SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
" MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 6
ĐỌC-HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC"
A. MỞ ĐẦU
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Thực trạng trong dạy học Văn nói chung và của trƣờng THCS Ân Tƣờng
Tây hiện nay
Trong nhà trường phổ thông, môn Ngữ văn có một vị trí quan trọng trong việc nâng
cao chất lượng giáo dục. Theo kết quả thăm dò ý kiến, trao đổi với các thầy cô giáo dạy
văn ở đơn vị và các trường trong huyện, chất lượng học văn những năm gần đây ngày
càng giảm sút. Tình trạng học sinh không còn hứng thú học văn đã trở thành hiện tượng
phổ biến trong nhà trường. Nhiều giáo viên dạy văn phàn nàn, khổ tâm vì học sinh không
chịu học văn. Hiện tượng ấy là do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân thuộc về
giáo dục nhà trường, thuộc về chất lượng của môn Văn, một môn học có trách nhiệm rất
lớn đối với thế giới tinh thần của các em. Qua thực tế giảng dạy văn, tôi nhận thấy các em
chưa có thói quen chủ động tìm hiểu khám phá bài học, chưa có nhu cầu tự thân bộc lộ sự
hiểu biết, cảm nhận văn học. Trước những vấn đề văn học cần bộc lộ quan điểm, các em
thường dựa vào cách hiểu, cách cảm, cách đánh giá của người khác. Nhiều giáo viên chưa
mạnh dạn đổi mới cách dạy học, còn thuyết trình nhiều, chưa chú ý đến khả năng tích cực
sáng tạo trong nhận thức và cảm thụ văn học của học sinh, còn áp đặt, buộc học sinh phải
thừa nhận, học thuộc. Vậy làm thế nào để giúp học sinh yêu thích, có hứng thú khi tiếp
nhận và cảm thụ văn học, trách nhiệm của người giáo viên dạy văn hãy chỉ dẫn và mở ra
cho các em con đường đến với văn học. Đối với học sinh, đặc biệt đối tượng học sinh lớp
6, lứa tuổi hồn nhiên, ngây thơ chưa hiểu nhiều về cuộc sống, cũng như chưa có kinh
nghiệm sống thì không dễ dàng nhìn thấy, cảm nhận ngay cái hay, cái đẹp, giá trị cuộc
sống trong từng văn bản. Trước thực trạng đó, tôi luôn trăn trở, suy nghĩ và tìm ra giải
học, bản thân giáo viên phải chủ động, sáng tạo tìm ra những biện pháp, cách tổ chức
hướng dẫn quá trình học tập cảm thụ văn học của học sinh một cách có hiệu quả. Nhiệm
vụ của người giáo viên dạy văn là phải chỉ ra cho học sinh con đường tích cực chủ động
khám phá, tìm hiểu, cảm thụ văn bản; đánh thức niềm đam mê văn chương, khơi dậy tâm
hồn văn học ở các em. Chỉ có đam mê, yêu thích thì học sinh mới có hứng thú, nhu cầu
đọc, khám phá và cảm thụ tốt văn bản.
1.2.
Cơ sở thực tiễn
Ngày nay cùng với sự phát triển và đi lên của xã hội, chúng ta được sống trong môi
trường văn minh, hiện đại nhưng kèm theo là những vấn đề nảy sinh làm ảnh hưởng ít
nhiều đến đời sống xã hội. Đạo đức học sinh xuống cấp, quan niệm không đúng về các
môn học, chú trọng các môn học tự nhiên, xem nhẹ các môn học xã hội, trong đó có môn
Văn; thầy cô chưa mạnh dạn, chưa đồng bộ đổi mới phương pháp dạy học.
Đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề đang được xã hội quan tâm, là nhiệm vụ mà
Đảng và Nhà nước giao cho ngành Giáo dục & Đào tạo. Người giáo viên phải hiểu rằng
bản chất của đổi mới phương pháp dạy học là lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên chỉ
đóng vai trò hướng dẫn để học sinh tìm tòi, khám phá, chiếm lĩnh kiến thức. Trong dạy
văn, đổi mới phương pháp là làm cho học sinh không những tự tìm ra con đường phân
tích, đánh giá, thưởng thức, rèn luyện các kĩ năng văn học mà còn tự rút ra cho mình
những bài học sâu sắc về tư tưởng, tình cảm, lối sống. Đổi mới phương pháp là một yêu
cầu bắt buộc đối với giáo viên. Muốn giải quyết được những vấn đề còn hạn chế trong
dạy học văn, cần phải đổi mới phương pháp dạy học. Sự đổi mới đó có thể được giải
quyết ở nhiều khía cạnh, nhiều bình diện khác nhau. Ở đề tài này, tôi xin trình bày vấn đề
là tìm ra một số giải pháp giúp học sinh lớp 6 hứng thú, chủ động đọc - hiểu, cảm thụ tốt
văn bản văn học.
2. Các biện pháp tiến hành, thời gian tạo ra giải pháp của đề tài
Cách tổ chức hình thức học tập thể hiện tính mới của đề tài
Bức tranh cuộc sống hiện thực và diện mạo tinh thần con người trong văn học bao giờ
cũng chứa đựng sự đánh giá của nhà văn về cuộc sống. Sự đánh giá hiện thực cuộc
sống thể hiện cách nhìn riêng, quan điểm riêng của người nghệ sĩ. Bằng tác phẩm của
mình, người nghệ sĩ thường gợi lên ở người đọc những suy nghĩ và tình cảm về cuộc
sống. Hiểu được điều người nghệ sĩ muốn nói, muốn gửi gắm là điều không đơn giản và
dễ dàng, nhất là với học sinh lớp 6. Theo kết quả thăm dò ý kiến và khảo sát chất lượng
đầu năm của học sinh lớp 6 trong nhà trường, môn học các em thấy khó nhất, yếu nhất là
môn Ngữ văn, cụ thể phân môn văn học. Làm thế nào để các em giảm được nỗi lo lắng,
để các em tìm thấy được bao điều tốt đẹp, ý nghĩa của cuộc đời qua những giờ văn học?
Tôi đã tìm ra một số hình thức học tập sau nhằm tạo cho học sinh sự hứng thú, yêu thích
văn học, từ đó khao khát khám phá, cảm thụ văn bản.
a.
Tạo sự hứng thú trong phần giới thiệu bài mới
Phần giới thiệu bài mới còn gọi là phần khởi động. Khi hướng dẫn học sinh tiếp nhận
văn bản, nhiều khi giáo viên chúng ta sợ mất thời gian nên bỏ qua phần này. Phần giới
thiệu bài chưa phải là phần trọng tâm của bài mới nhưng nó là phần không thể thiếu vì
một lời mở đầu bài học hấp dẫn sẽ tạo được sự hứng thú, gây cho người nghe cảm giác,
ấn tượng ban đầu về văn bản, tạo tâm thế, tâm lí cần có cho quá trình thâm nhập và khám
phá văn bản. Chính vì vậy giáo viên không nên bỏ qua phần giới thiệu bài. Để lôi cuốn
học sinh, giáo viên nên có nhiều cách giới thiệu bài mới như: Giới thiệu bài bằng cách đặt
câu hỏi, dựa vào ý nghĩa, nội dung văn bản, dùng tranh ảnh minh họa dẫn vào bài, nhắc
lại vấn đề đặt ra trong bài cũ rồi dẫn vào bài mới hoặc giới thiệu bài mới thông qua mẫu
chuyện ngắn... Lời giới thiệu bài cần ngắn gọn, nhẹ nhàng, gây hứng thú cho học sinh,
Học sinh của nhóm khác sẽ trả lời: da vàng chủ yếu ở châu Á, da trắng ở châu Âu, da
đen ở châu Phi, da đỏ ở châu Mĩ.
Học sinh dẫn vào bài: Loài người trên thế giới có nhiều màu da khác nhau. Dù là màu
da gì thì loài người đều phải sống chung với thiên nhiên, dựa vào thiên nhiên. Nhưng
cách đối xử với thiên nhiên có giống nhau không? Chúng ta hãy tìm hiểu văn bản “Bức
thƣ của thủ lĩnh da đỏ”.
Hoăc hai học sinh của nhóm dẫn giới thiệu: Tôi là người châu Á, bạn tôi là người
châu Âu. Đại diện nhóm dẫn hỏi học sinh nhóm khác: Các bạn là người châu lục nào? Sau
câu trả lời của các nhóm, học sinh dẫn vào bài: Chúng tôi và các bạn sống ở những châu
lục khác nhau. Dù ở đâu thì loài người chúng ta đều phải sống chung với thiên nhiên, dựa
-
vào thiên nhiên. Nhưng cách đối xử với thiên nhiên có giống nhau không? Chúng ta hãy
tìm hiểu văn bản “Bức thƣ của thủ lĩnh da đỏ”.
Giới thiệu bài bằng cách dựa vào ý nghĩa, nội dung tác phẩm
Văn bản “Bức thư của thủ lĩnh da đỏ” là một văn bản hay. Văn bản ra đời đã lâu nhưng
đến nay vẫn còn ý nghĩa giá trị. Qua việc từ chối chuyện mua đất, bán đất, thủ lĩnh Xi-áttơn đã thể hiện tình yêu quê hương, tình cảm yêu quý gắn bó với thiên nhiên thắm thiết
của người da đỏ. Thấm đẫm trong bức thư là những lời tâm huyết đầy sức thuyết phục
của thủ lĩnh. Để hiểu rõ hơn nội dung của thư, chúng ta tìm hiểu bài học.
Giới thiệu bài bằng cách hóa thân vào nhân vật
Người dẫn hóa thân vào nhân vật Dế Mèn: Xin chào các bạn! Mình là Dế Mèn đây. Mình
muốn hỏi các bạn có bao giờ các bạn làm điều gì khiến phải ân hận chưa. Còn mình,
một lần ngỗ nghịch để phải ân hận suốt đời. Qua lần ấy, mình đã rút ra một bài học vô
cùng thấm thía. Bài học ấy là gì, mời các bạn hãy cùng tìm hiểu văn bản “Bài học
đường đời đầu tiên” trích tác phẩm “Dế Mèn phiêu lưu kí” của nhà văn Tô Hoài.
Dùng tranh ảnh minh họa để dẫn vào bài
Từ câu chuyện vừa kể, người dẫn giới thiệu bài mới.
Hiệu quả: Với cách làm này rèn cho HS ý thức tự học ở nhà: học bài cũ, chuẩn bị bài
mới. Để cho học sinh tự giới thiệu bài sẽ phát huy được tính tích cực, chủ động của
học sinh, lôi cuốn nhiều em tham gia tập trung bài học, tạo cho các em ý thức đọc văn
bản, tìm hiểu kĩ nội dung, bài học tác giả gửi gắm. Đây cũng là biện pháp gây ấn tượng,
tạo sự hứng thú, tạo tâm thế học tập, bước đầu giúp các em tự tin để cảm thụ văn bản văn
học.
b. Tổ chức ghi “Nhật kí đọc”
Con đường đi vào cảm thụ văn bản nhất thiết phải từ đọc, gắn liền với việc đọc. Tổ chức
đọc văn bản là hoạt động trước tiết học, diễn ra ở nhà và trong tiết học. Đây là họat động
quan trọng để học sinh cảm thụ văn bản. Đọc để nắm bắt được cảm xúc của tác giả, để
hòa nhập vào thế giới cảm xúc, để phát hiện ý đồ nghệ thuật của tác giả, để nhìn ra thế
giới cuộc sống trong văn bản, để tiếng nói nội tâm người đọc hòa vào tiếng nói nội tâm
của tác giả. Phần đọc văn bản được thầy cô hướng dẫn và dặn dò rất kĩ ở phần hướng dẫn
soạn bài ở nhà, bởi không đọc văn bản sẽ không soạn được bài, sẽ khó khăn khi tiếp nhận
văn bản. Thực tế cho thấy học sinh rất lười đọc, nhiều học sinh đến lớp mà chưa hề đọc
văn bản hoặc có đọc thì qua loa đại khái, đọc lướt, đọc xong không hiểu văn bản nói gì.
Để khắc phục tình trạng nêu trên, tôi luôn nhắc nhở các em phải hiểu rằng đọc văn bản là
yêu cầu bắt buộc; đọc kết hợp tìm hiểu kĩ câu hỏi, bài tập trong SGK, những yêu cầu, câu
hỏi gợi ý, định hướng của giáo viên. Tôi cho các em ghi “Nhật kí đọc”. Mỗi em có một
sổ nhật kí. Tên gọi “Nhật kí đọc” giúp cho các em nhận thấy đây là công việc phải làm
thường xuyên, bắt buộc với mỗi học sinh. Trước khi soạn bài, các em đọc văn bản nhiều
lần rồi ghi lại những điều mình biết, hiểu, cảm về tác giả và văn bản vào sổ nhật kí như
tiểu sử, sáng tác của tác giả, hoàn cảnh ra đời, thể loại, nội dung và nghệ thuật của văn
bản, tính cách nhân vật, chi tiết, hình ảnh, câu văn, câu thơ hay, gây ấn tượng..., có thể là
những suy nghĩ, cảm xúc, nhận xét riêng của mình sau khi đã đọc văn bản. Để thúc đẩy,
Đọc kĩ văn bản
-
Xác định nội dung, chọn sự việc, nhân vật chính
-
Sắp xếp sự việc chính theo trình tự hợp lí
-
Dùng lời văn của mình để tóm tắt truyện.
Để dễ nhớ các tình tiết, diễn biến của truyện, tôi yêu cầu các em phải xây dựng sơ đồ
tóm tắt. Sử dụng sơ đồ tóm tắt truyện trong dạy học văn không phải là cách làm mới,
lâu nay thầy cô chúng ta vẫn làm nhưng chưa thường xuyên, chủ yếu là tóm tắt miệng. Sơ
đồ chúng ta làm chỉ mới dừng lại ở sơ đồ hình khối vuông, chữ nhật, vẽ sơ đồ nhánh. Để
tăng phần hứng thú, kích thích niềm đam mê học tập của học sinh, tôi hướng dẫn cho các
em tóm tắt truyện bằng những sơ đồ với nhiều hình dạng, màu sắc thể hiện khả năng sáng
tạo của các em. Tôi cho thực hiện theo nhóm, vẽ trên giấy khổ lớn. Đến phần đọc, kể tóm
tắt văn bản, đại diện 1- 2 nhóm gắn sơ đồ của nhóm lên bảng và dựa vào đó tóm tắt. Các
nhóm khác nhận xét, bổ sung.
* Sơ ñồ tóm tắt truyện Thánh Gióng
hai tháng mới sinh ra đứa bé khôi ngô đặt tên là Gióng, kì lạ lên ba tuổi không biết nói
cười. Khi nghe sứ giả tìm người tài giỏi đánh giặc, Thánh Gióng cất tiếng nói nhờ tâu
với vua sắm cho roi sắt, ngựa sắt, áo giáp sắt để đánh giặc. Sau khi gặp sứ giả, chú bé lớn
nhanh như thổi. Dân làng phải góp cơm gạo nuôi chú bé. Khi đồ sắt được mang tới,
Gióng vươn vai thành tráng sĩ oai phong lẫm liệt, mặc áo, cầm roi nhảy lên ngựa phi
thẳng đến chỗ giặc. Đánh tan giặc, Gióng phi ngựa lên núi, cới áo giáp bỏ lại rồi cùng
ngựa bay về trời. Vua nhớ công ơn lập đền thờ, phong danh hiệu là Phù Đổng Thiên
Vương.
* Sơ ñồ tóm tắt truyện Bức tranh của em gái tôi
1.Giới
thiệu em
gái Kiều
Phƣơng
6. Hiểu
tâm hồn
và lòng
nhân
hậu của
2. Phát
hiện tài
năng
của em
gái
BỨC
TRANH
qua từng nét vẽ dường như rất hiếm. Hạn chế đó một phần là do GV chúng ta chưa tạo
điều kiện để các em được thể hiện. Khi dạy văn bản, GV cũng cho HS vẽ tranh nhưng
thường cho về nhà vẽ sau khi đã học văn bản nên GV không kiểm tra, vì thế HS không
thực hiện yêu cầu của GV. Để giờ học sinh động, hấp dẫn, để phát huy trí tưởng tượng,
khả năng sáng tạo của các em, tôi cho các em nhớ và tái hiện lại nội dung cốt truyện bằng
tranh do chính các em vẽ.
Khi dạy văn bản “Ếch ngồi đáy giếng”, học sinh treo tranh đã vẽ và dựa vào
tranh tóm tắt:
*
Tóm tắt: Một con ếch sống trong giếng đã lâu ngày, xung quanh nó là những con vật bé
nhỏ. Nó cứ nghĩ mình thì oai như chúa tể, còn bầu trời chỉ bằng chiếc vung. Đến khi
mưa to, nước dâng lên đưa ếch ra khỏi giếng. Nó đi lại nghênh ngang, không thèm để ý
đến xung quanh nên bị một con trâu giẫm bẹpVăn bản “Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng”
Tóm tắt: Cô Mắt, Cậu Chân, Cậu Tay, Bác Tai, Lão Miệng từ xưa sống rất thân thiết
với nhau (tranh 1). Một hôm Chân, Tay, Tai, Mắt tị với lão Miệng là lão chẳng làm gì
mà lại được ăn ngon (tranh 2). Chúng hăm hở kéo đến nhà lão Miệng cho lão biết từ
nay chúng không làm cho lão ăn nữa ( tranh 3). Qua ba ngày, cả bọn cảm thấy mệt mỏi rả
rời, không muốn làm gì cả (tranh 4). Sau đó, chúng mới vỡ lẽ ra là nếu miệng không được
ăn thì chúng không có sức (tranh 5). Thế rồi, chúng cho Lão Miệng ăn và cả bọn lại khỏe
khoắn như trước. Từ đó, chúng lại hoà thuận như xưa