SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO PHỔ CẬP GIÁO DỤC TIỂU
HỌC ĐÚNG ĐỘ TUỔI”
1
PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
“Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ
xây dựng và phát triển tình cảm, đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và thể chất của trẻ em, nhằm
hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách con người Việt Nam xã
hội chủ nghĩa.” (Theo điều 2 – Luật Phổ cập Giáo dục Tiểu học)
“Giáo dục tiểu học phải bảo đảm cho học sinh nắm vững các kỹ năng nói, đọc, viết,
tính toán, có những hiểu biết cần thiết về thiên nhiên, xã hội và con người; có lòng nhân
ái, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, yêu quý anh chị em; kính trọng thầy giáo, cô giáo, lễ
phép với người lớn tuổi; giúp đỡ bạn bè, các em nhỏ; yêu lao động, có kỷ luật; có nếp
sống văn hoá; có thói quen rèn luyện thân thể và giữ gìn vệ sinh; yêu quê hương đất
nước, yêu hoà bình.” (Theo điều 3 – Luật Phổ cập Giáo dục Tiểu học)
Giáo dục Tiểu học là bậc học bắt buộc, không phải trả học phí. Giáo dục tiểu học được thực
hiện trong 5 năm, từ lớp1 đến lớp 5. Tuổi học sinh vào học lớp một là sáu tuổi. Mọi trẻ em bình
thường từ 6 đến 14 tuổi đều có quyền và nghĩa vụ học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập tiểu
học.
Ngoài ra, trẻ khuyết tật cũng được hưởng quyền được học tập hoà nhập với các trẻ bình
thường khác trong cùng môi trường học tập ở tiểu học.
Tổ chức điều tra nắm bắt số liệu huy động trẻ ra lớp, xử lí số liệu, thống kê, lập báo cáo
kết quả và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học là một trong những nhiệm vụ quan
trọng trong nhà trường hàng năm. Vì vậy đòi hỏi người cán bộ quản lí phải có kế hoạch cụ thể,
rõ ràng, khoa học thì công tác PCGDTH ĐĐT mới đạt kết quả cao.
huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
3
PHẦN II: NỘI DUNG
CHƢƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
I. Cơ sở lý luận
Bậc tiểu học có vị trí nền móng trong hệ thống giáo dục quốc dân. Nhà trường tiểu
học là nơi đặt những viên gạch đầu tiên trong việc xây dựng nhân cách cho học sinh, giúp
HS được phát triển toàn diện.
Phổ cập giáo dục Tiểu học là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước, nhằm góp phần
nâng cao dân trí, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Mọi trẻ em trong độ tuổi đi học
của cấp học đều có quyền được học tập, giao tiếp trong môi trường thân thiện, yêu
thương; được gia đình và toàn xã hội chăm lo, tạo điều kiện thuận lợi để các em thực hiện
nhiệm vụ học tập và nhất là đội ngũ làm công tác giáo dục trong các trường tiểu học đóng
vai trò hết sức quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục.
Giáo dục tiểu học là điều kiện cơ bản để nâng cao dân trí, là cơ sở ban đầu hết sức
quan trọng cho việc đào tạo trẻ em trở thành công dân tốt của đất nước. Giáo dục tiểu học
nước ta đã và đang thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học đối với tất cả trẻ em trong độ tuổi
từ 6 đến 14 tuổi theo điều 1, điều 2, điều 3 của Luật phổ cập giáo dục tiểu học số 56LCT/HĐNN8 ngày 12/08/1991.
Chính vì vậy, những người làm công tác quản lí giáo dục luôn quan tâm đến việc
đổi mới công tác quản lí, duy trì thành tựu PCGDTHĐĐT, mà trước hết là nâng cao chất
lượng giáo dục hằng năm.
II. Thực trạng của vấn đề
Xã Hùng An là một xã thuần nông, đa số các hộ dân trong xã sống bằng nghề sản
xuất nông nghiệp. Trường Tiểu học được đặt tại trung tâm xã, tháng 3/2010 trường đã
được công nhận: “Trường Chuẩn Quốc gia mức độ I”, năm học 2013-2014 trường có 14
lớp với 405 học sinh (Trong đó có 4 học sinh khuyết tật hòa nhập). Tổng số cán bộ, giáo
viên và nhân viên là 25 đồng chí. 100% học sinh trong nhà trường đều học 10 buổi/tuần.
án quy hoạch phát triển trường lớp, xây dựng đội ngũ, đồng thời Ban giám hiệu chủ động
đề xuất kế hoạch sửa chữa nâng cấp trường lớp để đáp ứng được nhu cầu học tập của con
em nhân dân trong địa bàn xã.
II. Xác định đúng trọng tâm các mục tiêu và thực hiện tốt các nội dung cơ bản
của công tác PCGDTH ĐĐT theo Thông tƣ 36 của Bộ GD-ĐT
1. Thực hiện tốt công tác huy động và công tác tuyển sinh
Hùng An là một xã có điều kiện kinh tế tương đối ổn định, xã hội phát triển, công tác
huy động trẻ đến trường những năm qua không gặp khó khăn, hàng năm huy động 100%
trẻ trong độ tuổi thuộc đối tượng phải phổ cập đến trường, do đó, để nâng cao chất lượng
5
Phổ cập, nhà trường luôn quan tâm tới công tác huy động, vận động trẻ khuyết tật, trẻ có
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa bàn xã đến trường... Nhà trường phân công các
thành viên trong Tổ phổ cập kết hợp với các ban ngành đoàn thể trong các thôn thực hiện
có hiệu quả việc theo dõi trẻ phải phổ cập; phối hợp với Hội cha mẹ học sinh, Đoàn thanh
niên, Hội phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Mặt trận,... khu dân cư quan tâm, giúp đỡ trẻ em
có hoàn cảnh khó khăn được tới trường.
2. Tập trung xây dựng đội ngũ theo hướng đảm bảo về chất lượng, đủ về số lượng
và cơ cấu
Một trong những nguyên nhân các nhà trường đạt chuẩn PCGDTHĐĐT mức độ 2
khó khăn là do chưa đảm bảo yêu cầu về số lượng, cơ cấu đội ngũ giáo viên theo quy
định tại Thông tư 36/2009 của Bộ GD-ĐT. Để giải quyết khó khăn này, trong những năm
qua nhà trường đã chú ý tham mưu với Phòng GD&ĐT, Phòng Nội vụ quan tâm bố trí đủ
loại hình giáo viên: Giáo viên văn hóa, giáo viên Âm nhạc, Mỹ thuật, tiếng Anh, Tin học,
Thể dục,... Qua nhiều năm tập trung thực hiện, về cơ bản, đến nay đội ngũ của nhà trường
đã đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, chuẩn về trình độ, có tinh thần trách nhiệm, năng
động và sáng tạo trong công việc, thực sự đáp ứng nhu cầu phát triển giáo dục tại địa
phương.
3. Quan tâm về cơ sở vật chất, hệ thống trường lớp, hiện đại hóa trang thiết bị dạy học
tạo, do đó, chất lượng giáo dục phản ánh một cách thực chất, hiệu quả giáo dục hàng năm
đạt xấp xỉ 99%.
Để đạt được kết quả trên, Ban giám hiệu nhà trường luôn thực hiện nguyên lí giáo
dục: “Học đi đôi với hành, giáo dục gắn liền thực tiễn, nhà trường gắn liền xã hội”. Sinh
thời Bác Hồ đã dạy: “Giáo dục phải theo hoàn cảnh và điều kiện”. Thực tế cho thấy, đổi
mới phương pháp dạy học phải bắt đầu từ việc đổi mới công tác quản lí giáo dục mà vai
trò cốt lõi để tổ chức thực hiện đó là người cán bộ quản lí giáo dục các cấp. Đặc biệt là
người CBQL ở từng đơn vị tại các cơ sở biểu hiện rõ nhất ở phong cách, thái độ, cách
nghĩ, cách làm, cách tổ chức thực hiện và đánh giá của người Hiệu trưởng. Hiệu trưởng
có đổi mới cách làm, cách nhìn nhận, cách đánh giá cấp dưới thì từng CBGVNV mới có
động cơ đổi mới phương pháp làm việc nói chung và phương pháp dạy học nói riêng.
Xuất phát từ nhận thức đó, tôi luôn quan tâm đến công tác PCGDTH ĐĐT, quan tâm
đến việc tổ chức dạy học theo điều kiện hoàn cảnh của trường mình; đặc biệt là không vì
“bệnh thành tích” mà chạy theo số lượng. Tôi luôn coi trọng công tác vận động, tuyên
truyền.
*) Thực hiện nâng cao chất lượng dạy và học ở trường gắn với xây dựng trường
học thân thiện, học sinh tích cực, thực hiện các tiêu chuẩn trường Chuẩn Quốc gia trong
điều kiện khả năng nội lực để tạo niềm tin của nhân dân và địa phương đối với trường.
*) Công tác quản lí nhất thiết phải xây dựng kế hoạch.
Kế hoạch cần phải chi tiết cụ thể đến từng nhóm CBQL, GV, NV, HS. Từng bộ
phận phải xây dựng kế hoạch riêng cho bộ phận mình trên cơ sở cụ thể hoá kế hoạch của
trường. Kế hoạch hoá các chỉ tiêu mang tính thực tiễn cao.
*) Tạo điều kiện để GV nào cũng tự tin hơn trong quá trình thực hiện cụ thể hoá
chương trình, chủ động trong việc giảng dạy dựa trên chương trình, chuẩn kiến thức, kĩ
7
năng. Đặc biệt quan tâm tới chất lượng đại trà và chất lượng mũi nhọn, nhằm giảm tối
thiểu học sinh lưu ban, tăng số lượng học sinh khá giỏi.
phong phú.
Nhà trường thường xuyên tổ chức các buổi trồng cây đầu xuân; kỉ niệm các ngày lễ
lớn; tổ chức sinh hoạt tập thể theo chủ điểm hàng tháng; tham mưu với UBND xã để tăng
8
cường cơ sở vật chất về phòng chức năng, sân chơi, bãi tập, … nhằm tạo cảnh quan xây
dựng môi trường học tập theo hướng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”.
Ngoài ra, vai trò của Hội khuyến học và các đoàn thể đã có tác động khá lớn đối với
công tác PCGDTH ĐĐT, nhà trường đã có sự phối hợp với các đoàn thể địa phương, tổ
chức quyên góp, tặng sách vở, quần áo, dụng cụ học tập cho học sinh có hoàn cảnh khó
khăn; việc trao học bổng, tặng quà cho học sinh nghèo, học sinh vượt khó học giỏi…
được địa phương, tập thể, cá nhân, các tổ chức xã hội quan tâm, góp phần nâng cao chất
lượng PCGDTH ĐĐT trên địa bàn xã.
6. Thực hiện tốt công tác quản lí số liệu và quản lí hồ sơ PCGDTH ĐĐT
Để thực hiện tốt công tác quản lí số liệu trẻ phải phổ cập trong địa bàn và lập hồ
sơ lưu trữ có giá trị lâu dài, nhiệm vụ đầu tiên người quản lí phải có kế hoạch tổng điều
tra sau 5 năm và điều tra bổ sung hằng năm để nắm chắc số liệu cần tập trung huy động
ra lớp đồng thời làm căn cứ cho việc lập kế hoạch phát triển trường lớp theo từng giai
đoạn cụ thể. Kế hoạch phải rõ người, rõ việc, rõ thời gian hoàn thành gắn với nội dung thi
đua của từng cá nhân và tập thể.
*) Đối với giáo viên trực tiếp giảng dạy: Địa bàn xã có 6 thôn, mỗi thôn đều thành
lập tổ điều tra cố định gồm từ 2 đến 3 giáo viên phụ trách, trong mỗi tổ đều có giáo viên
là người địa phương hoặc có am hiểu về đặc điểm sinh hoạt của nhân dân thôn đó.
Trong quá trình điều tra, yêu cầu GV điều tra phải phối hợp chặt chẽ với ủy ban
nhân dân xã, trưởng ban dân số thôn để nắm được tổng số hộ phải điều tra, đặc điểm sinh
hoạt của nhân dân thôn đó. Trong quá trình điều tra tuyệt đối không dừng lại ở chỗ chỉ
đến nhà trưởng thôn hoặc cộng tác viên dân số để lấy số liệu mà phải đến từng hộ dân để
điều tra, nắm bắt thông tin của trẻ, có như vậy mới ghi chép chính xác, cập nhật thông tin
vào lớp 1, đối chiếu số trẻ 6 tuổi để huy động 100% trẻ PPC ra lớp. Khi cần nhờ đến
chính quyền địa phương, các hội đoàn thể để giúp đỡ và huy động các em ra lớp.
Riêng sổ theo dõi phổ cập cần ghi rõ nơi ở từ thôn, xã huyện, tỉnh; sổ đăng bộ phải ghi
chép đầy đủ thông tin của từng trẻ đã đến trường. Các loại sổ này luôn luôn được BGH kiểm tra
và kí, đóng dấu nhà trường hằng năm; riêng sổ theo dõi phổ cập phải được BGH kiểm tra và kí
vào tháng 9 hằng năm trước khi lên thống kê.
Bản thân tôi là người chịu trách nhiệm chính từ khâu tổ chức huy động trẻ ra lớp
đến khâu thống kê, cập nhật số liệu, tìm minh chứng có sự cộng tác của GV, nhân viên
phụ trách PC và sự chỉ đạo, theo dõi, giám sát của Hiệu trưởng.
Tổ chức điều tra chu đáo, phân công trách nhiệm rõ ràng, dưới sự quan tâm sâu sát của
Hiệu trưởng, nhiều năm qua đơn vị tôi huy động đạt 100% trẻ trong diện phải phổ cập ra lớp
và không phải mất nhiều công sức cho công tác này.
III. Hiệu quả của SKKN
Áp dụng những kinh nghiệm trên trong nhiều năm qua và nhất là năm học 2013-2014
này đã làm cho diện mạo trường tôi có nhiều khởi sắc đáng mừng như:
*) Về công tác PCGDTHĐĐT: là đơn vị nhiều năm liền làm tốt công tác huy động
trẻ ra lớp, không có sai sót đáng tiếc về hồ sơ PCGDTH; không phải mất nhiều công sức
của bộ phận làm hồ sơ; được tiếp cận với các đoàn kiểm tra về công tác Phổ cập cấp trên
10
đều được đánh giá là đơn vị thực hiện tốt công tác điều tra, báo cáo, thống kê, xử lí số
liệu, minh chứng cụ thể, giải trình thông suốt của CBQL nhà trường. Là đơn vị đạt chuẩn
về PCGDTHĐĐT mức độ 2. Đặc biệt là đã biết kết hợp với các hội đoàn thể trong và
ngoài nhà trường huy động 100% số trẻ phải phổ cập đến trường, luôn duy trì sĩ số trên
lớp. Trong năm học này, nhà trường đã đạt được kết quả cụ thể như sau:
1. Về học sinh
Tổng số trẻ từ 6 – 14 tuổi trên địa bàn: 716 ; nữ: 349 ; Khuyết tật: 2
Trong đó:
- Trẻ 6 – 10 tuổi:
Cấp tỉnh: 2 giáo viên
Cấp huyện: 4 giáo viên
Cấp trường : 13 giáo viên
3. Cơ sở vật chất
- Số phòng học: 14 phòng (Trong đó: Kiên cố 11phòng , tỷ lệ 78,6% )
- Tỷ lệ phòng học/ lớp: 1,0phòng/lớp
- Mạng lưới trường, lớp phù hợp tạo điều kiện cho trẻ em đi học thuận lợi. Phòng học
an toàn, có bảng, đủ bàn ghế đúng quy cách cho học sinh, giáo viên; đủ ánh sáng, thoáng
mát về mùa hè, ấm về mùa đông; có tủ đựng hồ sơ, thiết bị dạy học.
- Phòng chức năng: Trường học có văn phòng; thư viện; phòng giáo viên; phòng
hiệu trưởng; phòng phó hiệu trưởng; phòng thiết bị giáo dục; phòng giáo dục nghệ thuật;
phòng truyền thống và hoạt động Đội; phòng y tế học đường; phòng thường trực bảo vệ.
Các phòng có đủ các phương tiện, thiết bị cần thiết để phục vụ hoạt động dạy học và giáo
dục trong nhà trường.
- Trường học có sân chơi, sân tập đảm bảo điều kiện cho học sinh vui chơi và tập
luyện an toàn.
- Cổng trường, biển trường, tường bao quanh trường; có nguồn nước sạch; có khu
để xe; có khu vệ sinh sạch sẽ, thuân tiện dành riêng cho nam, nữ, học sinh , giáo viên;
đảm bảo môi trường xanh, sạch, đẹp, an toàn và thân thiện.
Có được kết quả đó nhờ công tác tuyên truyền, vận động của đội ngũ thầy cô giáo và
thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục đã cho các em niềm vui lớn – niềm vui được đi
học và vui chơi trong môi trường thân thiện, yêu thương của thầy cô cũng như bạn bè
cùng lớp, cùng trường.
Từng cán bộ giáo viên, nhân viên trong nhà trường cũng thấy rõ hơn vai trò trọng
trách của mình để tự giác tham gia công tác điều tra bổ sung, huy động trẻ ra lớp, thiết
lập hồ sơ báo cáo thống kê hằng năm.
12
ban đầu
đạt được
Tỉ lệ trẻ 6 tuổi vào lớp 1
100%
100%
Duy trì tốt
Tỉ lệ trẻ 11 tuổi HTCT
90%
93%
Tăng 3%
100%
Duy trì tốt
Các tiêu chí
Tỉ lệ trẻ học 10 buổi/ tuần 100%
Hiệu quả
59%
68%
Tăng 9%
Các loại hình GV
GV văn hóa, Âm GV văn hóa, Âm Tăng
loại
nhạc, Mĩ thuật
nhạc, Mĩ thuật, hình GV
Tiếng Anh, Thể
dục, Tin học
Các tiêu chí
Hiệu quả
* Về tiêu chuẩn 3: Cơ sở vật chất
Các tiêu chí
Tỉ lệ phòng học/lớp
Các phòng
năng
Khảo sát
Kết quả
ban đầu
* Bảng so sánh kết quả chung về Chuẩn PCGDTHĐĐT:
14
Khảo sát
Kết quả
ban đầu
đạt được
Đạt
PCGDTHĐĐT
mức độ 1
Chuẩn Đạt
PCGDTHĐĐT
mức độ 2
Hiệu quả
Chuẩn Nâng
cao
chất
lượng
PCGDTHĐĐT
Căn cứ vào bảng so sánh đối chiếu các số liệu của từng tiêu chuẩn Phổ cập Giáo dục
Tiểu học đúng độ tuổi theo thông tư 36 về Chuẩn Phổ cập Giáo dục Tiểu học đúng độ
yêu cầu cao.
5. Xã hội hoá công tác phổ cập giáo dục là phương án tối ưu để thực hiện thành
công công tác Phổ cập GDTH đúng độ tuổi, cần tích cực tuyên truyền, phối hợp, huy
động các nguồn lực, các lực lượng xã hội để thực hiện các mục tiêu PCGD.
6. Phổ cập GDTH đúng độ tuổi phải đi liền với Phổ cập giáo dục Trung học cơ sở.
Phổ cập GDTH đúng độ tuổi là tiền đề vững chắc để thực hiện Phổ cập GD Trung học cơ
sở. Mặt khác, để hoàn thành và duy trì Phổ cập giáo dục Tiểu học vững bền cần phải
quan tâm ngay từ phổ cập giáo dục mầm non để làm nền tảng sau này.
II. Ý nghĩa của SKKN
Sáng kiến kinh nghiệm “Một số giải pháp nâng cao chất lượng Phổ cập Giáo dục
16
Tiểu học đúng độ tuổi” mang một ý nghĩa rất quan trọng và là việc làm hết sức cần
thiết bởi lẽ Phổ cập giáo dục là mục tiêu Quốc gia nhằm nâng cao dân trí cho một lực
lượng lao động tương lai của địa phương. Vì vậy, việc thực hiện phổ cập giáo dục tiểu
học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục THCS, tiến tới phổ cập giáo dục Trung học phổ
thông có ý nghĩa chiến lược vô cùng quan trọng.
III. Khả năng ứng dụng triển khai
Đề tài có thể áp dụng rộng rãi tại các đơn vị trường Tiểu học.
IV. Một số hạn chế của SKKN
- Phần phân tích thực trạng về công tác Phổ cập Giáo dục tiểu học đúng độ tuổi ở
đơn vị còn chung chung, chưa cụ thể.
– Phần các giải pháp nâng cao chất lượng PCGDTH ĐĐT ngoài việc đưa ra các giải
pháp chính, nên phân tích chi tiết hơn.
V. Những kiến nghị đề xuất
- Để công tác PCGDTHĐĐT được thuận lợi, trong công tác chỉ đạo từ cấp tỉnh đến
cơ sở cần có sự thống nhất, đồng bộ, tránh chồng chéo giữa các cấp học về kế hoạch, hồ
sơ, biểu mẫu thống kê, không nên tách biệt về ban chỉ đạo, kế hoạch và nội dung hoạt
động của công tác PCGD các cấp học, bậc học.
- PCGDTHĐĐT: Phổ cập Giáo dục tiểu học đúng độ tuổi
- HTCTTH: Hoàn thành chương trình tiểu học
- PPC: phải phổ cập
- GV: giáo viên
- HS: học sinh
- NV: nhân viên
-CB: cán bộ
- CBQL: Cán bộ quản lý
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Công văn số 270/PGD&ĐT ngày 29 tháng 8 năm 2013 về việc hướng dẫn thực
hiện phổ cập GDTH đúng độ tuổi mức độ 2, năm 2013.
2. Điều lệ Trường tiểu học (NXB: Giáo dục);
3. Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học (NXB: Giáo dục).
4. Luật Giáo dục năm 2005;
5. Một số vấn đề về đổi mới giáo dục tiểu học vì sự phát triển bền vững (NXB Giáo
dục);
6. Nhiệm vụ năm học 2013 – 2014 của Phòng GD&ĐT Kim Động, trường Tiểu học
Hùng An;
7. Quản lí giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật dành cho GV tiểu học (NXB: Giáo dục);
8. Quyết định 14/2007/BGD&ĐT quy định về chuẩn nghề nghiệp của GVTH;
9. Quyết định 16/2006 quy định về chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học và
Công văn 896/2006 của BGD&ĐT và những quy định về chuẩn kiến thức, kĩ năng
đối với từng môn, từng khối lớp của BGD&ĐT (Năm 2009);
10.
Luật phổ cập giáo dục tiểu học số 56-LCT/HĐNN8 ngày 12/08/1991.