Y TẾ VIỆT NAM TRONG XU HƯỚNG TOÀN CẦU HÓA - Pdf 28

Y TẾ VIỆT NAM TRONG XU HƯỚNG TOÀN CẦU HÓA
Tiểu luận môn học: Toàn cầu hóa
Giảng viên : PGS. TS. Lê Văn Thăng
Nhóm thực hiện: - Lê Văn Hoàng
- Nguyễn Thị Thu Hồng
- Dương Quốc Trị
- Trần Hồ Uyên
Lớp : CH QLMT (2009 – 2011)
ĐH Khoa học Huế
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Toàn cầu hóa là không mới, nhưng hiện đã lan rộng hơn và tốc độ thay đổi cũng đang trở nên nhanh
hơn. Thuật ngữ Toàn cầu hoá thường được hiểu là “sự hoà nhập kinh tế toàn cầu”, là một quá trình
lồng ghép, hòa nhập các nền kinh tế, hệ thống xã hội do sự chuyển dịch hàng hoá, vốn, nhân lực - con
người, các tư tưởng và văn hoá.
Có thể thấy đặc trưng lớn nhất của toàn cầu hoá là ở khía cạnh kinh tế, khi mà các nước tự nguyện
chấp nhận một khung chính sách mới bao gồm xoá bỏ các chính sách pháp luật, rào cản thương mại, rào
cản hành chính ảnh hưởng đến tự do hoá thương mại và tư nhân hoá.
Toàn cầu hoá luôn có tính hai mặt, nó có thể làm tăng thu nhập của các nước tham gia nhưng đồng
thời cũng có thể gây ra bất bình đẳng, công bằng xã hội, mất ổn định chính trị, trật tự và an toàn xã hội.
Toàn cầu hóa và y tế là hiệu ứng của toàn cầu hóa trên lĩnh vực y tế, là những tác động đến sức
khỏe của phát triển thương mại quốc tế, cải thiện thông tin liên lạc toàn cầu, tăng dòng chảy của hàng
hóa, dịch vụ và người dân, và biểu hiện khác của toàn cầu hóa.
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang đặt ra cho sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức
khoẻ nhân dân những thách thức to lớn. Toàn cầu hoá vừa đem lại những cơ hội thuận lợi, đồng thời phải
đối mặt với những nguy cơ lây truyền các bệnh dịch nguy hiểm, những thách thức về khả năng cạnh
tranh, nhất là trong lĩnh vực dược và công nghệ cao trong y tế, xu hướng phân hoá giàu nghèo ngày càng
gia tăng, trong khi vẫn phải bảo đảm công bằng trong khám chữa bệnh; nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của
nhân dân ngày càng cao và đa dạng trong khi khả năng đáp ứng của hệ thống y tế còn hạn chế.
Y tế Việt Nam cũng chịu tác động của xu thế toàn cầu hóa

- AIDS/HIV đã lây lan nhanh chóng. Theo UNAIDS, năm 2008 đã có khoảng:

Theo tài liệu của Tổng cục Thống kê công bố năm 2004, do tăng trưởng kinh tế nên tỷ lệ hộ nghèo
giảm mạnh qua các năm, hiện chỉ còn khoảng 10% nhưng khoảng cách sự phân hoá giàu nghèo cũng
tăng nhanh, năm 2002 đã tăng gấp 4 lần so với năm 1990, sự chênh lệch giàu nghèo ở khu vực thành thị
tăng nhanh hơn khu vực nông thôn, ở khu vực phía Nam cao hơn khu vực phía Bắc.
Sự chênh lệch giàu nghèo đã tác động cả tích cực và tiêu cực đến sức khoẻ. Để thực hiện công bằng
trong khám chữa bệnh, trong khi nhu cầu và khả năng chi trả của người dân lại khác nhau dẫn đến nhu
cầu cung ứng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cũng khác nhau, đặc biệt là giải quyết vấn đề khám chữa
bệnh cho người nghèo đòi hỏi phải chuyển đổi chính sách y tế cho phù hợp với thực tế đó.
3. Toàn cầu hoá và các tác động không mong muốn đến sức khoẻ:
Toàn cầu hoá có thể tác động không mong muốn đến sức khoẻ. Việc mở cửa, hội nhập sẽ là xuất hiện
các nguy cơ sức khoẻ khác nhau trong cộng đồng. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã làm cho việc đi
lại, trao đổi hàng hoá tăng nhanh dẫn đến nguy cơ lan truyền dịch bệnh, bệnh tật cũng tăng nhanh. Các
bệnh dịch hạch, hội chứng viêm đường hô hấp cấp tính nặng (SARS), cúm, HIV/AIDS, một số bệnh lây
truyền qua đường tình dục ... có thể lan truyền qua du lịch, đi lại và nhập cư.
Quá trình tự do hoá thương mại đã và sẽ xuất hiện các khủng hoảng kinh tế đột ngột, không bảo đảm
việc làm, thất nghiệp, mất công bằng trong thu nhập... và các sự kiện này đã trở thành nguyên nhân chính
gây trầm cảm, rối loạn tâm thần, rối loạn hành vi, nghiện rượu, bạo lực gia đình, tự tử, xung đột. Ví dụ
như ở Việt Nam, số lượng người nhiễm HIV/AIDS tăng nhanh với nguồn lây nhiễm chủ yếu là tiêm
chích ma tuý và mại dâm hay tai nạn giao thông cũng gia tăng, từ năm 1994 đến 2002, số lượng mắc tai
nạn giao thông tăng từ 14.174 lên 29.827, số chết tăng từ 4.907 lên 12.956 trường hợp.
Toàn cầu hoá cũng có thể ảnh hưởng tới sức khoẻ phụ nữ và trẻ em do việc phụ nữ ngày càng phải
tham gia vào lực lượng lao động. Tăng thu nhập gia đình chưa hẳn đồng nghĩa với việc chăm sóc sức
khoẻ trẻ em tốt hơn thể hiện ở tình trạng suy dinh dưỡng, không được học hành và giáo dục đầy đủ đang
là các vấn đề xã hội cần phải giải quyết.
Mặt khác, tự do hoá thương mại đã làm cho giá các sản phẩm thuốc lá sẽ rẻ hơn, làm cho nhiều người
hút thuốc hơn và tất yếu sẽ xuất hiện nhiều bệnh tật liên quan tới thuốc lá hơn.
4. Toàn cầu hoá tác động đến các dịch vụ y tế.
Quá trình toàn cầu hóa đã tác động đến các dịch vụ y tế ở Việt Nam, thể hiện ở 4 loại hình sau:
- Kinh doanh dịch vụ y tế xuyên biên giới;
- Tiêu thụ dịch vụ y tế ở ngoài nước (thường xảy ra với những người giàu trong xã hội muốn

đang chủ yếu sản xuất các thuốc generic, có cả những thuốc đang trong thời gian bảo hộ bản quyền phát
minh. Việc chi trả cho các bằng phát minh để được phép sản xuất là nằm ngoài tầm với của các doanh
nghiệp dược Việt Nam.
Lộ trình cắt giảm thuế nhập khẩu đồng nghĩa với việc cạnh tranh ngày càng khốc liệt giữa các doanh
nghiệp Việt Nam với các công ty đa quốc gia.
Những rào cản hiện tại trong thương mại là lợi thế của các doanh nghiệp Việt Nam như sự bảo hộ của
Chính phủ, chính sách hạn chế phân phối đối với các công ty nước ngoài sẽ từng bước được dỡ bỏ là
những thuận lợi cho các công ty nước ngoài và là khó khăn đối với các doanh nghiệp dược Việt Nam.
7. Toàn cầu hoá tác động đến việc tiếp cận thuốc điều trị do tình trạng độc quyền, cạnh tranh không
lãnh mạnh của các công ty kinh doanh thuốc nước ngoài tại Việt Nam.
Trong thời điểm cuối năm 2003, đầu năm 2004, trên thị trường Việt Nam có một số biến động về giá
thuốc chữa bệnh, đặc biệt là giá các thuốc chuyên khoa đặc trị tăng gây ảnh hưởng đến khả năng điều trị
của người bệnh, nhất là người nghèo.
Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là vấn đề độc quyền của các công ty dược nước
ngoài tại Việt Nam: Một số công ty nước ngoài như công ty Zuellig Pharma Việt Nam, Công ty
Diethelm, Công ty Mega độc quyền phân phối thuốc, đặc biệt là những thuốc chuyên khoa đặc trị, thuốc
đang trong thời gian bảo hộ bằng phát minh, sáng chế (Patent), thuốc biệt dược của các công ty đa quốc
gia trên thế giới. Một số Công ty TNHH Việt Nam độc quyền một số mặt hàng thuốc của công ty nước
ngoài sau khi trả phí nhập khẩu uỷ thác đã định giá bán buôn, bán lẻ thuốc rất cao nhằm mục đích thu
nhiều lợi nhuận.
Để hạn chế độc quyền, góp phần bình ổn giá thuốc chữa bệnh cần thiết phải nghiên cứu để có các
chính sách chống độc quyền, cạnh tranh lành mạnh của các công ty dược nước ngoài trên thị trường
Việt Nam.
Như các phân tích trên đây cho thấy toàn cầu hoá có thể có tác dụng vừa tích cực vừa tiêu cực đến
tình trạng sức khoẻ của Việt Nam khi tham gia vào quá trình này. Toàn cầu hoá kinh tế có thể là một
công cụ góp phần làm tăng thu nhập và qua đó gián tiếp làm tăng sức khoẻ và phúc lợi xã hội khác
nhưng các tác động có lợi đó sẽ phụ thuộc vào các điều kiện nội tại về sự phát triển của nguồn nhân lực,
cơ sở hạ tầng kinh tế, hạ tầng xã hội, các chính sách đối ngoại và hợp tác với quốc tế. Mặt khác, toàn cầu
hoá cũng có tác động không tốt đến sức khoẻ nên cần phải có sự quản lý, điều tiết có hiệu quả của Nhà
nước trên cơ sở các chính sách y tế của Việt Nam và các yếu tố quan trọng khác như điều kiện xã hội,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status