SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
" MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU VĂN BẢN CHO
HỌC SINH LỚP 4"
1
PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tiểu học là bậc học mở rộng cho kiến thức ở tương lai, là nền móng vững chắc cho toàn
bộ hệ thống quốc dân. Trong đó Tiếng Việt chiếm thời lượng nhiều nhất so với thời
lượng của các môn học khác. Nó là cơ sở hình thành nhân cách con người Việt Nam và là
cơ sở cho các môn học khác.
Tiếng Việt là môn học công cụ, là chìa khóa, là phương tiện để học sinh tiếp nhận tri thức
loài người. Trong đó, phân môn tập đọc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong chương
trình Tiểu học vì nó đảm nhiệm việc hình thành kĩ năng nghe- đọc- nói cho học sinh,
những kĩ năng quan trọng hàng đầu trong quá trình tiếp nhận tri thức, cho nên đọc (đặc
biệt là đọc hiểu) trở thành đòi hỏi cơ bản, đầu tiên đối với người đi học.
Đọc hiểu là một quá trình chuyển dạng thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông
hiểu nó. Thông qua dạy đọc bồi dưỡng cho học sinh tình yêu Tiếng Việt, yêu cái thiện,
cái đẹp hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt mà cái đích
cuối cùng là sự phát triển toàn diện của học sinh. Nhưng kĩ năng đọc hiểu của học sinh
chưa cao, chất lượng đọc hiểu của các em chưa đạt yêu cầu, dẫn đến kết quả chưa đáp
ứng được yêu cầu của việc hình thành kĩ năng đọc cơ bản quan trọng và không tránh khỏi
việc tiếp thu kiến thức các môn học khác chậm, kết quả học tập của học sinh thấp, chất
lượng giáo dục không cao. Làm thế nào để nâng cao chất lượng đọc hiểu cho học sinh,
giúp các em không chỉ biết đọc to, đọc rõ, đọc lưu loát, biết ngắt, nghỉ, hạ giọng, cao
giọng mà các em còn biết đọc hiểu văn bản, hiểu được nội dung tác phẩm, tư tưởng, tình
cảm tác giả, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã hội chủ nghĩa? Câu
2. THỰC TRẠNG:
- Hàng ngày các em thường giao tiếp bằng ngôn ngữ 1 (Ngôn ngữ 1: Tiếng H’re hay
tiếng mẹ đẻ), nên khi đi học học sinh khó phát âm đúng ngôn ngữ 2 (Tiếng việt);
- Thời gian sử dụng ngôn ngữ 1 gấp 6 lần ngôn ngữ 2;
- Ở tại địa phương nơi các em ở cũng không có người rèn nói đúng cho các em;
- Chưa có ý thức tự học, tự rèn ở nhà, chưa chú ý khi nghe giáo viên đọc.
3. CÁC BIỆN PHÁP
3.1 Để học sinh đọc đúng giáo viên phân loại học sinh và tổ chức cho các em
đọc theo nhóm đối tượng:
BẢNG PHÂN LOẠI HỌC SINH THEO KHẢ NĂNG ĐỌC ĐÚNG
3
Số em
Năm học
Số em
Số em
đọc
chưa
TS biết đọc đúng đọc chậm
Lớp
đúng
HS
Tỉ lệ
SL
14
5
23
14
63
3.2 Dự tính lỗi học sinh dễ mắc, những từ khó lần trước học sinh đọc chưa tốt
để học sinh luyện đọc lại:
- Học sinh đọc chưa đúng chính tả chủ yếu do các em chưa đọc đúng âm, vần, dấu thanh,
chưa phân biệt được cách phát âm, chưa hiểu rõ nghĩa của từ;
- Học sinh đọc sai chính tả do một số lỗi sau:
Ví dụ:
Lỗi do không hiểu nghĩa của từ (để dành/tranh giành, dở dang/giang sơn,..);
+ Lỗi do vô ý, chưa cẩn thận (như thiếu dấu phụ, thiếu dấu thanh);
+ Lỗi về các vần khó (uya, uyu, uênh, oang, oeo, ươu, uyên, uyêt, …);
+ Lỗi do phát âm sai (at/ac, et/ec, an/ang, iu/iêu, iêc/iêt, ươc/ươt, …);
Đây là loại lỗi phổ biến và trầm trọng nhất trong các bài đọc của các em, trong tất cả bài
đọc của học sinh trong lớp thì chỉ có một em duy nhất không sai lỗi nào đó là em:
Nguyễn Nữ Trung Duyên (Năm học 2013-2014).
3.3 Quá trình đọc một văn bản:
- Khi học sinh đọc giáo viên chú ý phát hiện những từ học sinh đọc sai, ghi bảng để học
sinh đọc lại;
- Nếu là học sinh yếu giáo viên cần đọc mẫu trước khi cho học sinh đó đọc lại.
4
TL
%
03
12
8
32
12
48
04
16
TL
%
02 8
Điểm TB
25
KSCL đầu năm
T
S
m
Điể Điểm
giỏi
HS Các
S
L
TL
%
22
KSCL đầu năm
01 5
22
KTĐK cuối kì I 03 14
Điểm khá
Điểm TB
27
09
41
04
18
5. TIỂU KẾT:
5
Đọc đúng là kĩ năng tái hiện âm thanh một cách chính xác, không thừa, không sót âm,
vần, tiếng, ngắt nghỉ hơi đúng chỗ. Kĩ năng đọc đúng giúp học sinh hiểu bài nhanh hơn,
tốt hơn. Vì vậy, rèn kĩ năng đọc đúng là một việc làm không thể thiếu trong giờ dạy tập
đọc.
Đây là cơ sở đề xuất các biện pháp tối ưu nhất nhằm giúp học sinh lớp 4 tự mình chiếm
lĩnh tri thức mới và chất lượng đọc hiểu đạt được kết quả cao nhất.
CHƯƠNG 2
HƯỚNG DẪN HỌC SINH ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
1. LÝ DO HỌC SINH ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
Đọc đúng tiếng, từ của một văn bản là vấn đề cần thiết nhưng chưa đủ nếu như các em
chưa hiểu nghĩa của từ, của văn bản thì việc tiếp nhận nội dung của một vản bản cũng rất
khó khăn. Để các em có thể hiểu nội dung của một văn bản thì các em phải biết cách đọc
hiểu văn bản.
Riêng với học sinh lớp 4 đọc hiểu là vấn đề cần thiết, có hiểu nội dung bài văn (thơ) thì
Số em
Năm học
đọc
chậm
TS biết đọc hiểu
HS
SL
Tỉ
%
lệ
Số em
hiểu chưa
hiểu
biết
SL
Tỉ lệ % SL
Tỉ lệ %
59,1
đọc
Nhận xét:
Từ kết quả trên, tôi nhận thấy rằng số học sinh có kĩ năng đọc – hiểu còn hạn chế. Các
em chưa hiểu và vận dụng được một số khái niệm như đề tài, cốt truyện, nhân vật, tính
cách…để hiểu ý nghĩa của bài và phát hiện một vài giá trị nghệ thuật trong các bài văn,
bài thơ.
2.3 Thực trạng
2.3.1 Thực trạng việc đọc hiểu của học sinh:
Qua thống kê phân loại học sinh cho thấy thực trạng kĩ năng đọc hiểu của học sinh
lớp 4 chưa đạt yêu cầu. Khả năng đọc hiểu của các em vừa yếu lại vừa chậm. Số em chưa
biết đọc hiểu chiếm tới gần 50% tổng số học sinh trong lớp. Chất lượng giờ dạy Tập đọc
chưa cao. Có những học sinh không hiểu gì sau một giờ học tập đọc.
7
Trong tiết học tập đọc, học sinh không hứng thú với việc tìm hiểu nội dung bài đọc
mà chỉ chú ý đọc to, đọc trôi chảy bài văn. Khi tìm hiểu nội dung bài đọc học sinh không
nắm được yêu cầu của câu hỏi dẫn đến nói lan man không có trọng tâm câu trả lời, các
em chỉ tập trung trả lời những câu hỏi mang tính tái hiện lại kiến thức. Với những câu hỏi
mang tính phân tích, tổng hợp, khái quát nội dung kiến thức thì các em gặp nhiều khó
khăn và thường hay sao nhãng với loại câu hỏi này.
2.3.2 Thực trạng việc dạy đọc hiểu của giáo viên:
- Phần lớn giáo viên dạy học còn chạy theo thời gian, làm thế nào cho xong tiết dạy
đúng thời gian qui định, dành nhiều thời gian cho việc rèn đọc thành tiếng, ít quan tâm
đến kĩ năng đọc thầm, đọc lướt, không dành thời gian cho học sinh suy nghĩ về nội dung
văn bản đọc. Trong bước tìm hiểu bài giáo viên ít tác động đồng đều đến các đối tượng
học của con em mình mà đặc biệt là chưa quan tâm đến kĩ năng đọc hiểu của các em
(99% là học sinh dân tộc Hre);
- Một số phụ huynh còn gặp khó khăn trong việc giúp đỡ con em mình học ở nhà, nhất là
gặp khó khăn trong việc giúp các em đọc hiểu.
3. NHỮNG BIỆN PHÁP DẠY HỌC ĐỌC HIỂU:
3.1 Đổi mới phương pháp giảng dạy và các hình thức hoạt động học tập cho học
sinh:
Kĩ năng đọc hiểu là kĩ năng phức tạp, đòi hỏi một quá trình lâu dài. Quá trình ấy
ngày càng được nâng cao, học sinh cần chiếm lĩnh văn bản cả nội dung và nghệ thuật
nên:
- Giáo viên cần hình thành cho các em các bước tìm hiểu văn bản;
+ Hiểu các từ, cụm từ;
+ Hiểu các câu;
+ Hiểu các đoạn, những tập hợp câu dùng để phát biểu ý trọn vẹn;
+ Hiểu được cả bài thơ (bài văn);
- Để học sinh hiểu tốt, giáo viên cho học sinh tự phát hiện kiến thức bằng cách kiểm tra
bạn, kiểm tra chính mình (học sinh đọc đoạn văn mình thích và nêu lí do mình thích).
Hoạt động này diễn ra trong bước kiểm tra bài cũ;
- Để tìm hiểu nội dung bài, giáo viên nên cho học sinh đọc đoạn văn, tự đặt câu hỏi để
tìm hiểu nội dung đoạn văn. Sẽ có nhiều câu hỏi nêu ra.
3. 2. Rèn kĩ năng đọc cho học sinh:
3.2.1 Rèn kĩ năng đọc thầm (đọc lướt). Đây là khâu then chốt.
- Đọc thầm là hình thức đọc có nhiều lợi thế để hiểu văn bản. Đây là hình thức đọc
không phát ra âm thanh mà chuyển trực tiếp từ kí tự sang nghĩa để hiểu văn bản. Đọc
thầm nhanh hơn đọc thành tiếng từ 1,5 đến 2 lần. Nó có lợi thế hơn hẳn đọc thành tiếng
9
trong việc tiếp nhận, thông hiểu nội dung văn bản vì người ta không chú ý đến phát âm
mà chỉ tập trung để hiểu nội dung mình đọc;
Hoặc: Bài “Khuất phục tên cướp biển”, qua cặp câu: “Một đằng thì đức độ, hiền từ mà
nghiêm nghị. Một đằng thì nanh ác, hung hăng như con thú nhốt chuồng”. Giáo viên cần
10
hướng dẫn cho các em thấy được hai hình ảnh đối nghịch nhau của bác sĩ Ly và tên cướp
biển. Từ đó học sinh sẽ tự rút ra được nội dung bài và khẳng định một chân lý đó là: sức
mạnh chính nghĩa bao giờ cũng thắng sự hung tàn, bạo ngược.
* Đoạn là yếu tố trực tiếp cấu thành bài. Để hiểu bài,các em phải hiểu đoạn. Để hiểu
nghĩa của một đoạn, yêu cầu giáo viên phải hướng dẫn các em xác định được đoạn. Đoạn
là một phần của bài đọc bao gồm một số câu liên kết chặt chẽ với nhau, thể hiện cùng
một tiểu chủ đề. Trong thực tế ở Tiểu học phần lớn các đoạn lời trùng với đoạn ý. Song
chỉ có một số ít bài có đoạn lời không trùng với đoạn ý, đó là trường hợp chuyển tiếp,
trường hợp trong văn bản có lời đối thoại. Trong thể loại thơ cũng vậy, đoạn ý có thể
trùng với một hoặc một số khổ thơ. Để nhận ra đoạn, giáo viên cần yêu cầu học sinh đọc
lướt bài, dựa vào các dấu hiệu hình thức của đoạn. Nếu đoạn lời không trùng đoạn ý thì
cần nhận ra dấu hiệu nội dung và hình thức để chia đoạn ý.
- Đối với tác phẩm tự sự mà các sự kiện được trình bày theo diễn biến thời gian, giáo
viên hướng dẫn các em tìm hiểu các từ ngữ chỉ thời gian để tìm đoạn ý.
•
Ví dụ: Bài: “Ông Trạng thả diều” TV4, tập 1- Bắt đầu mỗi đoạn bằng các từ ngữ:
Đoạn 1: Vào đời vua Trần….
Đoạn 2: Lên sáu tuổi….
Đoản 3: Sau vì nhà nghèo….
Đoạn 4: Thế rồi….
- Đối với tác phẩm trữ tình, giáo viên cần hướng dẫn các em căn cứ vào các câu văn,
câu thơ có sự chuyển đổi cảm xúc, tâm trạng để xác định đoạn ý.
•
Ví dụ: Câu “Hoàng hôn áp phiên của phiên chợ thị trấn, người ngựa dập dìu chìm
trong sương núi tím nhạt”. (Đoạn 2, bài Đường đi Sa Pa).
- Đoạn có cấu trúc tối giản chỉ có một câu. Hiểu được nghĩa câu này là hiểu được nghĩa
của đoạn.
•
Ví dụ: Câu “Sa Pa quả là món quà tặng diệu kì mà thiên nhiên dành cho đất nước
ta” (Đoạn cuối, bài Đường đi Sa Pa).
* Trong việc làm rõ ý của đoạn, học sinh không biết tổng hợp - chỉ biết đọc nguyên văn
văn bản mà không biết diễn đạt theo cách khác bằng lời của mình. Để rèn luyện cho các
em kĩ năng này, tôi đã hướng dẫn học sinh bằng cách phân tích.
•
Ví dụ: Xác định nội dung đoạn: “Đứng ngắm cây sầu riêng tôi cứ nghĩ mãi về cái
dáng cây kì lạ này. Thân nó cao vút, cành ngang thẳng đuột, thiếu cái dáng cong, dáng
nghiêng, chiều quằn, chiều lượn của cây xoài, cây nhãn. Lá nhỏ xanh vàng, hơi khép lại,
tưởng như lá héo. Vậy mà khi trái chín, hương tỏa ra ngào ngạt, vị ngọt đến đam mê”.
+ Đoạn văn trên có thể chia làm hai nhóm. Nhóm thứ nhất gồm ba câu đầu, nhóm thứ
hai có một câu cuối. Đọc câu một, hai, ba học sinh phải biết “dáng, thân, cành, lá” tổng
hợp thành “vẻ ngoài” hoặc “cái dáng, cái vẻ” của sầu riêng. Các từ “khẳng khiu, thẳng
đuột…khép lại tưởng như lá héo” phải được khái quát lên thành một nghĩa chung là “xấu
xí”. Từ đó rút ra nghĩa chung của ba câu này là dáng vẻ xấu xí của cây sầu riêng. Nhóm
hai là một câu ghép có hai chủ ngữ và hai vị ngữ đó là “hương - vị”, “tỏa ra ngào ngạtngọt đến đam mê”. Học sinh phải tổng hợp thành ý nhỏ là: hương vị độc đáo của quả sầu
riêng. Hai nhóm được nối bằng từ “vậy mà” thể hiện một cách lập luận đối lập càng tăng
thêm sự kì lạ của hương vị sầu riêng.
12
+ Sau đó học sinh có thể nêu ý của đoạn là: mặc dù hình dáng xấu xí nhưng sầu riêng có
hương vị rất độc đáo và quyến rũ.
* Ngoài ra đọc diễn cảm cũng là một thao tác giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn ý của đoạn
(nhất là với văn bản nghệ thuật). Lúc này nhờ âm thanh - các ý của tác phẩm được vang
- Miêu tả sự vật, hoạt động, trạng thái, đặc điểm hoặc tính chất được gọi tên bằng từ ngữ
đó.
•
VÍ DỤ:
+ Bài “Chú Đất Nung”- TV4, tập 1; Với học sinh vùng miền núi (đặc biệt là vùng núi ở
huyện Ba Tơ) gia đình các em chưa phải dùng đống rấm để giữ lửa, cũng không quen sử
dụng từ “cời”. Vì vậy, tôi phải giải nghĩa từ “đống rấm” dựa vào chú giải sách giáo khoa,
song cũng cần nói thêm tác dụng của đống rấm, ông Hòn Rấm; rồi tìm từ đồng nghĩa
“khều” để giải nghĩa từ “cời” (gạt vật vụn: tro, than ra bằng que)
+ Bài “Sầu riêng”- TV4, tập 2. Với từ “đam mê”, tôi hướng dẫn các em tìm từ thay thế
như: thích thú, yêu thích, khát khao…Sau đó cho các em so sánh và thấy được “đam mê”
là sự ham thích quá mức bao gồm cả sự yêu thích, khát khao và thèm muốn. Vì vậy,
trong câu văn này dùng từ “đam mê” là chính xác nhất, hay nhất. Từ “đam mê” còn
khẳng định sức hấp dẫn, giá trị quí hiếm của quả sầu riêng - đặc sản của miền Nam nước
ta. Đây chính là ý nghĩa khái quát của bài đọc.
+ Bài “Truyện cổ nước mình”- TV4, tập 1. Từ “đa tình” nghĩa trong bài là tấm lòng giàu
tình cảm, luôn lo lắng quan tâm đến nhiều người, nhiều việc trong cuộc sống chứ không
phải có nghĩa như trong câu: “Anh chàng đa tình”.
+ Bài “Hoa học trò”,TV4, tập 2. Với từ “đỏ rực” trong hình ảnh “một góc trời đỏ rực”để giải nghĩa được từ này, trước hết tôi cho các em quan sát tranh. Từ hoạt động quan sát,
các em có được nhận xét về màu sắc, đặc điểm, tính chất của hoa phượng nở rộ với số
lượng rất nhiều. Từ đó, các em dễ dàng giải thích được “đỏ rực” có nghĩa là: đỏ thắm,
tươi tắn và tỏa sáng ra xung quanh.
14
- Bài “Người ăn xin” TV4, tập 1:
Câu hỏi 1: Hình ảnh ông lão đáng thương như thế nào? Các em thường đọc cả đoạn văn
để trả lời chứ không chịu phát huy năng lực tư duy của bản thân. Vì vậy cần thay bằng
câu hỏi: Tìm những từ ngữ miêu tả ông lão ăn xin? Em có nhận xét gì về ông lão?
Hoặc bài: “Vua tàu thủy Bạch Thái Bưởi” TV4,tập 1:
Câu hỏi 2: Bạch Thái Bưởi đã thắng trong cuộc cạnh tranh không ngang sức với các chủ
tàu người nước ngoài như thế nào? Có thể thay bằng câu hỏi: Bạch Thái Bưởi đã làm gì
trước sự cạnh tranh của các chủ tàu người nước ngoài?
- Bài “Dế Mèn bênh vực kẻ yếu” TV4, tập 1 (tiết 2):
+ Câu hỏi 2: Dế Mèn đã làm cách nào để bọn nhện phải sợ? giáo viên có thể chia thành
các câu hỏi nhỏ:
Dế Mèn đã hành động như thế nào khi thấy chúa trùm nhà nhện?
Dế Mèn đã dùng lời lẽ nào để ra oai?
Thái độ của bọn nhện ra sao khi gặp Dế Mèn?
+ Câu hỏi 4: Để tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh lựa chọn một danh hiệu phù hợp
nhất tặng cho Dế Mèn, giáo viên cần giải thích ngắn gọn về nghĩa của từng danh hiệu và
chấp nhận danh hiệu do học sinh lựa chọn (vì mỗi danh hiệu đều ghi nhận những phẩm
chất đáng ca ngợi ở Dế Mèn). Song, muốn khẳng định danh hiệu thích hợp nhất đối với
Dế Mèn trong truyện là danh hiệu “HIỆP SĨ”, giáo viên chỉ cần gợi ý bằng câu hỏi dẫn
dắt cụ thể như: Với hành động mạnh mẽ, kiên quyết và hào hiệp nhằm chống lại áp bức,
bất công luôn che chở, bênh vực, giúp đỡ kẻ yếu - Dế Mèn được tặng danh hiệu nào là
thích hợp nhất? (hiệp sĩ).
* Giáo viên có thể chuyển đổi câu trả lời miệng bằng hệ thống bài tập trắc nghiệm cho
học sinh lựa chọn.
16
•
17
* Tổ chức học sinh làm việc cá nhân (đối với những câu hỏi, bài tập dễ). Yêu cầu học
sinh hoạt động theo nhóm đôi, nhóm bàn, nhóm lớn, theo dãy, theo tổ…để trả lời câu hỏi
hoặc thực hiện bài tập (đối với những câu hỏi,bài tập khó hơn).
* Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả bằng nhiều hình thức phong phú,sinh động khác
nhau như: nêu miệng, thi đua tiếp sức, bảng con, bảng phụ, hoặc trên những đồ dùng dạy
học tự làm…
* Giáo viên có thể trao đổi hoặc sửa lỗi cho học sinh, hoặc tổ chức để học sinhgiải đáp
thắc mắc cho nhau, bổ sung góp ý cho nhau, đánh giá lẫn nhau trong quá trình thực hiện
nhiệm vụ tìm hiểu bài.
* Giáo viên sơ kết, tổng kết ý kiến của học sinh và có thể ghi bảng những nội dung cần
thiết.
•
Ví dụ: Bài “Trăng ơi…từ đâu đến?” TV4, tập 2.
Câu hỏi 3: Trong mỗi khổ thơ tiếp theo, vầng trăng được gắn với một đối tượng cụ thể
đó là những gì? Những ai?
+ Với câu hỏi này, tôi yêu cầu học sinh trao đổi nhóm đôi, đồng thời treo sơ đồ Mạng ý
nghĩa trống lên bảng.
+ Sau thời gian thảo luận, giáo viên yêu cầu các nhóm trình bày kết quả trước lớp. Nhóm
khác nhận xét, bổ sung. Đồng thời giáo viên viết (hoặc gắn những thẻ từ đã chuẩn bị sẵn)
để hoàn chỉnh sơ đồ theo ý kiến của học sinh.
MẠNG Ý NGHĨA
Mẹ
tổng quát của toàn văn bản.
•
Ví dụ:
- Bài “Ăng - co Vát” TV4, tập 2. học sinh chỉ cần dựa vào câu chủ đề để phát hiện nội
dung chính: Ăng-co Vát là một công trình kiến trúc và điêu khắc tuyệt diệu của nhân dân
Cam-pu-chia. Vì bài đọc được viết theo thể diễn dịch;
- Bài “Ông Trạng thả diều” TV4, tập 1. Sau khi hướng dẫn học sinh trả lời các câu hỏi,
bài tập (SGK), để rút ra được nội dung chính của bài, tôi đã đưa ra câu hỏi: Câu chuyện
ca ngợi ai? Ca ngợi về điều gì?; Đồng thời đính sơ đồ “Mạng nhân vật” lên bảng.
Học sinh suy nghĩ cá nhân, nêu ý kiến và nhận xét, bổ sung. Giáo viên kết hợp ghi
(hoặc gắn các thẻ từ đã chuẩn bị sẵn) để hoàn chỉnh sơ đồ.
19
MẠNG NHÂN VẬT
Ham học
Chịu khó
Thông minh
TRẠNG
NGUYÊN
NGUYỄN
HIỀN
Ví dụ: Trong tháng 10 với chủ đề Chào mừng ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt
Nam 20/10.
+ Giáo viên yêu cầu học sinh tìm đọc những mẫu chuyện kể về các bạn nữ, các chị, các
cô…là những phụ nữ giỏi, năng động; những thành tích và sự đóng góp của họ cho xã
hội. Giới thiệu mẫu chuyện em đọc được trước lớp để các bạn cùng nghe.
Giáo viên cung cấp cho học sinh những mẹo vặt thường sử dụng khi đọc sách để học sinh
áp dụng làm tăng khả năng đọc hiểu của các em như:
+ Nhớ lại chủ đề mình đọc.
+ Đọc từ mới, ghi từ mới ra giấy.
+ Tự đặt câu hỏi sau khi đọc xong bài văn (thơ), đoạn văn (thơ).
+ Tìm hiểu chủ đề mình đọc.
* Chú ý: Giáo viên nên có tổng kết kết quả tìm đọc sách của học sính sau mỗi chủ đề,
mỗi tiết kể chuyện để kích thích hứng thú đọc của học sinh và làm cho việc đọc sách trở
thành nhu cầu của mỗi em.
3.2.7 Tạo môi trường tương tác trong lớp học:
Trong giờ Tập đọc thường xảy ra tình trạng giáo viên chỉ nêu câu hỏi cho một số học sinh
khá - giỏi tích cực trả lời đúng, sai. Điều này không kích thích được tất cả học sinh thuộc
mọi đối tượng tham gia vào tìm kiếm, kiến tạo kiến thức. Để khắc phục nhược điểm trên,
giáo viên cần tổ chức cho học sinh thảo luận trong nhóm nhỏ, nhóm lớn, khuyến khích
mọi học sinh tham gia tìm câu trả lời, mời gọi học sinh khác nhóm phản hồi, đánh giá
nhóm bạn. Từ đó học sinh biết chia sẻ kiến thức, hợp tác cùng nhau lĩnh hội kiến thức,
đồng thời học sinh sẽ nhận ra rằng có nhiều câu trả lời khác nhau, nhiều cách khác nhau
khi giải quyết một vấn đề. Học sinh cũng học được cách lắng nghe.
- Tôi tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm 4 (học sinh đọc thầm và trả lời câu hỏi) sau
đó đại diện các nhóm trả lời câu hỏi trước lớp. Chỉ định 1 em điều khiển lớp trao về nội
dung bài đọc dựa vào câu hỏi. Giáo viên chỉ là người cố vấn, giải thích khi học sinh cần,
kết luận những nội dung học sinh trao đổi được.
21
Điểm
giỏi
Điểm khá
S
L
SL
TL
%
SL
TL
%
SL
TL
%
TL
%
Điểm TB
Điểm yếu
04
16
25
KTĐK cuối kì
06 24
II
10
40
09
36
Năm học 2013 - 2014
Điểm
giỏi
Điểm khá
S
L
SL
36
03
14
T
S
Điểm
22
KSCL đầu năm
22
KTĐK cuối kì I 03 14
TL
%
01 5
Điểm TB
Điểm yếu
5. TIỂU KẾT:
Gần 20 năm làm nghề dạy học với nhiều đối tượng và nhiều thế hệ học sinh tôi
nhận thấy kĩ năng đọc hiểu của học sinh là điều mà nhiều giáo viên trăn trở. Cũng như
nhiều giáo viên khác, tôi luôn tìm cách để nâng cao chất lượng giờ dạy Tập đọc, nâng cao
chất lượng đọc hiểu cho các em. Qua nhiều năm nghiên cứu, xây dựng và áp dụng các
biện pháp nói trên, bước đầu đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Học sinh yêu
thích phân môn Tập đọc hơn, các em đọc thành tiếng nhanh hơn, kĩ năng đọc hiểu cũng
được nâng lên rõ rệt, kết quả học tập của học sinh ngày càng được nâng cao.
Đề tài “Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản cho học sinh lớp 4” đã
được áp dụng có hiệu quả với giáo viên, học sinh trường Tiểu học Ba Tô và còn được
24
nhân rộng đến các trường bạn. Nhiều giáo viên trường bạn khi áp dụng những biện pháp
do tôi trao đổi đều đạt những kết quả nhất định. Tuy nhiên, khi áp dụng đề tài giáo viên
cần linh hoạt cho phù hợp với đối tượng học sinh, phù hợp với điều kiện của trường để
giờ dạy đạt hiệu quả cao.
3. BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
Trong giảng dạy Tiếng Việt, với phân môn Tập đọc, đặc biệt là đọc hiểu thì việc
đánh giá đúng thực trạng dạy và học phân môn, tìm hiểu nguyên nhân, từ đó xây dựng
các biện pháp khắc phục hạn chế, nâng cao chất lượng giờ dạy Tập đọc, nâng cao chất
lượng đọc hiểu cho các em, đó là cái đích mà giáo viên hướng tới. Nhưng để làm được
điều đó thật không dễ dàng, nó đòi hỏi sự kiên trì, chịu khó ở giáo viên vì sự tiến bộ của
học sinh không thể có được trong một sớm một chiều. Để học sinh đọc hiểu tốt giáo viên
phải tâm huyết với nghề, phải học hỏi, nghiên cứu và tích lũy kinh nghiệm, đổi mới
phương pháp giảng dạy cho phù hợp với từng đối tượng học sinh. Song, điều không thể
thiếu được là giáo viên phải tận tụy với trẻ, biết quan tâm giúp đỡ các em, làm cho học
sinh thấy được mỗi ngày đến trường là một niềm vui. Trong giảng dạy phải có sự phối
hợp với gia đình học sinh và các lực lượng giáo dục khác, tạo ra cho các em một môi
trường học tập thân thiện và chất lượng.
4. KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT: