Sáng kiến kinh nghiệm SKKN một số biện pháp giúp HS học tốt bài văn dạng bài kể ngắn lớp 2 - Pdf 39

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
"MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT TẬP LÀM
VĂN DẠNG BÀI KỂ NGẮN LỚP 2 Ở TIỂU HỌC LIÊN KHÊ"


PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌ ĐỀ TÀI
Xuất phát từ mục tiêu dạy Tiếng Việt ở Tiểu học là “Cung cấp cho học sinh vốn tri
thức Tiếng Việt và rèn cho học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt như một công cụ
giao tiếp và công cụ để tư duy”.
Môn Tập làm văn là một môn học mới đối với học sinh lớp 2 nên môn Tập làm văn
giữ một vị trí đặc biệt quan trọng bởi nó đã tận dụng những hiểu biết và kỹ năng về Tiếng
Việt do các phân môn khác rèn luyện hoặc cung cấp thêm. Đồng thời hoàn thiện những
kỹ năng đó trong quá trình làm các bài tập làm văn, học sinh được rèn luyện, hoàn thiện,
phát triển những kỹ năng nói, viết.
Sau một số năm làm công tác quản lí, chỉ đạo chương trình Tiểu học mới tôi thấy
cũng cần nhìn nhận lại nội dung và phương pháp dạy học Tập làm văn lớp 2 để thấy được
những ưu điểm, nhược điểm những hạn chế để từ đó có những biện pháp, cách thức góp
phần nâng cao chất lượng dạy học môn tập làm văn. Mặt khác để giúp giáo viên có biện
pháp giúp học sinh nói viết đúng, có khả năng sử dụng chính xác Tiếng Việt trong giao
tiếp ở cộng đồng và trong học tập các môn học khác thuận lợi hơn. Bên cạnh đó đáp ứng
được yêu cầu đòi hỏi của xã hội, phù hợp với năng lực, trình độ của học sinh và chất
lượng của giáo dục.
Xuất phát từ thực tế và những lí do trên thì làm thế nào để giúp học sinh học tốt
phân môn Tập làm văn khối Hai tôi xin đưa ra một kinh nghiệm đó là: “Một số biện
pháp giúp học sinh học tốt Tập làm văn dạng bài kể ngắn lớp 2 ở Tiểu học Liên
Khê”.



- Phương pháp pháp phân tích
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp thực nghiệm
- Đối chiếu thống kê các biểu mẫu
PHẦN II: NỘI DUNG
I. NHỮNG CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC DẠY TẬP LÀM VĂN LỚP 2
1. Các giai đoạn của hoạt động lời nói và các kỹ năng làm văn.
Hoạt động lời nói là một cấu trúc động bao gồm bốn giai đoạn kế tiếp nhau: Định
hướng, lập chương trình, thực hiện hoá chương trình và kiểm tra. Cấu trúc này đã được
các tác giả phương pháp tập dạy học. Tập làm văn vận dụng triệt để khi xây dựng hệ
thống kĩ năng làm văn, có thể thấy mối quan hệ này trong sơ đồ sau:
Cấu

trúc

hoạt

động lời nói
1. Định hướng

Hệ thống kỹ năng làm văn
1. Kĩ năng xác định đề bài, yêu cầu và giới hạn
đề bài ( kĩ năng tìm hiểu đề )


2. Kĩ năng xác định tư tưởng cơ bản của bài viết.
2.

Lập



dạy “ nói” trong trường học, kĩ năng “ nói” có thể phát triển một cách tự nhiên, chương
trình Tiểu học mới cho rằng dù dạy học tiếng mẹ đẻ, nhà trường vẫn cần phải dạy cho
học sinh nói năng một cách có văn hóa, hơn nữa trong hoạt động sản sinh ngôn bản là nói
và viết thì ở mỗi người hoạt động nói được thực hiện nhiều hơn. Chính vì vậy chương
trình Tiếng Việt 2000 rất chú trọng rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh, ở các lớp đầu cấp
học, khẩu ngữ phát triển hơn, còn kĩ năng viết mới được hình thành nên bị ảnh hưởng của
khẩu ngữ, các em nói thế nào viết thế nấy, mắc các lỗi được tính vào lỗi vi phạm phong
cách.
Lời nói miệng có hai dạng: hội thoại và độc thoại. Vì vậy, các bài tập luyện nói
trong giờ văn được chia ra: Nói trong hội thoại và độc thoại.
Kĩ năng viết là sản phẩm của quá trịnh học tập là phương tiện học tập và giao tiếp
coa hiệu quả, năng lực viết chứng tỏ trình độ văn hóa, văn minh của một con người.
3. Ngữ pháp văn bản và ứng dụng dạy tập làm văn
3.1. Tính thống nhất của văn bản và việc dạy tập làm văn
Để tạo lập một văn bản phải tạo nên tính thống nhất thể hiện cả hai mặt: Sự liên kết
về nội dung và liên kết hình thức, sự liên kết này có được là nhờ tính hướng đích của văn
bản.
Bên cạnh liên kết nội dung, ngữ pháp văn bản còn chỉ ra cả một hệ thống các biện
pháp liên kết hình thức, nó biểu hiện ra ngoài của liên kết nội dung, để đạt được mục đích
giao tiếp, văn bản còn phải có sự phát triển, chủ đề cần được triển khai, các đề bài tập
làm văn cần phải chỉ ra các hướng triển khai.
3.2. Hai bình diện ngữ nghĩa củavăn bản


Nội dung thứ nhất của bình diện là nội dung miêu tả hay còn gọi là nội dung sự vật,
là những hiểu biết, những nhận thức về thế giới xung quanh, về xã hội và chính bản thân
con người, nội dung này tạo thành nghĩa sự vật của văn bản.
Bình diện thứ hai là nội dung thông tin về những cảm xúc, tình cảm, thái độ của
người viết đối với đối tượng, sự việc được đề cập đến, đối với người tham gia hoạt động

+ Quy tắc thương lượng
+ Quy tắc luân phiên
+ Quy tắc liên kết hội thoại
+ Quy tắc tôn trọng thể diện người nghe
+ Quy tắc khiêm tốn về phía người nói
+ Quy tắc cộng tác.

II. THỰC TRẠNG DẠY TẬP LÀM VĂN, KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ NỘI
DUNG, PHƯƠNG PHÁP DẠY TẬP LÀM VĂN SGK LỚP 2
1. Đánh giá thực trạng dạy Tập làm văn lớp 2 ở trường Tiểu học Liên Khê


Sau khi nghiên cưú chương trình mới, qua các đợt kiểm tra giữa kì, cuối kì, qua các
đợt dự giờ thăm lớp khối 2, tôi thấy thực trạng dạy tập làm văn lớp 2 có những ưu điểm,
nhược điểm sau:
1.1. Những ưu điểm
Nội dung dạy học:
- Rèn luyện học sinh kĩ năng nói, viết với những đề tài, nội dung quen thuộc, gần gũi
với các em. Ngữ điệu đưa vào bài dạy khá phong phú.
- Dạy được cách giao tiếp, ứng xử, cách làm việc, cách tổ chức đoạn, bài và câu.
- Coi trọng việc giáo dục văn hóa trong giao tiếp, ứng xử.
- Hệ thống các mạch kiến thức sắp xếp đan xen, không chồng chéo phù hợp với trình
độ nhận thức của học sinh lớp 2.
Phương pháp dạy học:
Chương trình coi trọng và khuyến khích dạy trên cơ sở hoạt động học tập tích cực, chủ
động và sáng tạo của học sinh, dạy theo phương pháp đổi mới lấy học sinh làm trung tâm.
1.2. Những khó khăn, hạn chế:
Về phía học sinh:
- Vốn từ ở giai đoạn này còn quá non nớt, nghèo nàn, chưa phong phú nên học sinh
nói, viết những câu chưa đúng ngữ pháp, chưa có ý thức nói thành câu.

- Các dạng bài tập đưa ra nhiều nhưng chưa khắc sâu được nội dung kiến thức cho
từng dạng bài.
- Hình thức các bài tập đưa ra giông nhau nên chưa kích thích sự hứng thú học tập
của các em.
- Thời gian mỗi tiết tập làm văn học sinh giải quyết từ 2 đến 4 bài tập trong khoảng
35 đến 40 phút là hơi khó với các em.
2. Khảo sát, đánh giá nội dung, phương pháp dạy tập làm văn lớp 2
2.1. Chương trình tập làm văn lớp 2
- Chương trình tập làm văn lớp 2 được sắp xếp mỗi tiết trong một tuần thường gồm
2, 3 bài tập; riêng các tuần ôn tập giữa học kỳ và cuối học kì nội dung thực hành về tập
làm văn được rải ra trong các tiết ôn tập. Cụ thể chương trình được bố trí dạy như sau:
+ Học kì 1: 16 tiết
+ Học kì 2: 15 tiết
Cả năm có 31 tiết và số bài thực hành rải rác trong các tiết ôn.
2.2. Các kiểu bài tập làm văn trong sách giáo khoa lớp 2
Từ lớp 2 đến lớp 5 có các bài tập làm văn độc lập, ở lớp 2 chỉ gồm các bài tập thực
hành tập làm văn được cấu thành từ một tổ hợp bài tập. Chúng bao gồm hai kiểu bài tập
sau:
- Bài tập làm văn mà tên gọi chỉ được ghi theo tên phân môn, còn tên bài ghi ở phần
mục lục.
- Bài ôn tập ở giữa kì, cuối kì.


2.3. Các kiểu dạng bài tập làm văn trong sách giáo khoa lớp 2
Hệ thống các bài tập của phân môn tập làm văn lớp trong sách giáo khoa Tiếng Việt
2 phong phú và đa dạng. Việc phân chia các dạng bài tập ở lớp 2 có thể dựa vào nhiều
góc độ khác nhau như: Xét về các loại bài tập, xét về hình thức, xét về các kĩ năng được
rèn luyện, nếu xét về các kĩ năng được rèn luyện phục vụ cho việc học tập và giao tiếp
hàng ngày có những dạng bài tập sau.
+ Dạng 1: Thực hành về các nghi thức lời nói tối thiểu

vui, chia buồn

- Nhận và gọi điện thoại

- Luyện thời gian biểu


- Đọc và lập danh sách học sinh
+ Dạng 3: Kể ngắn ( hay thực hành rèn luyện kĩ năng diễn đạt nói )
- Kể ngắn theo tranh
- Kể ngắn theo câu hỏi
- Kể về gia đình

- Kể về người thân
- Kể về con vật
- Kể chuyện được chứng kiến

+ Dạng 4: Tả ngắn ( hay thực hành rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết )
- Tả ngắn về 4 mùa

- Tả về cây cối

- Tả ngắn về loài chim

- Tả ngắn về Bác Hồ

- Tả ngắn về biển
+ Dạng 5: Thực hành rèn luyện kĩ năng nghe
Dạng này dựa vào những câu hỏi gợi ý để kể lại hoặc nêu được ý chính của mẩu
chuyện ngắn đã nghe.

62

8

Kể ngắn theo câu hỏi

69

9 ( Bài 2)

Dựa vào tranh trả lời câu hỏi

72

10

Kể về người thân

85

13

Kể về gia đình

110

14

Quan sát tranh, trả lời câu hỏi


Kể chuyện được chứng kiến ( viết)

34

Kể về người thân ( nói, viết )

66

140

Nhìn vào hệ thống nội dung chương trình của dạng bài “Kể ngắn” nằm rải rác trong
cả năm học và được bố trí nhiều ở học kỳ I, dạng bài tập này đưa ra một số câu hỏi, nội
dung các câu hỏi chú ý nhiều đến các đề tài gần gũi với cuộc sống hàng ngày của các em.
Qua các câu hỏi các em trả lời sẽ ghép lại thành một đoạn “Kể ngắn” về chủ đề nào đó,
từ đó giáo viên giúp các em rèn luyện kĩ năng nói phục vụ cuộc sống hàng ngày, phục vụ


cho học tập và tích lũy vốn từ phong phú để học sinh viết văn tốt. Cũng từ hệ thống
chương trình dạng bài “Kể ngắn” tôi giúp GVphân ra thành những dạng bài nhỏ như sau:
2.4.1. Kể ngắn theo tranh
Dạng bài này được bố trí rải rác ở học kì 1 và xuất hiện rất ít ở học kì 2, loại bài tập
này là một trong những loại bài tập khá quan trọng, nó là tiền đề - là cơ sở để làm nền
tảng vững chắc cho các em học kiểu bài quan sát, lập dàn ý ở các lớp trên. Nội dung của
loại bài này được sắp xếp như dưới đây:

Bài

Nội dung bài

Tuần/

nay giảm tải

Hãy dựa vào các tranh sau trả lời câu
hỏi

5/47

Dựa vào tranh vẽ, hãy kể câu
1

chuyện có tên ( Bút của cô giáo )

Mỗi tranh gợi ý
bằng một câu hỏi
Có gợiýbằng lời

7/62

một số nhân
vật

2

Dựa theo tranh, trả lời câu hỏi

9/72

Mỗi tranh có 1 câu



Một bức tranh có 4
câu hỏi

a. Mục đích cần đạt
- Giúp học sinh lớp 2 bước đầu vận dụng các giác quan để luyện cách quan sát có
định hướng theo câu hỏi gợi ý.
- Rèn học sinh kĩ năng nghe, nói, qua trả lời câu hỏi các em ban đầu biết tả sơ lược
về cảnh, về người.
- Bước đầu rèn cho các em nắm bắt cách quan sát sự vật hiện tượng, biết quan sát để
miêu tả nội dung tranh.
b. Kết quả đạt được của học sinh
+ Học sinh thích quan sát tranh.
+ Học sinh hứng thú học qua các tranh vẽ.
+ Biết kể được nội dung đơn giản của mỗi tranh bằng một câu.
c. Những hạn chế, khó khăn khi dạy
* Về nội dung, chương trình Sách giáo khoa, sách giáo viên


- Việc sắp xếp nội dung các bài “ quan sát tranh và trả lời câu hỏi” đối với học sinh
lớp 2 chưa có hệ thống thể hiện nội dung, chưa đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức
tạp nên học sinh khó định hướng vào nội dung thể hiện trong mỗi bức tranh.
Ví dụ: Bài tập 3 trang 12 được học ngay ở tuần 1, bài tập đưa ra 4 bức tranh yêu cầu
học sinh mỗi tranh kể lại bằng 1, 2 câu. Mặc dù trong 4 bức tranh đã có 2 bức tranh các
em được quan sát, học ở phân môn Luyện từ và câu nhưng các tranh đều không có gợi ý
làm điểm tựa cho các em là một điều rất khó khi các em mới lên lớp 2, mới học môn mới,
còn hầu hết các bài tập tiếp theo ở các tuần sau đều có những gợi ý từng tranh. Hay tính
không hệ thống thể hiệ ở bài tập 1 trang 62 tuần 1, có 4 bức tranh yêu cầu học sinh kể lại
câu chuyện có tên ( Bút của cô giáo) trong khi đó sự gợi ý ở mỗi tranh quá út nên các em
khó kể được chuyện ngay ở tuần 7.
- Thời gian cho mỗi bài tập ít, thường mỗi tiết Tập làm văn học sinh làm từ 2 đến 3

Tranh 3: Hai người ngồi viết bài
Tranh 4: Bạn khoe điểm 10 với mẹ
- Các em ngại nói trước lớp nên khả năng diễn đạt còn hạn chế, chưa biết dùng từ,
câu đúng phù hợ với từng tranh và chưa biết liên kết các tranh để tạo thành câu chuyện


- Vốn từ của các em còn nghèo nên khả năng dùng từ đặt câu còn lủng củng, nói câu
thiếu thành phần chính, câu không diễn đạt được nội dung của từng tranh.
2.4.2. Kể ngắn theo câu hỏi
Loại bài tập này được chia ra ở ngay học kì 1, nội dung và chương trình của loại này
được đưa ra dưới hình thức như:
Bài

Nội dung của bài

Tuần/trang

Trả lời câu hỏi:
2

a, Cô giáo (hoặc thầy giáo) lớp 1 của em tên là gì?
b, Tình cảm của cô ( hoặc thầy) đối với học sinh như thế
nào?

8 / 69

c, Em nhớ nhất điều gì ở cô giáo ( hoặc thầy giáo )
d, Tình cảm của em đối với cô giáo ( hoặc thầy giáo)
như thế nào?
Với một bài tập trên mục đích bài tập đưa ra nhằm:

Học sinh 1 hỏi: Cô giáo (hoặc thầy giáo) lớp 1 của em tên là gì? (Nhiều HS tiếp nối trả
lời).


Học sinh 2 hỏi: Tình cảm của cô (hoặc thầy) đối với học sinh như thế nào? (Nhiều HS
tiếp nối trả lời).
Tương tự như thế với câu 3, 4 giáo viên khuyến khích HS trả lời hồn nhiên, chân thực
về cô giáo của mình, giáo viên nhận xét và khen ngợi những ý kiến hay có cái riêng.
Học sinh thi trả lời cả 4 câu hỏi trước lớp, cả lớp và giáo viên nhận xét, góp ý, bình
người trả lời hay.
2..4.3. Kể về gia đình
Đây là một loại bài giới thiệu chung về gia đình mình, dạng bài này được trình bày
ở sách giáo khoa như sau:
Bài 1: Kể về gia đình em
Gợi ý:
a. Gia đình em gồm mấy người? đó là những ai?
b. Nói về từng người trong gia đình em.
c. Em yêu quý những người trong gia đình em như thế nào?
Bài 2: Dựa vào những điều đã kể ở bài tập 1, hãy viết 1 đoạn văn ngắn (từ 3 đến 5
câu) về gia đình em.
a. Mục đích cần đạt:
- Học sinh biết kể về gia đình, các em biết nói thành câu, rõ ràng, đủ ý, biết tổ chức
liên kết tạo thành một đoạn văn ngắn.
- Nắm được từng thành viên trong gia đình.
- Biết thể hiện được tình cảm của mình đối với gia đình.


b. Kết quả thực tế học sinh đạt được:
- Học sinh nói được tên các thành viên trong gia đình mình.
- Biết kể được theo đúng 3 câu hỏi.


em)

thân

Gợi ý:
a, Ông, bà (hoặc người thân )của
em bao nhiêu tuổi?
b, Ông, bà (hoặc người thân ) của
em làm nghề gì?
c, Ông, bà (hoặc người thân ) của
em yêu quý, chăm sóc em như thế
nào?
2

Dựa theo lời kể ở bài tập 1, hãy
viết 1 đoạn văn ngắn từ 3 đến 5
câu kể về ông, bà hoặc người thân
của em.
Hãy viết từ 3 đến 4 câu kể về anh, Kể về anh, chị 15/126

3

chị, em ruột ( hoặc anh, chị, em em
họ) của em.

1

Hãy kể về một người thân của em Kể


người thân trong gia đình của mình để kể.
- Khi kể việc xác định tuổi tác của người thân còn sai lệch, chưa ước lượng đúng
độ tuổi. Ví dụ: Khi kể về bà có em nói “ Bà em năm nay đã 30 tuổi”, hoặc “chị em năm
nay đã 40 tuổi”.
- Chưa biết tìm những đặc điểm nổi bật của người thân để kể.
- Khi kể việc sử dụng từ của các em còn lặp lại từ, liên kết giữa các câu còn chưa
chặt chẽ.
Ví dụ: Mẹ em đã cao tuổi, mẹ em trắng hồng, mẹ em làm ruộng, em rất yêu mẹ.
2.4.5. Kể về con vật


Dạng bài kể về con vật sách giáo khoa đưa ra một bài tập được trình bày như sau:
Bài : Kể về một con vật nuôi trong nhà mà em biết.
( Tiếng Việt2 tập 1 trang 137, tuần 16 ).
a. Mục đích cần đạt:
- Học sinh biết kể về một vật nuôi trong gia đình.
- Biết quan sát và nói được đặc điểm nổi bật của con vật mà các em đã quan sát
- Rèn kĩ năng nói thành câu, liên kết các câu thành đoạn văn
- Có ý thức bảo vệ, chăm sóc vật nuôi trong nhà.
b. Những hạn chế, khó khăn khi dạy
- Thời gian dành cho bài tập quá ít, một tiết Tập làm văn đòi hỏi học sinh thực
hiện 3 yêu cầu: Khen ngợi. Kể về con vật. Lập thời gian là rất khó.
- Học sinh chưa biết lựa chọn những đặc điểm nổi bật về hình dáng, về hoạt động
để kể mà hầu hết các em chỉ kể mang tính liệt kê tất cả các bộ phận.

Chẳng hạn: Con

chó nhà em có bộ lông vàng. Nó có 2 cái tai, một cái đầu, 4 cái chân và 1 cai đuôi ngoe
nguẩy.
- Học sinh chưa biét kể tình cảm, thái độ của mình đối với con vật nuôi.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status