SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐỔI MỚI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ
MÔN TIẾNG ANH 10"
1
Phần thứ nhất
MỞ ĐẦU
1. &y do chọn đề tài
Bất kì một hoạt động nào muốn biết đạt kết quả đến đâu cũng phải qua quá trình đánh
giá. Tuy nhiên, không phải cách đánh giá nào cũng cho kết quả như mong muốn, mà việc
đưa ra cách đánh giá có tính chất quyết định. Hoạt động dạy học cũng vậy, là khâu nhằm
đo đếm lại kết quả của một hoạt động cụ thể: Có thể là một tiết dạy, có thể là kết quả
của một học kì, một năm học, một cấp học, về một môn học cụ thể, hoặc là kết quả phấn
đấu toàn diện của học sinh
Việc đánh giá này có ý nghĩa cho cả người học, cả người dạy lẫn cả những người quan
tâm đến việc dạy học. Với người dạy có thể rút kinh nghiệm cho mình cái gì tốt, cái gì
chưa tốt trong quá trình truyền thụ, để rồi lớp sau cái gì sẽ tiếp tục phát huy, cái gì phải
bổ sung, chỉnh sửa. Đối với người học kết quả đánh giá ghi nhận mức độ kiến thức thu
nhận của mình, thể hiện bằng điểm số hoặc xếp loại. Kết quả này có được lên lớp hay
không, có tốt nghiệp hay không, và cũng có khi quyết định lối rẽ cuộc đời (ví như việc
thi đỗ đại học hay không). Vì vậy, đánh giá là khâu không thể thiếu trong quá trình
dạy học, có vai trò vô cùng quan trọng, góp phần làm nên chất lượng giáo dục. Yêu
cầu và gần như là một nguyên tắc bắt buộc: Đánh giá phải vô tư, khách quan và khoa
học. Làm được như vậy thì đánh giá trở thành một lưới sàng lọc, phân loại khá chính xác
kết quả quá trình dạy học, hơn thế nữa đánh giá góp phần tạo nên công bằng xã hội trong
giáo dục đào tạo về mặt học thức, tạo động cơ lành mạnh thúc đẩy người học. Ngược lại,
vì một lí do nào đó, sự đánh giá không đảm bảo nguyên tắc này làm cho kết quả đánh
giá không đúng thực chất, góp phần tạo ra bất công, giết chết động cơ của sự học. Cơ sở
để đánh giá phải xuất phát từ mục tiêu của việc học có thể diễn đạt nhiều cách khác nhau,
nhưng suy cho cùng đó là bốn cột trụ của việc học: Học để biết, học để làm, học để
khẳng định mình, học để hòa nhập cộng đồng.
trong học tập, và giúp giáo viên có cơ sở để điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học và
quản lý giáo duc. Vậy đổi mới kiểm tra đánh giá trở thành nhu cầu bức thiết của ngành
giáo dục và toàn xã hội ngày nay.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình kiểm tra, đánh giá của học sinh lớp 10ª1 trường THPT Dân tộc- Nội trú tỉnh
Hoà Bình năm học 2012- 2013.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Các thủ thuật về kiểm tra đánh giá môn Tiếng Anh qua chương trình dạy tiếng Anh 10
4. Giả thuyết khoa học
3
Nếu áp dụng một số đổi mới trong kiểm tra đánh giá thì học sinh se yêu thich môn
tiếng Anh hơn, không còn tâm ly lo sợ khi kiểm tra và kết quả học môn tiếng Anh se cao
hơn.
5. Phương pháp nghiên cứu.
5.1 Các phương pháp nghiên cứu y uận
Nghiên cứu lý luận giáo học pháp về kiểm tra, đánh giá môn Tiếng Anh.
5.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Thực hành trên lớp, Phương pháp so sánh
6. Cơ sở, phạm vi, thời gian nghiên cứu
Cơ sở nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu: Các thủ thuật về kiểm tra đánh giá môn
tiếng Anh 10
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9/ 2012-tháng 5/ 2013
Phần thứ hai
QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 1: Cơ sở ly luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
1. Sơ lược lich sử vấn đề nghiên cứu
Tại Việt Nam việc đánh giá kết quả học tập của học sinh lâu nay vẫn được thực hiện một
cách truyền thống, chỉ chú trọng kiểm tra kiến thức sách vở mà hầu hết là ở mức độ nhớ
và tái hiện kiến thức dựa trên những bài kiểm tra trên giấy, thì trên thế giới từ giữa thập
dục, trong đó có hoạt động kiểm tra đánh giá. Sự ra đời của quan điểm này cùng với
các xu hướng mới trong kiểm tra đánh giá đã tạo ra một sự thay đổi căn bản trong hệ
thống lý luận về kiểm tra đánh giá, với sự xuất hiện một loạt các khái niệm và thuật ngữ
mới, cùng sự xác định nội hàm và tầm quan trọng của một số khái niệm và thuật ngữ đã
tồn tại trước đó. Dưới đây chúng tôi sẽ thảo luận các khái niệm đại diện cho ba đặc
trưng cơ bản của kiểm tra đánh giá theo xu hướng mới của thế giới mà chúng tôi tạm gọi
là ‘đánh giá phát triển’, ‘đánh giá thực tiễn’, và ‘đánh giá sáng tạo’ để làm cơ sở cho việc
đưa ra những nhìn nhận về thực trạng kiểm tra đánh giá trong giáo dục phổ thông hiện
nay tại Việt Nam xét theo quan điểm mới.
a. Đánh giá phát triển (formative assessment)
‘Đánh giá phát triển’ là một thuật ngữ rất thường gặp trong những bài viết về xu hướng
kiểm tra đánh giá mới. Thuật ngữ này vốn đã tồn tại từ lâu và trước đây thường được
dịch là ‘đánh giá quá trình’ để chỉ những hoạt động kiểm tra đánh giá được thực hiện
trong quá trình dạy-học, có ý nghĩa phân biệt với những hoạt động được thực hiện tại
những thời điểm khác như kiểm tra đánh giá t r ước khi bắt đầu quá trình dạy-học
(placement assessment, tức đánh giá xếp lớp) hoặc s a
u khi kết thúc quá trình này
(đánh giá tổng kết, tiếng Anh là summative assessment). Tuy nhiên, với sự xuất hiện của
xu hướng kiểm tra đánh giá mới thì nội hàm của khái niệm ‘formative assessment’ đã
được xác định lại và được dùng chung thành cặp đối lập với thuật ngữ ‘summative
assessment’ để chỉ hai chức năng cơ bản của kiểm tra đánh giá như sau:
Summative
assessment (đánh giá thành tích) thực hiện chức năng đánh giá để
phục vụ quản lý. Mục tiêu chính của “Đánh giá thành tích” là xác định mức độ đạt thành
tích của học sinh (và thông qua đó là của giáo viên cũng như nhà trường) sau thời
5
gian học tập, nhưng K
gọn, ‘đánh giá thực tiễn’ bao gồm mọi hình thức và phương pháp kiểm tra đánh giá được
thực hiện với mục đích kiểm tra các năng lực cần có trong cuộc sống hàng ngày và được
thực hiện trong bối cảnh thực tế. Từ ‘thực tiễn’ trong thuật ngữ này nhấn mạnh mối
liên hệ chặt chẽ của cách đánh giá này với những yêu cầu của cuộc sống thực. Điều này
cho thấy đây là một bước phát triển quan trọng về quan điểm kiểm tra đánh giá trong đó
vai trò của học sinh như một chủ thể sáng tạo được nhấn mạnh.
c. Đánh giá sáng tạo (alternative assessment)
6
Tương tự như khái niệm ‘đánh giá thực tiễn’, khái niệm ‘đánh giá sáng tạo’ (dịch sát là
‘đánh giá thay thế’) chỉ mới xuất hiện trong hệ thống lý luận về kiểm tra đánh giá trong
vài thập niên vừa qua. Về ý nghĩa, hai thuật ngữ vừa nêu có một số điểm tương đồng vì
cả hai cùng đề cập đến các phương pháp kiểm tra đánh giá khác với các phương pháp
truyền thống như bài tự luận, câu hỏi khách quan, Tuy nhiên, bên cạnh điểm tương
đồng vừa nêu thì hai khái niệm này chú trọng những đặc điểm khác nhau của kiểm tra
đánh giá. Trong khi ‘đánh giá thực tiễn’ nhấn mạnh sự liên hệ của việc kiểm tra đánh giá
trong nhà trường với thực tế cuộc sống ở bên ngoài, thì ‘đánh giá sáng tạo’ nhấn mạnh sự
mới mẻ, đa dạng và sáng tạo của những cách thực hiện kiểm tra đánh giá khác với cách
làm theo lối mòn của truyền thống. Ba đặc trưng vừa nêu của xu hướng kiểm tra đánh
giá mới trong quan điểm giáo dục hiện đại trên thế giới thể hiện rất rõ tính nhân bản và
tinh thần lấy hoc sinh làm trung tâm, trong đó mục tiêu cuối cùng của kiểm tra đánh giá
là nhằm phát hiện những ưu điểm và khắc phục các nhược điểm của học sinh để giúp
chúng phát triển đến mức tối đa mọi tiềm năng của mình. Và đây chính là niềm tin của
các nhà giáo dục trên thế giới, là lý do tại sao các nước tiên tiến trên thế giới đang hết
sức nỗ lực để tạo ra một hệ thống kiểm tra, đánh giá giáo dục phổ thông theo xu hướng
này.
2 Cơ sở ly luận của vấn đề nghiên cứu
2. 1. Khái niệm “Kiểm tra, đánh giá kết quả hoc tập của học sinh”?
2.1.1 Kiểm tra
Trong Đại từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý định nghĩa kiểm tra là xem xét thực chất,
thực tế. Theo Bửu Kế, kiểm tra là tra xét, xem xét, kiểm tra là soát xét lại công việc, kiểm
kiểm tra các kĩ năng và kiến thức ngôn ngữ. Các loại hình bài tập dùng cho kiểm tra gồm:
2.2.1. Kiểm tra đầu vào – Placement Tests
Kiểm tra để xếp lớp theo trình độ phù hợp. Thường được ứng dụng như một hình
thức bắt buộc với những chương trình đào tạo chuyên nghiệp. Khái niệm kiểm tra đầu
vào không hàm chứa nội dung kiểm tra hay hình thức tổ chức kiểm tra mà chỉ chú trọng
vào mục đích của kiểm tra. Tùy theo mục đích khóa học mà người ta có thể tiến hành
các dạng thức bài kiểm tra hay qui trình kiểm tra khác nhau, thường với một khoá học
ngoại ngữ sẽ bao gồm cả hai dạng là phỏng vấn và viết. Trong đó, viết có thể bao gồm cả
trắc nghiệm khách quan và tự luận, hoặc riêng trắc nghiệm, hoặc riêng tự luận.
2.2.2 Kiểm tra dự chuẩn - Diagnostic Tests
Kiểm tra ngay sau khi mỗi khóa được tiến hành để dự đoán bổ sung những kiến thức
còn thiếu hay còn yếu, hay xác định trình độ thật của học sinh tại thời điểm đó, nhằm
điều chỉnh một chương trình hợp lí hơn. Thường ấn định theo định hướng của một
chương trình đã có.
2.2.3 Kiểm tra tiến độ - progress tests
Thường tiến hành sau khi khóa học đã được tiến hành, nói cách khác là kiểm tra định kì
ở giữa mỗi khóa học hoặc tùy theo yêu cầu của nhà quản lí hoặc người học. Nội dung
8
kiểm tra theo chương trình đã đào tạo, nói cách khác: học gì thi nấy. Kiểm tra tiến độ
có vẻ giống như kiểm tra kết quả nhưng nội dung thường được giới hạn ở từng mục tiêu
cụ thể hơn ví dụ như kiểm tra thì hiện tại hoàn thành tiếp diễn trong tiếng Anh, hay kiểm
tra khả năng sử dụng một số mẫu câu trong giao tiếp tình huống như hỏi giờ, hỏi đường
v.v. Loại hình này thường do giáo viên giảng dạy thiết kế và thường chỉ có ý nghĩa đánh
giá mức độ thành công của giáo viên trong quá trình giảng dạy, nhằm rút ra những điểm
mạnh và yếu của người học (Richards et. al, 1993).
2.2.4 Kiểm tra kết quả - Achievement tests
Dạng kiểm tra này thường được tiến hành mỗi khi kết thúc khoá học, có thể có chứng chỉ
cho một chương trình đã học. Có vẻ giống như kiểm tra tiến độ nhưng chỉ khác thời
điểm kiểm tra. Mục đích cơ bản của ra đề kiểm tra kết quả là để đánh giá kết quả học
sinh đã đạt được sau một khóa học cụ thể, một chương trình cụ thể.
cho học sinh thấy mình đã tiếp thu điều vừa học đến mức độ nào, còn thiếu sót nào cần
bổ khuyết. Về mặt phát triển năng lực nhận thức giúp học sinh có điều kiện tiến hành các
hoạt động trí tuệ như ghi nhớ, tái hiện, chính xác hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa kiến
thức, tạo điều kiện cho học sinh phát triển tư duy sáng tạo, linh hoạt vận dụng kiến thức
để giải quyết các tình huống thực tế. Về mặt giáo dục học sinh có tinh thần trách nhiệm
cao trong học tập, có ý chí vươn lên đạt những kết quả cao hơn, cũng cố lòng tin vào khả
năng của mình, nâng cao ý thức tự giác, khắc phụ tính chủ quan tự mãn.
Đối với giáo viên: Cung cấp cho giáo viên những thông tin "liên hệ ngược ngoài" giúp
người dạy điều chỉnh hoạt động dạy.
Đối với cán bộ quản lí giáo dục: Cung cấp cho cán bộ quản lí giáo dục những thông tin
về thực trạng dạy và học trong một đơn vị giáo dục để có những chỉ đạo kịp thời, uốn nắn
được những lệch lạc, khuyến khích, hỗ trợ những sáng kiến hay, bảo đảm thực hiện tốt
mục tiêu giáo dục.
2.4.3. Vai trò của kiểm tra-đánh giá trong dạy học hiện nay
Trong nhà trường hiện nay, việc dạy học không chỉ chủ yếu là dạy cái gì mà còn dạy học
như thế nào. Đổi mới phương pháp dạy học là một yêu cầu cấp bách có tính chất đột phá
để nâng cao chất lượng dạy học. Đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi phải tiến hành
một cách đồng bộ đổi mới từ nội dung chương trình sách giáo khoa, phương pháp dạy
học cho đến kiểm tra đánh kết quả dạy học. Kiểm tra đánh giá có vai trò rất to lớn đến
việc nâng cao chất lượng đào tạo. Kết quả của kiểm tra đánh giá là cơ sở để điều chỉnh
hoạt động dạy, hoạt động học và quản lý giáo duc. Nếu kiểm tra đánh giá sai dẫn đến
nhận định sai về chất lượng đào tạo gây tác hại to lớn trong việc sử dụng nguồn nhân lực.
Vậy đổi mới kiểm tra đánh giá trở thành nhu cầu bức thiết của ngành giáo dục và toàn xã
hội ngày nay. Kiểm tra đánh giá đúng thực tế, chính xác và khách quan sẽ giúp người học
tự tin, hăng say, nâng cao năng lực sáng tạo trong học tập.
2.5. Quy trình của việc đánh giá kết quả học tập
10
Đánh giá trong giáo dục là một vấn đề hết sức phức tạp và khó khăn vì nó mang tính tổng
hợp nhiều yếu tố. Vì vậy để đánh giá chính xác một học sinh, một lớp, hay một khóa học,
điều đầu tiên người giáo viên phải làm là xây dựng quy trình, lựa chọn một phương pháp
Theo Quy chế 40 và thông tư 58 thì số lần cho điểm kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định
kỳ của từng môn, điểm kiểm tra học kỳ nhân hệ số 3, đặc biệt là học kỳ II lại nhân 2,
11
cộng với học kỳ I và chia cho 3. Do vậy, thường là vào cuối năm, áp lực thi cử lại dồn lên
học sinh nặng nề hơn.
Kiểm tra đánh giá bị đặt sai mục đích khiến quá trình giáo dục thiếu tính phát triển.
Thật vậy, cách thực hiện kiểm tra đánh giá hiện nay tại Việt Nam chỉ chăm chăm
vào mục tiêu tổng kết quá trình để đưa ra những kết luận về năng lực của học sinh mà
không hề quan tâm đến mục tiêu phát triển năng lực học sinh mà đang vận hành theo
hướng lấy các kỳ thi quan trọng làm trung tâm (ở cấp THPT là 2 kỳ thi tốt nghiệp
THPT và tuyển sinh đại học). Tất cả mọi hoạt động của nhà trường và giáo viên trong
suốt quá trình học tập của học sinh đều hầu như chỉ nhằm giúp học sinh đối phó với các
kỳ thi này bằng con đường ngắn nhất, như cho sẵn các bài luận mẫu, hoặc cung cấp cách
giải những bài tập thường xuất hiện trong các kỳ thi. Những hoạt động mang tính phát
triển toàn diện và bền vững như kỹ năng suy luận, tư duy logic, phán đoán, kỹ diễn đạt
ngôn ngữ qua lời nói hoặc bài viết, kỹ năng trình bày một vấn đề trước đám đông, tất cả
đều có thể bị bỏ qua vì chúng không trực tiếp làm tăng điểm số đạt được từ các kỳ
thi, và trong nhiều trường hợp HS chỉ còn là những cái máy cố gắng nhồi nhét vào bộ
nhớ của mình một cách không phê phán và không chọn lọc toàn bộ mớ kiến thức khổng
lồ của chương trình đào tạo. Như vậy, với cách kiểm tra đánh giá hiện nay, kinh nghiệm
của nhiều học sinh có học lực trung bình (theo cách đánh giá hiện nay) về quá trình
học tập tại trường THPT chỉ là một chuỗi ngày lê thê và nặng nề vật lộn với mớ kiến
thức sách vở và đối phó với các đợt kiểm tra đánh giá mang tính ‘kết án’. Nói chung, các
em rất sợ và ghét việc kiểm tra, vì mỗi lần kiểm tra là mỗi lần các em học sinh nhận
được một điểm số để biết rằng mình yếu hơn so với nhiều học sinh khác, nhưng các em
hầu như hoàn toàn không được giúp đỡ để hiểu được làm cách nào có thể học tốt hơn.
Toàn bộ nỗ lực kiểm tra đánh giá của nhà trường chỉ có tác dụng như những lần sơ kết
trước khi đi đến một kết luận mang tính tổng kết, để nhắc đi nhắc lại cho các em một
thực tế đáng buồn rằng kết cục của các em có thể là một sự thất bại không tránh khỏi
trước các kỳ thi lớn! Khả năng vượt qua các kỳ thi của các em vẫn rất bấp bênh, và một
Kiểm tra đánh giá mang tính áp đặt nên không khuyến khích được tính chủ động
và sáng tạo của học sinh trong quá trình học. Hệ thống kiểm tra đánh giá hiện nay
không cho phép học sinh có một quyền lựa chọn trong việc thể hiện năng lực của mình,
và làm hạn chế rất nhiều tính chủ động và sáng tạo của học sinh. Với kiểm tra đánh giá
mà trọng tâm chỉ là việc tái hiện lại kiến thức đã học trong sách vở, học sinh không
những không có điều kiện thể hiện bất kỳ sự hiểu biết hoặc năng lực mà các em đã rèn
luyện được bên ngoài lớp học, thậm chí những kỹ năng và kiến thức bên ngoài của các
em còn có nguy cơ làm giảm đi kết quả đánh giá nếu những điều các em biết không trùng
với đáp án chính thức. Hơn nữa, kết quả của các đợt kiểm tra đánh giá chỉ là những con
số vô hồn. Học sinh đạt điểm cao cũng không có điều kiện chia sẻ với các bạn học về
những nguyên nhân dẫn đến thành quả tốt đẹp của mình để những học sinh khác có thể
học hỏi. Tất cả các học sinh dần dần mất đi tính chủ động và sáng tạo, mất đi khả năng tự
phát hiện và giải quyết vấn đề. Trong khi đó, theo quan điểm của xu hướng kiểm tra đánh
giá mới thì những lần kiểm tra chính là những cơ hội để tạo nên sự tương tác giữa giáo
viên và học sinh, và giữa các học sinh với nhau.
Chương 2: Các biện pháp thực hiện
13
Giáo viên là người chịu trách nhiệm chính trong quá trình kiểm tra, đánh giá học
sinh. Vì vậy giáo viên cần chú đổi mới những yếu tố sau đây để việc đánh giá kết quả
học tập của học sinh được chính xác
Biện pháp 1: Đổi mới về thời điểm kiểm tra, đánh giá
Kiểm tra đánh giá không chỉ thực hiện trong thời gian cuối cùng của kỳ học hoặc năm
học, mà thực hiện trong cả quá trình học tập bộ môn. Cụ thể là sau mỗi phần học thì kiểm
tra đánh giá ngay,lần kiểm tra sau có yêu cầu cao hơn, hình thức kiểm tra mới hơn lần
trước.
Biện pháp 2: Đổi mới việc sử dụng kết quả kiểm tra, đánh giá
Hầu hết nhà trường chỉ dùng kết quả điểm số để phân loại học lực của học sinh và để xét
thi đua. Tuy nhiên, kết quả kiểm tra, đánh giá còn cung cấp thông tin quan trọng và chính
xác về quá trình học tập môn Anh cho học sinh, cũng như quá trình dạy môn Anh trong
trường THPT cho giáo viên, cho Ban giám hiệu của trường THPT, cho cán bộ quản lý bộ
pháp
Thứ hạng Số lần
kiểm tra/ kỳ
4 3 6 5 1 2
Phân tích thống kê cho thấy, kiểm tra từ vựng là loại kiến thức được giáo viên quan tâm
nhiều nhất ; kiểm tra ngữ pháp xếp hạng 2; kiểm tra viết đứng hạng thứ 3; kiểm tra kỹ
năng đọc hiểu xếp hạng 4 và kiểm tra kỹ năng nói xếp hạng 5 và kỹ năng Nghe hạng 6.
Kết quả này cho thấy phần lớn giáo viên chú trọng rèn luyện ở học sinh kiến thức về từ
vựng, ngữ pháp và viết nhiều hơn các loại kỹ năng/ kiến thức khác trong khi mục tiêu của
chương trình tiếng Anh cải cách là tập trung vào phát triển khả năng giao tiếp của học
sinh nhiều hơn các kiến thức/kỹ năng. Thống kê số lần giáo viên kiểm tra đánh giá
từng loại kỹ năng/kiến thức cũng cho kết quả tương tự, giáo viên thường kiểm tra học
sinh về từ vựng, về ngữ pháp (thường dưới hình thức kiểm tra bài cu) nhiều nhất, theo
sau là số lần kiểm tra học sinh kỹ năng viết từ và kỹ năng đọc hiểu. Kỹ năng nghe, nói
được giáo viên kiểm tra ít nhất.
Giáo viên phải chú trọng kiểm tra đều 4 kỹ năng (nghe, nói, đọc, viết) với 3 loại lý do
sau là: thứ nhất la để kiểm tra đánh giá đúng trình độ học sinh (nắm đúng trình độ học
sinh, học sinh cảm thấy công bằng, đánh giá học sinh từ yếu tới giỏi, để đánh giá học
sinh không thiên vị, bài kiểm tra phải dàn đều làm học sinh yếu kém bí và nản. Mặt khác,
nó giúp học sinh có thói quen học tập (tránh chủ quan, không lơ là việc học, mọi học sinh
đều có thái độ chuẩn bị bài học tốt.
Vậy nếu xét về thời gian thực hiện kiểm tra (miệng, 15 phút, 45 phút và học kỳ) thì
mức độ giáo viên sử dụng kiểm tra những kỹ năng/kiến thức theo bảng sau:
Bảng 2: Mối quan hệ giữa hình thức kiểm tra kỹ năng và kiến thức
Kỹ năng /
Kiến thức
Kiểm tra
miệng
Kiểm tra
có biện pháp phụ đạo, để động viên các em khá giỏi phát huy khả năng hơn nữa, học sinh
yếu kém thực hành nhiều hơn) thì giáo viên cung cần quan tâm đến các hình thức kiểm
tra nằm giúp các em học sinh có thể tự đánh gía được khả năng của mình, pháy huy
nhưng điểm mạnh và khắc phục điểm yếu. Đối với môn Tiếng Anh THPT, các hình thức
kiểm tra đánh giá cơ bản gồm: kiểm tra miệng (vấn đáp), kiểm tra 15 phút, và kiểm tra 1
tiết.
16
a. Kiểm tra miệng (vấn đáp) còn thực hiện máy móc. Thông thường, việc kiểm tra kết
quả học tập của từng học sinh trong từng tiết học biểu hiện bằng việc kiểm tra miệng 5
đến 10 phút đầu giờ. Giáo viên gọi từng học sinh lên trả lời miệng trước lớp về việc thuộc
từ mới, cấu trúc ngữ pháp sau đó đánh giá cho điểm. Kiểm tra miệng cũng có một số ưu
điểm là giúp học sinh chăm hơn vì các em thường xuyên phải đối mặt kiểm tra đầu giờ,
các em có thức chuẩn bị bài ở nhà đầy đủ hơn. Mặt khác, loại bài kiểm tra này tăng khả
năng giao tiếp cho sinh, giúp việc tính điểm rõ ràng, thực hiện khách quan, minh bạch.
Tuy nhiên, 5 phút hoặc 10 phút đầu giờ không kiểm tra được nhiều học sinh, thông
thường giáo viên kiểm tra rồi thì không kiểm tra học sinh đó nữa vì vậy các em đã được
kiểm tra sẽ không học bài dẫn đến hổng kiến thức. Hơn thế nữa, kết quả bài mới bị hạn
chế do tốn rất nhiều thời gian kiểm tra bài cũ. Học sinh thường thụ động, không phát huy
được tính tư duy, sáng tạo của học sinh vì học sinh không phải suy nghĩ đến tổng hợp
lượng kiến thức vốn có của mình cho việc kểm tra và thường học bài mang tính chất đối
phó. Giáo viên có thể bỏ hẳn kiểm tra miệng đầu giờ mà vào bài mới ngay trong quá
trình kiểm tra bài mới, giáo viên có thể hỏi học sinh kiến thức cũ, lồng ghép vào bài mới.
Bỏ bước này thì thời gian dạy bài mới được nhiều hơn, bài giảng sâu hơn mà trong quá
trình bài dạy mới vẫn có thể kiểm tra được học sinh. Hơn nữa giáo viên lại có thể kiểm
tra được rất nhiều cặp học sinh nói.
Kiểm tra vào đầu tiết học: Giáo viên ra bài tập, gọi một học sinh lên bảng làm và cả lớp
cùng làm trên giấy, sau đó giáo viên có thể thu bài làm của một vài em để chấm. Cuối
cùng cả lớp tham gia nhận xét bài làm trên bảng. Hoăc để kiểm tra từ vựng giáo viên gọi
một lượt 4 học sinh lên bảng. Giáo viên đưa ra câu hỏi chung cho tất cả, học sinh nào trả
lời được trước thì giáo viên cho phép. Các học sinh còn lại sẽ trả lời các câu hỏi phụ hoặc
in Scotland.
Kiểm tra trong quá trình dạy bài mới: Giáo viên cho các em làm ngay những bài
tập viết ra giấy lúc các em trao đổi nội dung bài mới, đổi bài cho nhau để các em cùng
kiểm tra (cross-check). Giáo viên thu bài tập của học sinh để chấm điểm đánh giá việc
học của các em. Hoặc trong quá trình dạy, những câu hỏi cần học tư duy được các em
xung phong trả lời đúng giáo viên nhận xét, đánh giá cho điểm. Ví dụ như bài Unit 12-
Writing a profile, giáo viên chia học sinh viết bài theo nhóm (dưa trên thông tin mà giáo
viên cung cấp), học sinh viết rồi chưa bài cho nhóm của bạn mình, giáo viên chấm cả bài
viết và bài chưa của nhóm đó.
18
1. born on February 28
th
1939 / Huế
2. write more than 990 songs: Diêm Xưa, Nối vòng tay lớn.
3. died in HCM city / April 1
st
2001
1. born in 1975 in Hanoi.
2. graduate from Hanoi Conservatory / 1977
3. received many prizes: the first prize in Hanoi’s Singing
Competition, the Golden Voice of Asian / 1998
4. famous albums: Made in VietNam, Chat with Mozart.
Kiểm tra thông qua một số hoạt động khác: Kiểm tra thông qua công việc giao về nhà
như: Làm đồ dùng trực quan (Theo nhóm làm bản đồ tư duy hoặc biểu bảng- Câu điều
kiện)
19
Hoặc soạn kiến thức ôn tập, soạn một số bài tập liên quan đến một chủ đề cụ thể, thông
qua hoạt động ngoại khóa môn Anh ở lớp hoặc ở trường. Hãy thử xét một tình huống
kiểm tra đánh giá như sau: các học sinh được yêu cầu làm việc theo nhóm để sưu tầm các
tư liệu về chủ đề: HISTORICAL PLACES (English 10- Unit 16- speaking) sau đó trao
Listen again then answer the following statements
5. How did The Beatles change the pop music?
______________________________________________-
6. Who wrote the songs they sang?
______________________________________________-
7. When did they split up?
______________________________________________-
21
8. What was their first hit record in 1964?
______________________________________________-
15 MINUTE- TEST (No 2)
I. PRONUNCIATION: Circle the word that has the underlined part pronounced
different from the other three.
1. a. famous b. flourish c. honour d. behaviour
2. a. citadel b. brilliant c. architecture d. site
II. VOCABU&ARY AND EXPRESSION: Choose the word or phrase that best
completes the sentence or substitutes for the underlined word.
1. Temple of Literature is a the famous historical and cultural in Ha Noi.
a. temple b. remain c. ground d. site
2. All the pillars of the old house were carved with ornamental designs.
a. written b. engraved c. painted d. decorated
3. Van Mieu was a place to the most brilliant scholars of the nation.
a. remember b. memorialize c. certify d. impress'
4. Few businesses are flourishing in the present economic climate.
a. growing well b. setting up c. closing down d. taking off
5. Hue Imperial City was certified as a World Cultural in 1993.
a. History b. Tradition c. Heritage d. Site
III. GRAMMAR AND STRUCTURE
A. Choose the word or phrase - b, c, or d - that best completes sentence.
1. Where is Cu Chi situated?
a. At the entrance to Sai Gon. b. In Sai Gon.
c. On the way to a revolutionary base. d. Near Cu Chi Tunnels
2. Cu Chi tunnel
a. is very wide and long.
b. is a complicated network of winding passages.
c. has a thin layer of earth above.
d. connects underground networks.
3. The word 'them' in line 15 refer to
a. the guerillas b. the tunnels c. the openings d. earth and stone
4. People who visited Cu Chi Tunnel
23
a. set foot in that tunnel network.
b. was impressed by the work of the communist guerillas.
c. admired the complication of the tunnel network.
d. made it a wonder of the 20th century.
5. Which of the following sentences is true?
a. Cu Chi was an important revolutionary base.
b. The area-of Cu Chi is about 200 square kilometers.
c. The soil in Cu Chi is uncultivated.
d. Cu Chi was called a wonder of 20th century.
2. Writing: Write a paragraph that describes the facts and figure provided.
HA&ONG BAY, A WONDER OF THE WOR&D
-170 kilometers east of Hanoi -World Heritage listed by UNESCO
( December 17
th
1994)
-One of Vietnam’s most popular tourist destination
-Halong Bay’s nice places to visit: Dau Go cave, Sung sot cave, Thien Cung grotto, Titop
island, Ga choi Islet
3. Chấm bài nhanh, chính xác,
khách quan.
4. Tạo điều kiện để HS tự đánh
giá kết quả học tập của mình
một cách chính xác.
5 Sự phân phối điểm trên diện
rộng, nên có thể phân biệt rõ
ràng trình độ học sinh
6 Có thể sử dụng các phương
tiện hiện đại trong chấm bài và
phân tích kết quả kiểm tra của
học sinh
Nhược điểm
-Bài KT chỉ có một số câu hỏi
nên chỉ có thể kiểm tra được
một phần kiến thức và kỹ năng
của HS, dễ gây hiện tượng dạy
tủ, học tủ.
- Mất nhiều thời gian để tiến
hành kiểm tra trên diện rộng.
- Chấm bài mất nhiều thời gian,
khó chính xác
- HS khó có thể tự đánh giá
chính xác kết quả học tập của
mình.
-Sự phân phối điểm trên diện
hẹp, nên khó có thể phân biệt
được rõ ràng trình độ học sinh.
- Không sử dụng được phương
tiện hiện đại trong chấm bài và