…
+ trò chơi về giải tốn, giải đố.
+ trò chơi về rèn luyện trí thơng minh…
2. tác dụng của trò chơi học tập:
- Làm thay đổi hình thức hoạt động học tập. Học sinh tiếp thu kiến thức tự giác
và tích cực hơn trong các hợt động đa dạng, hứng thú. Học sinh thấy vui hơn, cởi mở
hơn, thư thái, dễ chòu và khoẻ hơn.
- Giúp học sinh rèn luyện củng cố tiếp thu kiến thức đồng thời phát triển vốn
kinh nghiệm mà các em đã được tích luỹ thông qua hoạt động chơi.
- Rèn luyện kó năng, kó xảo, thúc đẩy trí tuệ. Nhờ sử dụng trò chơi học tập mà
quá trình dạy và học trở thành một hoạt động vui và hấp dẫn hơn, các cơ hội học tập
đa dạng hơn.
- Đối với học sinh không có phương tiện nào giúp các em phát triển một cách tự
nhiên, có hiệu quả, rèn luyện tính tự chủ bằng trò chơi học tập.
- Qua chơi, các em biết tự kiềm chế, được tham gia hoạt động tích cực. Trò chơi
+ Mục đích: nêu rõ mục đích của trò chơi nhằm ôn luyện, củng cố kiến thức, kó
năng làm.
Ví dụ: củng cố kó năng thực hiện phép cộng, trừ…
- Mục đích của trò chơi quy đònh hành động được thiết kế trong trò chơi.
+ Luật chơi: chỉ rõ các quy đònh đối với người chơi, quy đònh thắng thua trong trò
chơi.
+ Đồ dùng, đồ chơi: mô tả đồ dùng, đồ chơi được sử dụng trong trò chơi.
Ví dụ: xúc xắc, bàn cờ, hình, lá cờ…
+ Số người tham gia chơi: chỉ rõ số người tham gia chơi, những trò chơi có thể tổ
chức cho nhiều người chơi, chẳng hạn 2 hoặc 4 người… cần được chỉ rõ.
+ Cách phát triển trò chơi: chỉ ra số cách biến thể trò chơi. Dựa vào hình thức,
cách chơi và luật chơi của trò chơi có sẵn, ta có thể thay thế các trò chơi một cách linh
hoạt tạo nhiều trò chơi phù hợp với đối tượng học sinh, phù hợp với nội dung kiến
thức cuãng cố ôn luyện.
b/ Cách tổ chức trò chơi:
- Các trò chơi được tổ chức theo nhóm ở trong lớp học với thời gian từ 5 đến 20
phút.
- Việc chuẩn bò các trò chơi đơn giản, dễ làm, dễ tìm (quy trình, bìa giấy cũ
được dán, mẫu giây thép, sợi dây, bông hoa giấy hình…)
- Giáo viên phải hướng dẫn cụ thể cách chơi rồi sau đó các nhóm tự đánh giá,
giám sát lẫn nhau. Ngoài ra, giáo viên phải có nhận xét, khích lệ, cũng không nên để
thời gian chơi quá dài ảnh hưởng đến giờ học.
- Một chương trình học tập thường được tiến hành.
+ Giới thiệu chương trình:
Nêu tên chương trình.
Hướng dẫn cách chơi. Vừa mô tả vừa thực hành.
Phân nhóm chơi.
• Chơi thử (nhiều trường hợp có thể bỏ qua)
• Nhấn mạnh luật chơi, nhất là những lỗi thường gặp ở phần chơi thử.
• Chơi thật, xử “phạt” những người vi phạm luật chơi.
tổ chức trò chơi hoặc trò chơi không hấp dẫn.
- đây, ưu thế của trò chơi chính là trẻ trung hoạt động m sức lực của mình
một cách hào hứng, tự nguyện nên không tạo ra áp lực tâm lý, mà người cảm thấy rất
tự do, khám phá và làm nảy sinh nhiều sáng kiến. Bên cạnh đó, tiến hành các hoạt
động chơi là nắm lấy phương thức hành động chung, điển hình, khái quát của những
hoạt động thân thể hay tâm lý cụ thể. Những phương thức đó vừa là công cụ, phương
thức giúp trẻ chinh phục thế giới xung quanh, vừa là cơ sở để trẻ học được cách điều
khiển hành vi, cách bắt hành vi tuân theo một nhiệm vụ nhất đònh. Tức là rèn luyện
để có tính tự đònh, một trong nhõng cấu tạo tâm lí. Nhờ vậy, được phát huy và phát
triển hết khả năng của mình. Hơn thế nữa, khi say sưa và sống hết mình cho trò chơi,
trẻ sẽ tìm thấy niềm vui sướng thật sự và được sống trong thế giưói của cảm giác dạt
dào dấu ấm của những cuộc chơi.
- Vì vậy, lắng đọng mãi trong tâm trí trẻ và làm nên nguồn sức mạnh thôi thúc
trẻ sống tốt hơn, học tốt hơn và phát triển tốt hơn. Với sức mạnh như vậy trò chơi luôn
luôn là phương tiện dạy học và giáo dục phù hợp với đặc điểm mong muốn của học
sinh tiểu học.
IV/ MỘT SỐ YẾU TỐ CƠ BẢN TRONG CHƯƠNG TRÌNH LỚP 1:
1. Các biểu tưởng ban đầu:
- Nhằm củng cố biểu tượng về trước, sau, phải, trái, cao, thấp.
2. Số học và yếu tố đại số:
a. Các số đếm 10, phép cộng và phép trừ trong phạm vi 10:
- Nhận biết quan hệ số lượng (nhiều hơn, ít hơn).
- Đọc, đếm, viết, so sánh các số đến 10. sử dụng các dấu =, >, <.
- Giới thiệu ban đầu về phép cộng ; trừ
- Bảng cộng, trừ trong phạm vi 10
- Giới thiệu ban đầu về tính chất giao hoán của phé cộng, trừ.
b. Cấc số đến 100, phép cộng và phép trừ trong phạm vi 100
- Đọc, đếm, viết, so sánh các số đến 100 . Giới thiệu cấu tạo thập phân của số, tia
số
- Phép cộng và phép trừ không nhớ trong phạm vi 100; tính nhẩm và tính viết.
chân trước đi trước”, em thõng hai tay giả vờ làm dôi chân trước. Khi hát câu: “hai
chân sau đi sau”, em dậm hai chân xuống đất làm hai chân sau. Khi hát câu: “còn cái
đưới đi sau rốt”, em chụm tay trái lại đưa về đằng sau vẫy vẫy giả làm đuôi. Sau khi
hát xong, em trở về chỗ. Một em khác thay và cứ tiếp tục như vậy, hết em này đến
em khác.
Trò chơi sẽ thú vò hơn nếu hai, ba hoặc tổ cùng hát và giả làm con voi thi
xem nhóm nào làm voi đều hơn.
b. Trò chơi 2: “XẾP HÀNG”
- Mục đích: luyện tập để củng cố các biểu tượng: cao, thấp, trước, sau, bên trái,
bên phải, ở giữa.
- Chuẩn bò: một số bông hoa (có thể là hoa giấy hoặc lá cờ); nơi chơi đủ rộng cho
3 tổ cùng chơi.
- Cách chơi: mỗi tổ cử ra hai người có chiều cao khác nhau, đứng thành 1 nhóm.
Các nhóm đứng không xa nhau trước mặt giáo viên.
Giáo viên ra lệnh : xếp hàng dọc, thấp đứng trước, cao đứng sau.
Các nhóm nhanh chóng xếp hàng theo mệnh lệnh. Nhóm nào xếp đúng lệnh và
xong trước thì được thưởng hai bông hoa (hoặc 2 lá cờ); nhóm xếp sai lệnh thì không
được thưởng.
Sau đó 3 em về chỗ, mỗi tổ cử 3 em khác ra chơi. Cách chơi tương tự, nhưng với
các lệnh khác, ví dụ như:
- Xếp hàng dọc, thấp nhất đứng ở giữa, cao đứng sau cùng.
- Xếp hàng ngang, thấp nhất dứng giữa, cao nhất đứng bên trái em thấp nhất.
- ………
Tổ nào được thưởng nhiều hoa (hay lá cờ) hơn thì thắng cuộc.
2. Những trò chơi củng cố nội dung số học và tất yếu đại số :
a. Trò chơi 3: “TÌM TÊN CON VẬT NHANH”
- Mục đích: củng cố khả năng liên hệ thực tế của học sinh sau khi đã học các số
1,2,3,4……
- Chuẩn bò: Học sinh tự nghó tên các con vật khác nhau có bốn chân.
- Cách chơi: có thể cử hai học sinh, mỗi nhóm 5 em. Giáo viên nêu yêu cầu:
sau giờ học.
Cách chơi: cử hai đội mỗi đội chơi 5 em tiếp sức. Hai đội sẽ phải nhanh chóng ghi
đúng sai vào các phép tính mà giáo viên ghi trên bảng phụ.
Luật chơi: đội nào làm nhanh, đúng sẽ thắng.
Bảng phụ: 9 - 4 = 4 7 + 1 = 8
6 + 1 = 7 2 + 7 = 9
8 – 8 = 0 9 – 2 = 6
e. Trò chơi 7: “GIEO SÚC XẮC VÀO BÀN TÍNH”
- Mục đích : Luyện tập cộng trừ theo bảng
- Chuẩn bò : 2 con súc xắc
- Cách chơi: 2 đội chơi, 2 đội có số người bằng nhau. Số người của mỗi đội bằng
bao nhiêu tuỳ ý. Đội thứ nhát cử 1 đại diện và gieo 2 quân súc xắc : chảng hạn
được 2 , 3 va 5 người đó tính nhẩm va nói to 3 = 5 = 8, 5 – 3 = 2
1+4 3+2 5-1 5-2 5-0
3 5 4 3 5
Đội thứ 2 cử người ra làm tương tự. Cứ như vậy đại diện 2 đội lần lượt gieo súc sắc
và tính nhẩm. Mỗi bên làm đúng hai phép tính thì sẽ được 1 điểm, mỗi lần sai 1
phép tính thì bò trừ 1 điểm. Nếu tổng kết quả bằng 10 thì được thêm một điểm.
Sau người cuối cùng đội nào có tổng số điểm lớn hơn là thắng cuộc.
Lưu ý: GV có thể sửa đổi trò chơi cho pjù hợp với vòng số và phép tính đang học.
e. Trò chơi 8: “ ĐUA NGỰA”
- Mục đích: Rèn luyện khả năng tư duy linh hoạt
- Chuẩn bò: Một băng giấy dài 25 ô, 2 ngựạ¨ khác màu của bộ cá ngựa¨, hoặc 2
vật tượng trưng cho ngựa
- Cách tiến hành: Mỗi lần 2 người chơi. Mỗi người chọn một ngựa¨. 2 ngựa cùng
tiến vào giữa. Bốc thăm để chọn người đi trước. Mỗi bên đi (tiến hoặc lùi) ít
nhất 1 ô, nhiều nhất 3 ô. 2 bên tính toán sao cho đến lượt, phải đi đối phương
không còn ô để tiến thì mình thắng cuộc.
3. Những trò chơi củng cố hình học
a.Trò chơi 9:” HÌNH GÌ BIẾN MẤT”
Ai đạt điểm đó chẳng ngoan chút nào?
4. Đố em biết được số nào
Điểm thi được nó thở phào thật may!
Số đo-ù viết ngược, lạ thay
Cả lớp khen giỏi vỗ tay rào rào?
5. Hai o xinh xắn
Xếp chồng lên nhau
Em hãy đoán mau
Đó là số mấy?
6. Bạn Hà hái được 6 bông hoa, bạn Hà hái được hơn bạn Huệ 2 bông. Hỏi Huệ
hái được mấy bông hoa?
7. nam và Việt rủ nhau đi hái mận. Việt hái được 15 quả. Nam hái được hơn 10
quả nhưng chắc chắn ít hơn Việt. Đố bạn đoán được Nam hái được bao nhiêu
quả mận
8. Bạn An nghó một số mà đó từ 1 đến 5. an cộng số đó với 5 được bao nhiêu cho
4 , rồi lại đem trừ tiếp cho số đã nghó, An nói rằng kết quả cuối cùng là 1 . hỏi
an nói đúng hay sai?
9. Mỗi góc phòng có một chú mèo. Trước mặt mỗi chú có 3 chú mèo khác. Hỏi
trong phòng có mấy chú mèo?
10. Trên cây có 5 con chim. Một người thợ săn bắn trúng 1 con chim làm nó rơi
xuống đất. Hỏi trên cây còn lại bao nhiêu con chim?
VI. KẾT QUẢ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Trong suốt thời gian áp dụng phương pháp dạy hocï “Gây hứng thú học toán
cho học sinh lớp 1 thông qua các trò chơi học tập” vào thực tế giảng dạy tôi thấy trò
chơi học tập là các trò chơi có mục đích rõ rệt. Nó là dấu ấn của những trò chơi lắng
đọng trong tâm hồn trẻ thơ và làm nên một nguồn sức mạnh thôi thúc trẻ sống tốt, học
tập tốt hơn và phát triển khả năng tư duy của trẻ. Chính vì vậy màhọc sinh tiếp thu bài
một cách tốt hơn, chủ động hơn và tự nhiên thấy hứng thú với việc học toán. Tránh
được tình trạng học vẹt và tư duy thụ động, máy móc, rập khuôn, kho cứng…
Trên đây là một số kinh nghiệm tôi rút ra từ giảng dạy môn toán. Rất mong sự