SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM SKKN một số GIẢI PHÁP NHẰM đổi mới KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ môn TIẾNG ANH 10 - Pdf 40

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
"MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐỔI MỚI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ
MÔN TIẾNG ANH 10"

0


Phần thứ nhất
MỞ ĐẦU
1

y do chọn đề tài

Bất kì một hoạt động nào muốn biết đạt kết quả đến đâu cũng phải qua quá trình đánh
giá. Tuy nhiên, không phải cách đánh giá nào cũng cho kết quả như mong muốn, mà việc
đưa ra cách đánh giá có tính chất quyết định. Hoạt động dạy học cũng vậy, là khâu nhằm
đo đếm lại kết quả của một hoạt động cụ thể: Có thể là một tiết dạy, có thể là kết quả
của một học kì, một năm học, một cấp học, về một môn học cụ thể, hoặc là kết quả phấn
đấu toàn diện của học sinh...
Việc đánh giá này có ý nghĩa cho cả người học, cả người dạy lẫn cả những người quan
tâm đến việc dạy học. Với người dạy có thể rút kinh nghiệm cho mình cái gì tốt, cái gì
chưa tốt trong quá trình truyền thụ, để rồi lớp sau cái gì sẽ tiếp tục phát huy, cái gì phải
bổ sung, chỉnh sửa. Đối với người học kết quả đánh giá ghi nhận mức độ kiến thức thu
nhận của mình, thể hiện bằng điểm số hoặc xếp loại. Kết quả này có được lên lớp hay
không, có tốt nghiệp hay không, và cũng có khi quyết định lối rẽ cuộc đời (ví như việc
thi đỗ đại học hay không). Vì vậy, đánh giá là khâu không thể thiếu trong quá trình
dạy học, có vai trò vô cùng quan trọng, góp phần làm nên chất lượng giáo dục. Yêu
cầu và gần như là một nguyên tắc bắt buộc: Đánh giá phải vô tư, khách quan và khoa
học. Làm được như vậy thì đánh giá trở thành một lưới sàng lọc, phân loại khá chính xác

trước.
- Nhấn mạnh sự cạnh tranh.
- Quan tâm đến mục tiêu cuối cùng - Nhấn mạnh sự hợp tác.
- Quan tâm đến kinh nghiệm
3


của việc giảng dạy.

học tập của học sinh

- Ch trọng sản phẩm.

-Ch trọng quá trình

- Tập trung vào kiến thức sách vở.

- Tập trung vào năng lực thực
tế.

Những thay đổi vừa nêu phản ánh rõ nét quan điểm mới về giáo dục trong đó người
học (learner) và quá trình học tập (learning) là trung tâm của toàn bộ các hoạt động giáo
dục, trong đó có hoạt động kiểm tra đánh giá. Sự ra đời của quan điểm này cùng với các
xu hướng mới trong kiểm tra đánh giá đã tạo ra một sự thay đổi căn bản trong hệ thống
lý luận về kiểm tra đánh giá, với sự xuất hiện một loạt các khái niệm và thuật ngữ mới,
cùng sự xác định nội hàm và tầm quan trọng của một số khái niệm và thuật ngữ đã tồn
tại trước đó. Dưới đây chúng tôi sẽ thảo luận các khái niệm đại diện cho ba đặc trưng
cơ bản của kiểm tra đánh giá theo xu hướng mới của thế giới mà chúng tôi tạm gọi là
„đánh giá phát triển‟, „đánh giá thực tiễn‟, và „đánh giá sáng tạo‟ để làm cơ sở cho việc
đưa ra những nhìn nhận về thực trạng kiểm tra đánh giá trong giáo dục phổ thông hiện

em, nhằm chỉ ra những bước tiếp theo cần thực hiện để phát triển năng lực của học sinh
theo mục tiêu đã đề ra. Nói cách khác, “Đánh giá phất triển” không chú trọng xác định
thành tích của học sinh mà chú trọng giúp học sinh và giáo viên hiểu được những điểm
mạnh, điểm yếu và những lỗ hổng kiến thức của từng em để có kế hoạch kịp thời phát
huy hoặc khắc phục chúng.
Không giống như “Đánh giá thành tích” thường ghi kết quả bằng điểm số, kết quả đánh
giá theo “Đánh giá phát triển” có thể là những phát biểu miệng, những ghi chú trên bài
viết của bạn học, những lời phê của giáo viên, hoặc tất nhiên cũng có thể là điểm số,
nhưng điều quan trọng là những kết quả này phải có ý nghĩa phản hồi cho học sinh để
chúng hiểu rõ hơn về quá trình học tập của chính mình.
b. Đánh giá thực tiễn (authentic assessment)
Đây là một trong những thuật ngữ mới xuất hiện trong cuộc cách mạng về kiểm tra đánh
giá trong vài thập niên vừa qua, và được dùng trong mối quan hệ đối lập với thuật
ngữ„đánh giá truyền thống‟ (traditional assessment) vốn được dùng để chỉ các hình thức
kiểm tra đánh giá trên giấy (paper-and-pencil) vốn đã rất quen thuộc đối với mọi nền giáo
dục trên thế giới là bài tự luận (essay), câu hỏi trả lời ngắn (short answer question), hoặc
các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan (objective test question), .... Một cách ngắn
gọn, „đánh giá thực tiễn‟ bao gồm mọi hình thức và phương pháp kiểm tra đánh giá được
thực hiện với mục đích kiểm tra các năng lực cần có trong cuộc sống hàng ngày và được
thực hiện trong bối cảnh thực tế. Từ „thực tiễn‟ trong thuật ngữ này nhấn mạnh mối
liên hệ chặt chẽ của cách đánh giá này với những yêu cầu của cuộc sống thực. Điều này
cho thấy đây là một bước phát triển quan trọng về quan điểm kiểm tra đánh giá trong đó
vai trò của học sinh như một chủ thể sáng tạo được nhấn mạnh.
c. Đánh giá sáng tạo (alternative assessment)
Tương tự như khái niệm „đánh giá thực tiễn‟, khái niệm „đánh giá sáng tạo‟ (dịch sát là
„đánh giá thay thế‟) chỉ mới xuất hiện trong hệ thống lý luận về kiểm tra đánh giá trong
vài thập niên vừa qua. Về ý nghĩa, hai thuật ngữ vừa nêu có một số điểm tương đồng vì
cả hai cùng đề cập đến các phương pháp kiểm tra đánh giá khác với các phương pháp

5

ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao
chất lượng và hiệu qủa công việc. Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý, đánh
giá là nhận xét bình phẩm về giá trị. Theo từ điển Tiếng Việt của Văn Tân thì đánh giá là
nhận thức cho rõ giá trị của một người hoặc một vật.
Đánh giá trong giáo dục, theo Dương Thiệu Tống là quá trình thu thập và xử lý kịp thời,
có hệ thống thông tin về hiện trạng và hiệu quả giáo dục. Căn cứ vào mục tiêu dạy học,

6


làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động trong giáo dục tiếp theo. Cũng
có thể nói rằng đánh giá là quá trình thu thập phân tích và giải thích thông tin một cách hệ
thống nhằm xác định mức độ đạt đến của các mục tiêu giáo dục về phía học sinh. Đánh
giá có thể thực hiện bằng phương pháp định lượng hay định tính.
Như vậy đánh giá là việc đưa ra những kết luận nhận định, phán xét về trình độ học sinh.
Muốn đánh giá kết quả học tập của học sinh thì việc đầu tiên là phải kiểm tra, soát xét lại
toàn bộ công việc học tập của học sinh, sau đó tiến hành đo lường để thu thập những
thông tin cần thiết, cuối cùng là đưa ra một quyết định. Do vậy kiểm tra và đánh giá kết
quả học tập của học sinh là hai khâu có quan hệ mật thiết với nhau. Kiểm tra nhằm cung
cấp thông tin để đánh giá và đánh giá thông qua kết quả của kiểm tra. Hai khâu đó hợp
thành một quá trình thống nhất là kiểm tra- đánh giá.
2.2. Các oại hình kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
Khi đ xác định được cấu tr c bài kiểm tra, giáo viên có thể chọn các bài tập thích hợp để
kiểm tra các kĩ năng và kiến thức ngôn ngữ. Các loại hình bài tập dùng cho kiểm tra gồm:
2.2.1. Kiểm tra đầu vào – Placement Tests
Kiểm tra để xếp lớp theo trình độ phù hợp. Thường được ứng dụng như một hình
thức bắt buộc với những chương trình đào tạo chuyên nghiệp. Khái niệm kiểm tra đầu
vào không hàm chứa nội dung kiểm tra hay hình thức tổ chức kiểm tra mà chỉ chú trọng
vào mục đích của kiểm tra. Tùy theo mục đích khóa học mà người ta có thể tiến hành
các dạng thức bài kiểm tra hay qui trình kiểm tra khác nhau, thường với một khoá học

2.3. Các tiêu chí kiểm tra, đánh giá
Kiểm tra đánh giá phải đảm bảo tính toàn diện (kiến thức, kỹ năng, năng lực, thái độ,
hành vi của học sinh), Đảm bảo độ tin cậy (chính xác, khách quan), Đảm bảo tính khả thi
(nội dung, hình thức, phương tiện tổ chức kiểm tra), Đảm bảo yêu cầu phân hóa . Gồm
03 bậc đánh giá: Nhận biết, Thông hiểu, Vận dụng (mức độ thấp & mức độ cao). Lưu ý:
dải phân hóa càng rộng càng tốt, và phải đảm bảo hiệu quả cao (đánh giá được tất cả các
lĩnh vực cần đánh giá học sinh tác động tích cực vào quá trình dạy học).
2.4 Mục đích, ý nghĩa và vai trò của kiểm tra- đánh giá kết quả học tập của học
sinh
2.4 1 Mục đích của việc kiểm tra- đánh giá
Công khai hóa nhận định về năng lực và kết quả học tập của mỗi học sinh và tập thể lớp,
tạo cơ hội cho học sinh phát triển kỹ năng tự đánh giá, gi p học sinh nhận ra sự tiến bộ
của mình, khuyến khích động viên việc học tập.
Gi p cho giáo viên có cơ sở thực tế để nhận ra những điểm mạnh và điểm yếu của mình,
tự hoàn thiện hoạt động dạy, phân đấu không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy
học.
Như vậy, đánh giá không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và định hướng, điều
chỉnh hoạt động của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định ra thực trạng và điều
chỉnh hoạt động dạy của thầy.
2.4 2 Ý nghĩa của việc kiểm tra- đánh giá
8


Kiểm tra- đánh giá có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với học sinh, giáo viên và đặc biệt
là đối với cán bộ quản lí.
Đối với học sinh: Việc đánh giá có hệ thống và thường xuyên cung cấp kịp thời những
thông tin "liên hệ ngược" gi p người học điều chỉnh hoạt động học. Về giáo dưỡng chỉ
cho học sinh thấy mình đ tiếp thu điều vừa học đến mức độ nào, còn thiếu sót nào cần
bổ khuyết. Về mặt phát triển năng lực nhận thức gi p học sinh có điều kiện tiến hành các
hoạt động trí tuệ như ghi nhớ, tái hiện, chính xác hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa kiến


Đo: Kết quả bài kiểm tra của mỗi học sinh được ghi nhận bằng điểm số. Điểm số là
những kí hiệu gián tiếp phản ánh trình độ của mỗi học sinh về mặt định tính, nhưng nó
không có ý nghĩa về mặt định lượng.
Lượng giá: Dựa vào các số đo để đưa ra những tính toán về ước lượng, về trình độ kiến
thức, kĩ năng kĩ xảo của một học sinh. Lượng giá là một bước trung gian giữa đo và đánh
giá, có thể lượng giá theo chuẩn lượng giá theo tiêu chí.
Đánh giá: Bước này đòi hỏi giáo viên phải đưa ra những nhận định phán đoán về thực
chất trình độ của một học sinh trước vấn đề được kiểm tra, đồng thời đề xuất những định
hướng bổ khuyết, sai sót hoặc phát huy hiệu quả.
Quyết định: Đây là bước cuối cùng của quá trình đánh giá, giáo viên sẽ đưa ra những
biện pháp cụ thể để gi p học sinh tiến bộ
3. Cơ sở thực tiễn
3.1. Thực trạng kinh tế xã hội
Đến năm 2010, dân số Hoà Bình đạt khoảng 800.000người. Tăng trưởng kinh tế bình
quân đạt 12%/năm, Về cơ cấu kinh tế, tăng trưởng kinh tế đạt mức khá, các ngành kinh
tế đều tăng trưởng, chất lượng tăng trưởng được cải thiện, nhiều chỉ tiêu kinh tế x hội
đạt được mức cao, đời sống nhân dân từng bước được nâng lên. Cơ cấu kinh tế chuyển
biến tích cực, tỷ trọng công nghiệp, xây dựng tăng, cơ cấu thành phần kinh tế xuất hiện
những sản phẩm mới với công nghệ tiên tiến hơn trong công nghiệp, dịch vụ, việc chuyển
đổi cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp cũng có bước tiến nhất định.
Hoà Bình là vùng đất đa dân tộc, bao gồm 6 dân tộc chủ yếu, cùng chan hoà, cùng
sống bên nhau, xây đắp và sáng tạo nên những giá trị văn hoá đặc sắc. Mật độ dân số của
tỉnh tính đến năm 2010 khoảng 172,2 người/km2. Dân cư phân bố không đồng đều giữa
các vùng trong tỉnh, gần 80% dân số tập trung ở vùng thấp và thành phố. Thu nhập bình
quân đầu người đạt 13,3 triệu đồng.
3.2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
Theo Quy chế 40 và thông tư 58 thì số lần cho điểm kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định
kỳ của từng môn, điểm kiểm tra học kỳ nhân hệ số 3, đặc biệt là học kỳ II lại nhân 2,
cộng với học kỳ I và chia cho 3. Do vậy, thường là vào cuối năm, áp lực thi cử lại dồn lên

Kiểm tra đánh giá nghèo nàn về phương pháp làm cho giáo dục thiếu thực tiễn. Các
phương pháp kiểm tra đánh giá đang được sử dụng phổ biến trong hệ thống giáo dục phổ
thông của Việt Nam hiện nay, đặc biệt là ở cấp THPT, chỉ hạn chế trong các bài thi
trên giấy dưới hai hình thức quen thuộc là tự luận hoặc trắc nghiệm khách quan. Cả
hai hình thức này đều chỉ phù hợp để chứng minh việc nắm vững kiến thức sách vở,
riêng đối với hình thức tự luận thì có phần nào cho phép học sinh chứng tỏ kỹ năng lý
luận, diễn đạt bằng ngôn ngữ và trình bày kiến thức theo một cấu trúc hợp lý. Tất
nhiên đây là những năng lực mà học sinh cần có, đặc biệt là ở cấp THPT, nhưng
chúng không phải là toàn bộ năng lực mà các em cần có trong cuộc sống hàng ngày.
Thực ra, những năng lực nói trên cũng chỉ cần thiết trong thế giới hàn lâm, nhưng trong
thực tế còn rất nhiều kỹ năng khác mà học sinh cần như kỹ năng tự phát hiện và giải
quyết vấn đề, kỹ năng xử lý tình huống, kỹ năng độc lập và sáng tạo, kỹ năng hợp tác và
thương lượng, ... Nhưng những kỹ năng này đều không được phát hiện cũng chẳng
được khuyến khích với phương pháp kiểm tra đánh giá truyền thống. Bên cạnh những
phương pháp đã quen, các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới đã tìm và đưa ra những
11


cách kiểm tra đánh giá khác có thể cho phép học sinh được chứng tỏ các năng lực của
mình. Có thể kể một vài phương pháp kiểm tra đánh giá mới được xem là có tính thực
tiễn cao như đánh giá qua đề án (project-based assessment), hoặc đánh giá kỹ năng thực
hành (performance assessment) thông qua các tình huống mô phỏng (ví dụ như kiểm
tra kỹ năng nói thông qua tình huống tham dự phỏng vấn trong khi xin việc). Những kỹ
năng vừa nêu, vốn rất quan trọng trong cuộc sống thực tế, không phải lúc nào cũng có
tương quan thuận với các kỹ năng mang tính hàn lâm, vì thế nếu chỉ sử dụng cách kiểm
tra đánh giá truyền thống như hiện nay thì sẽ dẫn đến tình trạng làm thui chột những
khả năng đa dạng vốn có của học sinh. Hệ quả đương nhiên của việc này là làm cho
nhiều học sinh có khả năng không được nhà trường phát hiện, thậm chí bị đào thải hoặc
trở nên chán học và tự đào thải trong hệ thống giáo dục, trong khi đó thì các sản phẩm
thành công của hệ thống giáo dục Việt Nam theo cách đánh giá hiện nay lại không có

Hầu hết nhà trường chỉ dùng kết quả điểm số để phân loại học lực của học sinh và để xét
thi đua. Tuy nhiên, kết quả kiểm tra, đánh giá còn cung cấp thông tin quan trọng và chính
xác về quá trình học tập môn Anh cho học sinh, cũng như quá trình dạy môn Anh trong
trường THPT cho giáo viên, cho Ban giám hiệu của trường THPT, cho cán bộ quản lý bộ
môn của sở; để từ những thông tin căn bản này r t ra được những quyết định đ ng đắn và
kịp thời tác động đến việc dạy học môn Anh nhằm nâng cao chất lượng học tập của học
sinh
Biện pháp 3: Đổi mới mục tiêu đánh giá
Giáo viên phụ thuộc phần lớn vào kết quả học cuối năm chứng tỏ thi cuối năm có vai
trò rất lớn đối với cả học sinh và giáo viên. Khi giáo viên tập trung vào mục tiêu “kiểm
tra cuối năm” thì chính họ đã xem nhẹ vai trò của mục tiêu “khuyến khích học sinh
học tập” vốn là một mục tiêu cơ bản của kiểm tra đánh giá kết quả học tập, đây là mục
tiêu trực tiếp tác động và động viên học sinh hoàn thiện tri thức, hoàn thiện quá trình
học tập của mình. Mặt khác, dù đầu năm học nào học sinh cũng được tổ chức cho thi
khảo sát chất lượng đầu năm, nhưng giáo viên ít quan tâm đến mục tiêu kiểm tra đánh giá
này. Trong khi đây là loại hình kiểm tra giúp giáo viên phân loại đuợc học sinh để có
biện pháp giảng dạy phuf hợp. Vậy, giáo viên phải chú trọng vào các hình thức kiểm tra
còn lại để có đánh giá tổng quát về khả năng của học sinh.
Biện pháp 4: Đổi mới nội dung kiểm tra, đánh giá
Thiên về đánh giá khả năng ghi nhớ và tái hiện kiến thức, quá coi trọng lí
thuyết kinh viện và chưa quan tâm đ ng mức đến việc đánh giá sự thông hiểu, vận dụng
kiến thức trong giải quyết vấn đề và thực hành. Giáo viên phải bao quát đầy đủ những
nội dung đ học. Đề kiểm tra không chỉ thể hiện đủ các kiến thức kĩ năng mà còn phải thể
hiện đ ng mức độ, bảo đảm sự phân hóa trình độ của học sinh. Đề phải phù hợp với
chương trình và chuẩn kiến thức kĩ năng, sát với trình độ học sinh.
Bảng 1: Kỹ năng/kiến thức được kiểm tra
Kỹ năng/
kiến thức

Đọc

Phân tích thống kê cho thấy, kiểm tra từ vựng là loại kiến thức được giáo viên quan tâm
nhiều nhất ; kiểm tra ngữ pháp xếp hạng 2; kiểm tra viết đứng hạng thứ 3; kiểm tra kỹ
năng đọc hiểu xếp hạng 4 và kiểm tra kỹ năng nói xếp hạng 5 và kỹ năng Nghe hạng 6.
Kết quả này cho thấy phần lớn giáo viên chú trọng rèn luyện ở học sinh kiến thức về từ
vựng, ngữ pháp và viết nhiều hơn các loại kỹ năng/ kiến thức khác trong khi mục tiêu của
chương trình tiếng Anh cải cách là tập trung vào phát triển khả năng giao tiếp của học
sinh nhiều hơn các kiến thức/kỹ năng. Thống kê số lần giáo viên kiểm tra đánh giá
từng loại kỹ năng/kiến thức cũng cho kết quả tương tự, giáo viên thường kiểm tra học
sinh về từ vựng, về ngữ pháp (thường dưới hình thức kiểm tra bài cu) nhiều nhất, theo
sau là số lần kiểm tra học sinh kỹ năng viết từ và kỹ năng đọc hiểu. Kỹ năng nghe, nói
được giáo viên kiểm tra ít nhất.
Giáo viên phải chú trọng kiểm tra đều 4 kỹ năng (nghe, nói, đọc, viết) với 3 loại lý do
sau là: thứ nhất la để kiểm tra đánh giá đúng trình độ học sinh (nắm đúng trình độ học
sinh, học sinh cảm thấy công bằng, đánh giá học sinh từ yếu tới giỏi, để đánh giá học sinh
không thiên vị, bài kiểm tra phải dàn đều làm học sinh yếu kém bí và nản. Mặt khác, nó
giúp học sinh có thói quen học tập (tránh chủ quan, không lơ là việc học, mọi học sinh
đều có thái độ chuẩn bị bài học tốt.
Vậy nếu xét về thời gian thực hiện kiểm tra (miệng, 15 phút, 45 phút và học kỳ) thì
mức độ giáo viên sử dụng kiểm tra những kỹ năng/kiến thức theo bảng sau:
Bảng 2: Mối quan hệ giữa hình thức kiểm tra kỹ năng và kiến thức
Kỹ năng /

Kiểm tra

Kiểm tra

Kiểm tra

Kiểm tra


5

3

2

2

3. Nghe

3

5

5

5

14


4. Nói

1

6

6

6

ít được giáo viên quan tâm kiểm tra.
Đối với hình thức kiểm tra học kỳ, các kỹ
năng/kiến thức thường được tập trung đánh giá là: ngữ pháp, viết và từ vựng. Một giải
pháp cho vấn đề này là giáo viên đưa kiến thức/kỹ năng vào bài kiểm tra dưới dạng các tổ
hợp nhất định như sử dụng tổ hợp “đọc hiểu - viết”; tổ hợp “từ vựng - ngữ pháp” tổ hợp
“nghe – nói”...
Biện pháp 5: Hình thức kiểm tra, đánh giá:
Ngoài viêc giáo viên đưa ra nhiều biện pháp dạy học khác nhau (học sinh phải được quan
tâm như nhau, học sinh học không đồng sức với nhau đều làm được bài, để phân loại và
có biện pháp phụ đạo, để động viên các em khá giỏi phát huy khả năng hơn nữa, học sinh
yếu kém thực hành nhiều hơn) thì giáo viên cung cần quan tâm đến các hình thức kiểm
tra nằm giúp các em học sinh có thể tự đánh gía được khả năng của mình, pháy huy
nhưng điểm mạnh và khắc phục điểm yếu. Đối với môn Tiếng Anh THPT, các hình thức
kiểm tra đánh giá cơ bản gồm: kiểm tra miệng (vấn đáp), kiểm tra 15 ph t, và kiểm tra 1
tiết.
a. Kiểm tra miệng (vấn đáp) còn thực hiện máy móc Thông thường, việc kiểm tra kết
quả học tập của từng học sinh trong từng tiết học biểu hiện bằng việc kiểm tra miệng 5
đến 10 ph t đầu giờ. Giáo viên gọi từng học sinh lên trả lời miệng trước lớp về việc thuộc
từ mới, cấu tr c ngữ pháp sau đó đánh giá cho điểm. Kiểm tra miệng cũng có một số ưu
điểm là gi p học sinh chăm hơn vì các em thường xuyên phải đối mặt kiểm tra đầu giờ,
các em có thức chuẩn bị bài ở nhà đầy đủ hơn. Mặt khác, loại bài kiểm tra này tăng khả
15


năng giao tiếp cho sinh, gi p việc tính điểm rõ ràng, thực hiện khách quan, minh bạch.
Tuy nhiên, 5 ph t hoặc 10 ph t đầu giờ không kiểm tra được nhiều học sinh, thông
thường giáo viên kiểm tra rồi thì không kiểm tra học sinh đó nữa vì vậy các em đ được
kiểm tra sẽ không học bài dẫn đến hổng kiến thức. Hơn thế nữa, kết quả bài mới bị hạn
chế do tốn rất nhiều thời gian kiểm tra bài cũ. Học sinh thường thụ động, không phát huy
được tính tư duy, sáng tạo của học sinh vì học sinh không phải suy nghĩ đến tổng hợp

second conditional.

16


1. A: We're not late, are we?
B: No. We ..........(be) fine if we.............. (leave) in the next ten minutes.
2. A Come on. can't you and Anne be friends?
B: No, I......... (speak) to her again unless she .............(say) sorry for what she's done.
3. A :So you think it's my fault that I feel so tired?
B: Yes, you ....(feel) much better if you (go) to bed at a reasonable time.
4. A: What's your idea of the most perfect place for a holiday?
B: I think I ................ (go) to the Seychelles if I (have) the money.
5.

A: Do you and your brother get together very often?

B: No, we ................. (see) each other -more if we ..............(live) closer, but he lives
in Scotland.
Kiểm tra trong quá trình dạy bài mới: Giáo viên cho các em làm ngay những bài
tập viết ra giấy l c các em trao đổi nội dung bài mới, đổi bài cho nhau để các em cùng
kiểm tra (cross-check). Giáo viên thu bài tập của học sinh để chấm điểm đánh giá việc
học của các em. Hoặc trong quá trình dạy, những câu hỏi cần học tư duy được các em
xung phong trả lời đ ng giáo viên nhận xét, đánh giá cho điểm. Ví dụ như bài Unit 12Writing a profile, giáo viên chia học sinh viết bài theo nhóm (dưa trên thông tin mà giáo
viên cung cấp), học sinh viết rồi chưa bài cho nhóm của bạn mình, giáo viên chấm cả bài
viết và bài chưa của nhóm đó.
1. born on February 28th 1939 / Huế
2. write more than 990 songs: Diêm Xưa, Nối vòng tay lớn.
3. died in HCM city / April 1st 2001
1. born in 1975 in Hanoi.

kiểm tra đánh giá như sau: các học sinh được yêu cầu làm việc theo nhóm để sưu tầm các
tư liệu về chủ đề: HISTORICAL PLACES (English 10- Unit 16- speaking) sau đó trao
đổi với các thành viên trong nhóm và tổng hợp thành một báo nhóm, kế đó báo cáo
của tất cả các nhóm sẽ được trình bày trước lớp và các nhóm sẽ cùng thảo luận đánh
18


giá từng báo cáo để cuối cùng có được một kết luận bằng điểm số hoặc bằng nhận xét
về chất lượng của từng báo cáo. Học sinh làm việc theo nhóm và sản phẩm cuối cùng là
kết quả của cả nhóm chứ không phải của từng cá nhân; học sinh là người thực hiện
nhưng cũng đồng thời là người đánh giá kết quả
Hoặc thông qua các hoạt động ôn tập trong phần cuối của bài: ví dụ như tóm tắt lại nội
dung bài nghe dựa trên các task vừa học
Hard, solemn,

1944
Written in………

………………
rousing

Tien quan ca
Best
................
musician
of all time

Van Cao &
his music


knew much about music.

.

T F ... 3. They did not have long career.
T F ... 4. Their fist hit record was in 1953.
Listen again then answer the following statements
5. How did The Beatles change the pop music?
______________________________________________6. Who wrote the songs they sang?
______________________________________________7. When did they split up?
______________________________________________8. What was their first hit record in 1964?
______________________________________________15 MINUTE- TEST (No 2)
I. PRONUNCIATION: Circle the word that has the underlined part pronounced
different from the other three.
1. a. famous

b. flourish

c. honour

d. behaviour

2. a. citadel

b. brilliant

c. architecture

d. site


d. impress'

4. Few businesses are flourishing in the present economic climate.
a. growing well

b. setting up

c. closing down d. taking off

5. Hue Imperial City was certified as a World Cultural................. in 1993.
a. History

b. Tradition

c. Heritage

d. Site

III. GRAMMAR AND STRUCTURE
A. Choose the word or phrase - b, c, or d - that best completes sentence.
1.John's grades are really bad.' `Yes, but Tim's are.............
a. worse

b. worst

c. badder

d. so worse

2. 'How was the exam?' 'Well, it was quite easy.................. we expected.

5. Which of the following sentences is true?
a. Cu Chi was an important revolutionary base.
b. The area-of Cu Chi is about 200 square kilometers.
c. The soil in Cu Chi is uncultivated.
d. Cu Chi was called a wonder of 20th century.
2. Writing: Write a paragraph that describes the facts and figure provided.
HALONG BAY, A WONDER OF THE WORLD
-170 kilometers east of Hanoi -World Heritage listed by UNESCO
( December 17th 1994)

22


-One of Vietnam‟s most popular tourist destination
-Halong Bay‟s nice places to visit: Dau Go cave, Sung sot cave, Thien Cung grotto, Titop
island, Ga choi Islet....
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
........................
The end
c. Đổi mới kiểm tra một tiết
Theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, thì việc kiểm tra đánh giá
không thể chỉ dừng lại ở yêu cầu tái hiện kiến thức, lặp lại kỹ năng đã học mà phải
khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo, khả năng vận dụng những kiến thức trong nhà
trường để giải quyết những tình huống trong thực tế cuộc sống. Sau mỗi phần học giáo
viên kiểm tra 45 ph t với nội dung kiểm tra là kiến thức phải dàn tr i các phần đ học;
Mức độ đề phải ra đề theo ma trận hai chiều đ thảo luận thống nhất cả tổ chuyên môn.
Câu hỏi phải phù hợp với yêu cầu tư duy: Nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp, vận dụng



3. Chấm bài nhanh, chính xác, khó chính xác
khách quan.
- HS khó có thể tự đánh giá
4. Tạo điều kiện để HS tự đánh chính xác kết quả học tập của
giá kết quả học tập của mình mình.
một cách chính xác.
5 Sự phân phối điểm trên diện -Sự phân phối điểm trên diện
rộng, nên có thể phân biệt rõ hẹp, nên khó có thể phân biệt
ràng trình độ học sinh
được rõ ràng trình độ học sinh.
6 Có thể sử dụng các phương - Không sử dụng được phương
tiện hiện đại trong chấm bài và tiện hiện đại trong chấm bài và
phân tích kết quả kiểm tra của phân tích kết quả học tập của
học sinh
học sinh
Nhược điểm:

Ưu điểm:

1 Không hoặc rất khó đánh giá - Có thể đánh giá được khả
khả năng diễn đạt, sử dụng ngôn năng diễn đạt, sử dụng ngôn
ngữ của học sinh.
ngữ của học sinh
2 Không góp phần cho việc - Góp phần rèn luyện cho học
rèn luyện khả năng trình bày, sinh khả năng trình bày, diễn đạt
diễn đạt ý kiến của học sinh.
ý kiến của mình.
3 Chỉ giới hạn sự suy nghĩ của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status