Phßng gi¸o dôc vµ ®µo t¹o kim ®éng
TRƯỜNG TIỂU HỌC HÙNG AN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHỔ CẬP
GIÁO DỤC TIỂU HỌC ĐÚNG ĐỘ TUỔI
Lĩnh vực:Quản lý
Họ và tên: Nguyễn Thị Thắm
Chức vụ: Phó Hiệu Trưởng
Đơn vị công tác : Trường TH Hùng An-Kim Động
1
PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
“Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, có
nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm, đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và thể chất
của trẻ em, nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách
con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.” (Theo điều 2 – Luật Phổ cập Giáo dục Tiểu
học)
“Giáo dục tiểu học phải bảo đảm cho học sinh nắm vững các kỹ năng nói, đọc,
viết, tính toán, có những hiểu biết cần thiết về thiên nhiên, xã hội và con người; có
lòng nhân ái, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, yêu quý anh chị em; kính trọng thầy
giáo, cô giáo, lễ phép với người lớn tuổi; giúp đỡ bạn bè, các em nhỏ; yêu lao
động, có kỷ luật; có nếp sống văn hoá; có thói quen rèn luyện thân thể và giữ gìn
vệ sinh; yêu quê hương đất nước, yêu hoà bình.” (Theo điều 3 – Luật Phổ cập Giáo
dục Tiểu học)
Giáo dục Tiểu học là bậc học bắt buộc, không phải trả học phí. Giáo dục tiểu học
được thực hiện trong 5 năm, từ lớp1 đến lớp 5. Tuổi học sinh vào học lớp một là sáu tuổi.
Mọi trẻ em bình thường từ 6 đến 14 tuổi đều có quyền và nghĩa vụ học tập để đạt trình độ
giáo dục phổ cập tiểu học.
Ngoài ra, trẻ khuyết tật cũng được hưởng quyền được học tập hoà nhập với các trẻ
bình thường khác trong cùng môi trường học tập ở tiểu học.
Tổ chức điều tra nắm bắt số liệu huy động trẻ ra lớp, xử lí số liệu, thống kê, lập
- Đi sâu vào việc nghiên cứu vấn đề cốt lõi để huy động tối đa số lượng trẻ em ra
lớp (đặc biệt là trẻ khuyết tật và trẻ có hoàn cảnh khó khăn), nâng cao chất lượng giáo
dục.
3
- Đề xuất được các biện pháp có tính hệ thống để chỉ đạo và thực hiện tốt công tác
Phổ cập Giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi, nâng cao chất lượng giáo dục trên địa bàn xã
Hùng An, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
4
PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
I. Cơ sở lý luận
Bậc tiểu học có vị trí nền móng trong hệ thống giáo dục quốc dân. Nhà trường
tiểu học là nơi đặt những viên gạch đầu tiên trong việc xây dựng nhân cách cho
học sinh, giúp HS được phát triển toàn diện.
Phổ cập giáo dục Tiểu học là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước, nhằm góp
phần nâng cao dân trí, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Mọi trẻ em trong độ
tuổi đi học của cấp học đều có quyền được học tập, giao tiếp trong môi trường thân
thiện, yêu thương; được gia đình và toàn xã hội chăm lo, tạo điều kiện thuận lợi để
các em thực hiện nhiệm vụ học tập và nhất là đội ngũ làm công tác giáo dục trong
các trường tiểu học đóng vai trò hết sức quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu
giáo dục.
Giáo dục tiểu học là điều kiện cơ bản để nâng cao dân trí, là cơ sở ban đầu
hết sức quan trọng cho việc đào tạo trẻ em trở thành công dân tốt của đất nước.
Giáo dục tiểu học nước ta đã và đang thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học đối với
tất cả trẻ em trong độ tuổi từ 6 đến 14 tuổi theo điều 1, điều 2, điều 3 của Luật phổ
cập giáo dục tiểu học số 56-LCT/HĐNN8 ngày 12/08/1991.
Chính vì vậy, những người làm công tác quản lí giáo dục luôn quan tâm đến
việc đổi mới công tác quản lí, duy trì thành tựu PCGDTHĐĐT, mà trước hết là
nâng cao chất lượng giáo dục hằng năm.
II. Thực trạng của vấn đề
phát huy tốt vai trò các thành viên trong ban chỉ đạo. Ban chỉ đạo phổ cập cấp xã
đã triển khai, quán triệt sâu rộng các văn bản chỉ đạo về công tác phổ cập giáo dục
đúng độ tuổi, đặc biệt là các nội dung của Thông tư 36/2009 của Bộ GD&ĐT.
Nhà trường đã thực hiện tốt chức năng tham mưu về công tác giáo dục, xây
dựng đề án quy hoạch phát triển trường lớp, xây dựng đội ngũ, đồng thời Ban giám
6
hiệu chủ động đề xuất kế hoạch sửa chữa nâng cấp trường lớp để đáp ứng được
nhu cầu học tập của con em nhân dân trong địa bàn xã.
II. Xác định đúng trọng tâm các mục tiêu và thực hiện tốt các nội dung cơ
bản của công tác PCGDTH ĐĐT theo Thông tư 36 của Bộ GD-ĐT
1. Thực hiện tốt công tác huy động và công tác tuyển sinh
Hùng An là một xã có điều kiện kinh tế tương đối ổn định, xã hội phát triển,
công tác huy động trẻ đến trường những năm qua không gặp khó khăn, hàng năm
huy động 100% trẻ trong độ tuổi thuộc đối tượng phải phổ cập đến trường, do đó,
để nâng cao chất lượng Phổ cập, nhà trường luôn quan tâm tới công tác huy động,
vận động trẻ khuyết tật, trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa bàn xã đến
trường Nhà trường phân công các thành viên trong Tổ phổ cập kết hợp với các
ban ngành đoàn thể trong các thôn thực hiện có hiệu quả việc theo dõi trẻ phải phổ
cập; phối hợp với Hội cha mẹ học sinh, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội Cựu
chiến binh, Mặt trận, khu dân cư quan tâm, giúp đỡ trẻ em có hoàn cảnh khó
khăn được tới trường.
2. Tập trung xây dựng đội ngũ theo hướng đảm bảo về chất lượng, đủ về số
lượng và cơ cấu
Một trong những nguyên nhân các nhà trường đạt chuẩn PCGDTHĐĐT mức
độ 2 khó khăn là do chưa đảm bảo yêu cầu về số lượng, cơ cấu đội ngũ giáo viên
theo quy định tại Thông tư 36/2009 của Bộ GD-ĐT. Để giải quyết khó khăn này,
trong những năm qua nhà trường đã chú ý tham mưu với Phòng GD&ĐT, Phòng
Nội vụ quan tâm bố trí đủ loại hình giáo viên: Giáo viên văn hóa, giáo viên Âm
nhạc, Mỹ thuật, tiếng Anh, Tin học, Thể dục, Qua nhiều năm tập trung thực hiện,
về cơ bản, đến nay đội ngũ của nhà trường đã đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu,
8
lượng giáo dục toàn diện của nhà trường tiếp tục được khẳng định. Đặc biệt những
năm gần đây, nhà trường thực hiện nghiêm túc quy trình bàn giao học sinh, kiểm
tra, đánh giá chất lượng cuối năm với các giải pháp sáng tạo, do đó, chất lượng
giáo dục phản ánh một cách thực chất, hiệu quả giáo dục hàng năm đạt xấp xỉ 99%.
Để đạt được kết quả trên, Ban giám hiệu nhà trường luôn thực hiện nguyên lí
giáo dục: “Học đi đôi với hành, giáo dục gắn liền thực tiễn, nhà trường gắn liền xã
hội”. Sinh thời Bác Hồ đã dạy: “Giáo dục phải theo hoàn cảnh và điều kiện”. Thực
tế cho thấy, đổi mới phương pháp dạy học phải bắt đầu từ việc đổi mới công tác
quản lí giáo dục mà vai trò cốt lõi để tổ chức thực hiện đó là người cán bộ quản lí
giáo dục các cấp. Đặc biệt là người CBQL ở từng đơn vị tại các cơ sở biểu hiện rõ
nhất ở phong cách, thái độ, cách nghĩ, cách làm, cách tổ chức thực hiện và đánh giá
của người Hiệu trưởng. Hiệu trưởng có đổi mới cách làm, cách nhìn nhận, cách
đánh giá cấp dưới thì từng CBGVNV mới có động cơ đổi mới phương pháp làm
việc nói chung và phương pháp dạy học nói riêng.
Xuất phát từ nhận thức đó, tôi luôn quan tâm đến công tác PCGDTH ĐĐT, quan
tâm đến việc tổ chức dạy học theo điều kiện hoàn cảnh của trường mình; đặc biệt
là không vì “bệnh thành tích” mà chạy theo số lượng. Tôi luôn coi trọng công tác
vận động, tuyên truyền.
*) Thực hiện nâng cao chất lượng dạy và học ở trường gắn với xây dựng
trường học thân thiện, học sinh tích cực, thực hiện các tiêu chuẩn trường Chuẩn
Quốc gia trong điều kiện khả năng nội lực để tạo niềm tin của nhân dân và địa
phương đối với trường.
*) Công tác quản lí nhất thiết phải xây dựng kế hoạch.
Kế hoạch cần phải chi tiết cụ thể đến từng nhóm CBQL, GV, NV, HS.
Từng bộ phận phải xây dựng kế hoạch riêng cho bộ phận mình trên cơ sở cụ thể
hoá kế hoạch của trường. Kế hoạch hoá các chỉ tiêu mang tính thực tiễn cao.
*) Tạo điều kiện để GV nào cũng tự tin hơn trong quá trình thực hiện cụ thể
hoá chương trình, chủ động trong việc giảng dạy dựa trên chương trình, chuẩn kiến
9
GV thực hiện nhiệm vụ đổi mới phương pháp dạy học của mình. Bởi đổi mới
phương pháp dạy học trên cơ sở đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa.
Ngoài ra còn phải có điều kiện về cơ sở vật chất tương ứng. Chẳng hạn muốn thực
hiện bài dạy bằng giáo án điện tử, trường phải có máy chiếu, có Laptop; muốn GV,
HS có đủ tài liệu tham khảo thư viện trường phải đảm bảo số lượng sách và các
loại sách phải đa dạng, phong phú.
Nhà trường thường xuyên tổ chức các buổi trồng cây đầu xuân; kỉ niệm các
ngày lễ lớn; tổ chức sinh hoạt tập thể theo chủ điểm hàng tháng; tham mưu với
UBND xã để tăng cường cơ sở vật chất về phòng chức năng, sân chơi, bãi tập, …
nhằm tạo cảnh quan xây dựng môi trường học tập theo hướng “Trường học thân
thiện, học sinh tích cực”.
Ngoài ra, vai trò của Hội khuyến học và các đoàn thể đã có tác động khá lớn
đối với công tác PCGDTH ĐĐT, nhà trường đã có sự phối hợp với các đoàn thể
địa phương, tổ chức quyên góp, tặng sách vở, quần áo, dụng cụ học tập cho học
sinh có hoàn cảnh khó khăn; việc trao học bổng, tặng quà cho học sinh nghèo, học
sinh vượt khó học giỏi… được địa phương, tập thể, cá nhân, các tổ chức xã hội
quan tâm, góp phần nâng cao chất lượng PCGDTH ĐĐT trên địa bàn xã.
6. Thực hiện tốt công tác quản lí số liệu và quản lí hồ sơ PCGDTH ĐĐT
Để thực hiện tốt công tác quản lí số liệu trẻ phải phổ cập trong địa bàn và
lập hồ sơ lưu trữ có giá trị lâu dài, nhiệm vụ đầu tiên người quản lí phải có kế
hoạch tổng điều tra sau 5 năm và điều tra bổ sung hằng năm để nắm chắc số liệu
cần tập trung huy động ra lớp đồng thời làm căn cứ cho việc lập kế hoạch phát
triển trường lớp theo từng giai đoạn cụ thể. Kế hoạch phải rõ người, rõ việc, rõ thời
gian hoàn thành gắn với nội dung thi đua của từng cá nhân và tập thể.
*) Đối với giáo viên trực tiếp giảng dạy: Địa bàn xã có 6 thôn, mỗi thôn đều
thành lập tổ điều tra cố định gồm từ 2 đến 3 giáo viên phụ trách, trong mỗi tổ đều
11
có giáo viên là người địa phương hoặc có am hiểu về đặc điểm sinh hoạt của nhân
dân thôn đó.
Trong quá trình điều tra, yêu cầu GV điều tra phải phối hợp chặt chẽ với ủy
Mỗi năm học, trước khi bước vào năm học mới, rà soát kết quả điều tra bổ
sung, đối chiếu giữa danh sách và sổ điều tra; tuyển sinh các cháu 6 tuổi của
Trường Mầm non vào lớp 1, đối chiếu số trẻ 6 tuổi để huy động 100% trẻ PPC ra
lớp. Khi cần nhờ đến chính quyền địa phương, các hội đoàn thể để giúp đỡ và huy
động các em ra lớp.
Riêng sổ theo dõi phổ cập cần ghi rõ nơi ở từ thôn, xã huyện, tỉnh; sổ đăng bộ phải
ghi chép đầy đủ thông tin của từng trẻ đã đến trường. Các loại sổ này luôn luôn được
BGH kiểm tra và kí, đóng dấu nhà trường hằng năm; riêng sổ theo dõi phổ cập phải được
BGH kiểm tra và kí vào tháng 9 hằng năm trước khi lên thống kê.
Bản thân tôi là người chịu trách nhiệm chính từ khâu tổ chức huy động trẻ ra
lớp đến khâu thống kê, cập nhật số liệu, tìm minh chứng có sự cộng tác của GV,
nhân viên phụ trách PC và sự chỉ đạo, theo dõi, giám sát của Hiệu trưởng.
Tổ chức điều tra chu đáo, phân công trách nhiệm rõ ràng, dưới sự quan tâm sâu
sát của Hiệu trưởng, nhiều năm qua đơn vị tôi huy động đạt 100% trẻ trong diện phải
phổ cập ra lớp và không phải mất nhiều công sức cho công tác này.
III. Hiệu quả của SKKN
Áp dụng những kinh nghiệm trên trong nhiều năm qua và nhất là năm học
2013-2014 này đã làm cho diện mạo trường tôi có nhiều khởi sắc đáng mừng như:
*) Về công tác PCGDTHĐĐT: là đơn vị nhiều năm liền làm tốt công tác huy
động trẻ ra lớp, không có sai sót đáng tiếc về hồ sơ PCGDTH; không phải mất
nhiều công sức của bộ phận làm hồ sơ; được tiếp cận với các đoàn kiểm tra về
công tác Phổ cập cấp trên đều được đánh giá là đơn vị thực hiện tốt công tác điều
tra, báo cáo, thống kê, xử lí số liệu, minh chứng cụ thể, giải trình thông suốt của
CBQL nhà trường. Là đơn vị đạt chuẩn về PCGDTHĐĐT mức độ 2. Đặc biệt là đã
biết kết hợp với các hội đoàn thể trong và ngoài nhà trường huy động 100% số trẻ
13
phải phổ cập đến trường, luôn duy trì sĩ số trên lớp. Trong năm học này, nhà
trường đã đạt được kết quả cụ thể như sau:
1. Về học sinh
Tổng số trẻ từ 6 – 14 tuổi trên địa bàn: 716 ; nữ: 349 ; Khuyết tật: 2
Cấp huyện: 4 giáo viên
Cấp trường : 13 giáo viên
3. Cơ sở vật chất
- Số phòng học: 14 phòng (Trong đó: Kiên cố 11phòng , tỷ lệ 78,6% )
- Tỷ lệ phòng học/ lớp: 1,0phòng/lớp
- Mạng lưới trường, lớp phù hợp tạo điều kiện cho trẻ em đi học thuận lợi.
Phòng học an toàn, có bảng, đủ bàn ghế đúng quy cách cho học sinh, giáo viên; đủ
ánh sáng, thoáng mát về mùa hè, ấm về mùa đông; có tủ đựng hồ sơ, thiết bị dạy
học.
- Phòng chức năng: Trường học có văn phòng; thư viện; phòng giáo viên;
phòng hiệu trưởng; phòng phó hiệu trưởng; phòng thiết bị giáo dục; phòng giáo
dục nghệ thuật; phòng truyền thống và hoạt động Đội; phòng y tế học đường;
phòng thường trực bảo vệ. Các phòng có đủ các phương tiện, thiết bị cần thiết để
phục vụ hoạt động dạy học và giáo dục trong nhà trường.
- Trường học có sân chơi, sân tập đảm bảo điều kiện cho học sinh vui chơi
và tập luyện an toàn.
- Cổng trường, biển trường, tường bao quanh trường; có nguồn nước sạch;
có khu để xe; có khu vệ sinh sạch sẽ, thuân tiện dành riêng cho nam, nữ, học sinh ,
giáo viên; đảm bảo môi trường xanh, sạch, đẹp, an toàn và thân thiện.
Có được kết quả đó nhờ công tác tuyên truyền, vận động của đội ngũ thầy cô
giáo và thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục đã cho các em niềm vui lớn – niềm
vui được đi học và vui chơi trong môi trường thân thiện, yêu thương của thầy cô
cũng như bạn bè cùng lớp, cùng trường.
Từng cán bộ giáo viên, nhân viên trong nhà trường cũng thấy rõ hơn vai trò
15
trọng trách của mình để tự giác tham gia công tác điều tra bổ sung, huy động trẻ ra
lớp, thiết lập hồ sơ báo cáo thống kê hằng năm.
*) Về thực hiện đổi mới công tác quản lí để nâng cao chất lượng dạy và học
đã làm cho nhiều GV tự tin hơn, mạnh dạn chia sẻ và áp dụng nhiều kinh nghiệm
Hiệu quả
Tỉ lệ trẻ 6 tuổi vào lớp 1 100% 100% Duy trì tốt
Tỉ lệ trẻ 11 tuổi HTCT 90% 93% Tăng 3%
Tỉ lệ trẻ học 10 buổi/ tuần 100% 100% Duy trì tốt
* Về tiêu chuẩn 2: Giáo viên
Các tiêu chí Khảo sát
ban đầu
Kết quả
đạt được
Hiệu quả
Tỉ lệ GV/ lớp 1,3 1,4 Tăng 0,1
Tỉ lệ GV đạt chuẩn 100% 100% Duy trì tốt
Tỉ lệ GV trên chuẩn 59% 68% Tăng 9%
Các loại hình GV
GV văn hóa, Âm
nhạc, Mĩ thuật
GV văn hóa, Âm nhạc,
Mĩ thuật, Tiếng Anh,
Thể dục, Tin học
Tăng loại hình
GV
* Về tiêu chuẩn 3: Cơ sở vật chất
Các tiêu chí Khảo sát
ban đầu
Kết quả
đạt được
Hiệu quả
Tỉ lệ phòng học/lớp 1,0 1,0 Duy trì tốt
Các phòng chức năng
I. Bài học kinh nghiệm
1. Phổ cập giáo dục là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong chiến lược phát
triển kinh tế – xã hội, phải được thể hiện trong các Nghị quyết, chương trình hành
18
động của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp. Ban chỉ đạo các cấp nêu cao tinh thần
trách nhiệm, quan tâm trong chỉ đạo và thực hiện theo kế hoạch, mục tiêu, kịp thời
củng cố kiện toàn thành viên ban chỉ đạo.
2. Khi bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ PCGDTH ĐĐT mức độ 2, Ban chỉ đạo các
cấp cần tiến hành nghiên cứu kỹ các yêu cầu cơ bản về các tiêu chuẩn được quy
định tại Thông tư 36, rà soát hiện trạng của từng tiêu chí để xác định các nhiệm vụ
cụ thể, trước mắt cũng như lâu dài, phân công trách nhiệm, phần việc cụ thể cho
từng tổ chức, đơn vị và các thành viên Ban chỉ đạo. Trong kế hoạch nêu ra được
từng giai đoạn thực hiện công tác phổ cập từ công tác điều tra đến thống kê, đến
các biện pháp đầu tư, vận động các em có hoàn cảnh khó khăn đến trường
3. Thực hiện công tác phổ cập giáo dục thì ngành giáo dục phải chủ công, chịu
trách nhiệm chính trong công tác triển khai thực hiện và phải chủ động tham mưu
đề xuất kế hoạch, các giải pháp thực hiện cho cấp ủy, chính quyền. Phải tập trung
đầu tư chỉ đạo có trọng điểm, với những giải pháp đột phá để đảm bảo phong trào
phát triển liên tục, đảm bảo mục tiêu và đẩy nhanh tiến độ phổ cập đã đề ra. Gắn
nhiệm vụ xây dựng trường chuẩn Quốc gia với thực hiện nhiệm vụ Phổ cập giáo
dục; Nâng cao chất lượng giáo dục, đổi mới quản lý, giảng dạy, xây dựng trường
học thân thiện học sinh tích cực, cải tạo môi trường giáo dục lành mạnh là nền tảng
để phổ cập giáo dục đi vào chất lượng bền vững. Xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về
số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo chất lượng với yêu cầu cao.
5. Xã hội hoá công tác phổ cập giáo dục là phương án tối ưu để thực hiện thành
công công tác Phổ cập GDTH đúng độ tuổi, cần tích cực tuyên truyền, phối hợp,
huy động các nguồn lực, các lực lượng xã hội để thực hiện các mục tiêu PCGD.
6. Phổ cập GDTH đúng độ tuổi phải đi liền với Phổ cập giáo dục Trung học cơ sở.
Phổ cập GDTH đúng độ tuổi là tiền đề vững chắc để thực hiện Phổ cập GD Trung
học cơ sở. Mặt khác, để hoàn thành và duy trì Phổ cập giáo dục Tiểu học vững bền
- Cần có sự đầu tư về cơ sở vật chất, thiết bị, kinh phí phù hợp cho việc thực
hiện nhiệm vụ Phổ cập giáo dục.
- Trên đây tôi đã trình bày những kinh nghiệm của bản thân tôi về “Một số
giải pháp nâng cao chất lượng Phổ cập Giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi”. Đây là
SKKN do bản thân tôi nghiên cứu và viết, không sao chép nội dung của người
khác.
Kính mong các cấp lãnh đạo và bạn bè đồng nghiệp bổ sung và đóng góp ý
kiến để nâng cao hơn nữa hiệu quả và chất lượng của công tác Phổ cập giáo dục.
Tôi xin trân trọng cảm ơn !
Hùng An, ngày 16 tháng 2 năm 2014
Người viết
Nguyễn Thị Thắm
21
CHỮ VIẾT TẮT TRONG SKKN
- PCGDTH ĐĐT: Phổ cập Giáo dục tiểu học đúng độ tuổi
- BGD&ĐT: Bộ Giáo dục và Đào tạo
- SKKN: Sáng kiến kinh nghiệm
- PCGDTHĐĐT: Phổ cập Giáo dục tiểu học đúng độ tuổi
- HTCTTH: Hoàn thành chương trình tiểu học
- PPC: phải phổ cập
- GV: giáo viên
- HS: học sinh
- NV: nhân viên
-CB: cán bộ
- CBQL: Cán bộ quản lý
22
MỤC LỤC
Phần I: Mở đầu Trang
I Lí do chọn đề tài 01
II Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 02
Bài học kinh nghiệm
Ý nghĩa của SKKN
Khả năng ứng dụng triển khai
Một số hạn chế của SKKN
Những kiến nghị đề xuất
18
19
19
19
20
23
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Công văn số 270/PGD&ĐT ngày 29 tháng 8 năm 2013 về việc hướng dẫn
thực hiện phổ cập GDTH đúng độ tuổi mức độ 2, năm 2013.
2. Điều lệ Trường tiểu học (NXB: Giáo dục);
3. Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học (NXB: Giáo dục).
4. Luật Giáo dục năm 2005;
5. Một số vấn đề về đổi mới giáo dục tiểu học vì sự phát triển bền vững (NXB
Giáo dục);
6. Nhiệm vụ năm học 2013 – 2014 của Phòng GD&ĐT Kim Động, trường
Tiểu học Hùng An;
7. Quản lí giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật dành cho GV tiểu học (NXB: Giáo
dục);
8. Quyết định 14/2007/BGD&ĐT quy định về chuẩn nghề nghiệp của GVTH;
9. Quyết định 16/2006 quy định về chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu
học và Công văn 896/2006 của BGD&ĐT và những quy định về chuẩn kiến
thức, kĩ năng đối với từng môn, từng khối lớp của BGD&ĐT (Năm 2009);
10. Luật phổ cập giáo dục tiểu học số 56-LCT/HĐNN8 ngày 12/08/1991.
11. Luật Giáo dục ngày 14/6/2005; Luật sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục ngày