bộ đề thi thử đại học môn ngữ văn - Pdf 28

SỞ GD- ĐT VĨNH PHÚC
THPT VĨNH PHÚC
ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC NĂM 2014
MÔN VĂN KHỐI D- (ĐỀ SỐ 1)
I. PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm):
Mở đầu tác phẩm Chí Phèo của nhà văn Nam Cao là hình ảnh hắn vừa đi vừa
chửi. Anh/ Chị hãy cho biết Chí Phèo chửi những đối tượng nào? Ý nghĩa của tiếng chửi
đó?
Câu 2 (3.0 điểm):
Tại buổi họp công bố quyết định khởi tố các đối tượng trong vụ án Nhân bản kết
quả xét nghiệm, Công an Thành phố Hà Nội cho biết:
Trong khoảng chín tháng (từ 1.8.2012 đến 15.5.2013), Trưởng khoa xét nghiệm
cùng 7 nhân viên trong khoa đã thực hiện 24.857 xét nghiệm huyết học, có tới 1.495
trường hợp có kết quả xét nghiệm trùng nhau và trong số kết quả trùng nhau có 764 kết
quả xét nghiệm khống. Việc tự in kết quả khống đều do Trưởng khoa xét nghiệm Vương
Kim Thành và các nhân viên thực hiện.
Anh/ Chị viết bài văn (khoảng 600 từ) trình bày quan điểm của mình về sự việc
trên.
II. PHẦN RIÊNG (5.0 điểm)
Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu 3.a hoặc câu 3.b)
Câu 3.a. Theo chương trình Chuẩn (5.0 điểm)
Cảm nhận của anh/ chị về hai đoạn thơ sau:
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;

điều về kiếp sống cô đơn, cơ cực của người nông dân bị tha hóa
trong xã hội thực dân nửa phong kiến; và tấm long thương cảm
của Nam Cao cho số phận con người.
1.0
0.5
2 1 Nhận thức về sự việc:
- Xét nghiệm và kết quả xét nghiệm là yếu tố quan trọng quyết
định tới việc chẩn đoán của các bác sĩ.
- Sự việc trên cho thấy mức độ vi phạm rất nghiêm trọng, việc vi
phạm diễn ra trong thời gian dài, tính chất vi phạm mang tính hệ
thống và có tổ chức.
0.25
0.25
2 Bàn bạc về sự việc:
- Việc làm trên là hành vi trục lợi trên thân xác và danh nghĩa bệnh
nhân, là hành vi vô nhân đạo rất đáng bị pháp luật nghiêm trị, xã
hội lên án.
- Sự việc cho thấy sự tha hóa đang ở mức báo động trong một bộ
phận những người thầy thuốc.
- Hành vi trên đã đi ngược lại y đức của người thầy thuốc Lương y
như từ mẫu.
- Tuy nhiên, đây chỉ là hiện tượng con sâu làm rầu nồi canh, bởi
trên đất nước ta vẫn còn biết bao nhiêu bác sĩ, lương y ngày đêm
tận tình cứu chữa bệnh nhân…
0.5
0.5
0.5
0.5
3 Bài học nhận thức và hành động: 0.5
- Lên án hành vi nhân bản kết quả xét nghiệm để trục lợi.

vĩnh viễn trong những con sóng khác. Con người sẽ ra đi nhưng
tình yêu vẫn còn ở lại giữa tình yêu cuộc đời. Đó cũng là cách để
tình yêu trở nên bất tử.
- Thể thơ ngũ ngôn hiện đại, hình tượng sóng được sử dụng linh
hoạt, sáng tạo để thể hiện cảm xúc của nhân vật trữ tình.
1.25
0.5
3 Sự tương đồng và khác biệt giữa hai đoạn thơ:
- Điểm tương đồng:
Hai đoạn thơ đều bộc lộ thái độ sống tích cực của hai thi sĩ trước
cuộc đời. Đó là tình yêu và khát vọng sống mãnh liệt. Đây là hai
đoạn thơ có sự kết hợp giữa cảm xúc- triết lí.
- Điểm khác biệt:
+ Sử dụng thể thơ tự do; vận dụng tối đa hiệu quả của các biện
pháp nghệ thuật (điệp, liệt kê, nhân hóa,…); đoạn thơ của Xuân
Diệu diễn tả cảm xúc sôi nổi, mãnh liệt của cái tôi cá nhân muốn
khẳng định mình một cách chói lói.
- Bằng giọng điệu thủ thỉ, tâm tình đầy nữ tính, thể thơ ngũ ngôn
hiện đại, hình ảnh ẩn dụ; Xuân Quỳnh thể hiện khát vọng được tan
hòa cái tôi vào cái ta chung của cuộc đời để tình yêu trở thành bất
tử.
0.25
0.25
3.b 1 Vài nét về tác giả, tác phẩm:
- Thạch Lam là nhà văn lãng mạn nổi tiếng của Việt Nam trước
Cách mạng. Truyện của ông thường không có cốt truyện hoặc cốt
truyện đơn giản. Mỗi truyện như một bài thơ trữ tình đượm buồn.
- Hai đứa trẻ là truyện ngắn xuất sắc in trong tập Nắng trong
vườn (1938).
0.25

- Với chị em Liên, hình ảnh đoàn tàu gợi lại một quá vãng tươi
đẹp. Đó là thời gian ở Hà Nội, ba Liên chưa mất việc, cuối tuần
chị em Liên thường được đi ăn kem Bờ Hồ và uống những cốc
nước lạnh xanh đỏ.
- Với những người dân phố huyện, hình ảnh đoàn tàu cùng ánh
sáng rực rỡ và âm thanh náo nhiệt đã xua đi cuộc sống tù đọng
quẩn quanh nơi đây, thắp lên niềm tin, niềm hi vọng vào tương
laic ho họ. Đồng thời con tàu còn là hình ảnh biểu tượng về cuộc
sống đủ đầy, hạnh phúc, nhiều niềm vui.
0.25
0.25
5 Đánh giá:
Bằng cảm nhận tinh tế, giọng văn nhẹ nhàng, thủ thỉ, tấm lòng
cảm thương sâu sắc, Thạch Lam đã tạo được sức hấp dẫn đặc biệt
cho truyện ngắn này.
0.5
PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)
Câu I (2,0 điểm): Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể
Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
(Theo Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục, 2008, tr.114)
a) Những cụm từ in nghiêng trong đoạn thơ trên thể hiện đặc sắc nghệ thuật gì ?
b) Đặc sắc nghệ thuật ấy có ý nghĩa như thế nào ?
Câu II (3,0 điểm) Lắng nghe màu dân tộc
Tháng 6 – 2012, dự án truyền thông mang tên “Tôi xê dịch” của nhóm bạn trẻ Hà Nội ra mắt.
Người sáng lập là Nguyễn Thu Hà, cô gái Hà Nội sinh năm 1991. Đó là một dự án phi lợi nhuận với
mục đích tìm hiểu sâu về văn hóa dân tộc. “Tôi xê dịch” đã tổ chức nhiều chuyên đề thông qua một số


Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm mát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa

Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về.
(Văn học 12, Tập một, NXB Giáo dục, 2005, tr.86-87)
PHẦN RIÊNG . Thí sinh chỉ được làm câu III.a hoặc III.b
Câu III.a. Theo chương trình KHÔNG phân ban (3 điểm)
Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam.
Câu III.b. Theo chương trình phân ban (3 điểm)
Nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật Việt trong truyện ngắn Những đứa con
trong gia đình của Nguyễn Thi
ĐÁP ÁN ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC MÔN VĂN KHỐI C,D
VỤ GD TUYỂN SINH ĐẠI HỌC NĂM 2014
PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ CÁC THÍ SINH
Câu I (2 điểm)
HS cần trình bày được :
- Hoàn cảnh sáng tác của tâp thơ Nhật kí trong tù : Tháng 8 -1942, Nguyễn Ái Quốc
lấy tên là Hồ Chí Minh lên đường trở lại Trung Quốc với danh nghĩa là đại biểu của Việt
Nam độc lập đồng minh và Phân bộ quốc tế phản xâm lược của Việt Nam để tranh thủ sự
viện trợ của thế giới. Sau nửa tháng trời đi bộ, đến Túc Vinh (Quảng tây, Trung Quốc),
Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam, bị giải đi gần 30 nhà lao của13 huyện
Quảng Tây. Trong 13 tháng ở tù (từ mùa thu 1942 đến mùa thu 1943), Hồ Chí Minh đã
sáng tác 133 bài thơ bằng chữ Hán và đặt tên là Ngục trung nhật ký tức Nhật ký trong tù.

hiền hòa vừa đầy tiềm năng, chan chứa niềm tự hào của con người khi được làm chủ đất
nước.
- Đất nước với truyền thống đấu tranh anh dũng, bất khuất (Nước chúng ta…vọng nói
về) : đất nước với những người chưa bao giờ khuất được nhắc tới với niềm tự hào, trân
trọng. Những câu thơ ( Những người chưa bao giờ khuất - Đêm đêm rì rầm trong tiếng
đất ) khơi gợi những đặc tính quí báu của con người, dân tộc Việt Nam - vừa chân
chất, giản dị vừa bất khuất, anh hùng. Điểm đặc biệt là cái nhìn phát hiện các yếu tố
truyền thống qua việc cảm nhận những âm thanh vô hình bằng thính giác (Đêm đêm rì
rầm trong tiếng đất / Những buổi ngày xưa vọng nói về).
3. Đánh giá chung :
- Hình ảnh đất nước vừa tươi đẹp vừa giàu truyền thống hiện ra qua niềm vui rạo rực,
qua tâm trạng sảng khoái, qua cái nhìn tự hào của một con người đang ý thức rõ rêt về sự
thay đổi lớn lao của đất nước cũng như những biến chuyển trong lòng mình. Cái tôi nhỏ
bé đã chuyển thành cái ta chung rộng lớn, đang náo nức ngân vang
- Nhịp thơ có lúc nhanh mạnh, sôi nổi (2 khổ đầu), có lú trầm lắng, suy tư (khổ cuối),
hình ảnh thơ dân dã khỏe khoắn, câu thơ tự do biến đổi linh hoạt, âm hưởng thơ hào sảng
đậm chất sử thi … tất cả các yếu tố nghệ thuật này đã góp phần mang đến cho người đọc
một bức tranh đất nước trong kháng chiến chống Pháp, ấn chứa niềm tự hào vô hạn của
tác giả.
PHẦN RIÊNG
Câu III.a. Theo chương trình KHÔNG phân ban (3 điểm)
HS cần trình bày được các ý chính sau :
1. Giới thiệu khái quát về tác giả Thạch Lam, về tác phẩm Hai đứa trẻ :
- Thạch Lam là một cây bút truyện ngắn tài hoa xuất sắc trong giai đoạn văn học 1930
-1945. Những truyện ngắn của Thạch Lam được đánh giá như những bài thơ trữ tình
đượm buồn vì vừa đậm chất trữ tình vừa thể hiện cảm quan hiện thực sâu sắc.
- Hai đứa trẻ (in trong tập Nắng trong vườn) là một truyện ngắn đặc sắc của Thạch Lam,
vừa tiêu biểu cho bút pháp của nhà văn, vừa thể hiện giá trị tư tưởng sâu sắc và mới mẻ.
2. Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Hai đứa trẻ :
* Giá trị nhân đạo : là một trong những phương diện quan trọng tạo nên giá trị nội dung

Câu III.b. Theo chương trình phân ban (3 điểm)
Cần đáp ứng được một số ý chính sau :
1.Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Thi, truyện ngắn Những đứa con trong gia
đình :
- Nguyễn Thi là nhà văn nổi tiếng trong thời kì chống Mĩ. Ông được coi là nhà văn của
người nông dân Nam Bộ bởi lẽ hình ảnh của họ luôn xuất hiện trong các trang viết của
ông với tính cách hồn nhiên, sôi nổi, bộc trực, giàu tình nghĩa với quê hương và gia
đình.
- Những đứa con trong gia đình là một tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Thi, phản ánh vẻ
đẹp tâm hồn người nông dân Nam Bộ thời chống Mĩ. Nhân vật Việt – nhân vật trung tâm
của tác phẩm, thể hiện khá tập trung những đặc điểm tính cách nhân vật của nhà văn.
2. Nhận xét nghệ thuật xây dựng nhân vật Việt : chủ yếu ở những phương diện sau :
- Trước hết là lối trần thuật độc đáo : trần thuật theo ngôi thứ ba của người kể chuyện
tự giấu mình nhưng cách nhìn và lời kể lại theo giọng điệu, dòng ý thức của nhân vật
(Việt rơi vào tình huống đặc biệt, bị thương nặng, phải nằm lại ở chiến trường. Anh
nhiều lần ngất đi rồi tỉnh lại). Dòng ý thức khi đứt (lúc nhân vật bị ngất) khi nối (khi
nhân vật tỉnh lại) giúp người đọc hình dung về cuộc sống, suy nghĩ rất riêng của nhân vật
này. Lối trần thuật này đòi hỏi khả năng nhập thân nhân vật một cách tài tình mà không
phải nhà văn nào cũng làm được.
- Nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật mang đậm sắc thái Nam Bộ : Việt hiện lên
trong dòng hồi tưởng là vừa mang những nét hồn nhiên, hiếu động ( thích lang thang bắn
chim, bắt cá, lúc nào cũng có cái ná thun trong người ), hiếu thắng (hay tranh phần hơn
với chị, kể cả việc ghi tên nhập ngũ), hay ỷ lại vào chị vì quen được chị chiều chuộng
… vừa rất thẳng thắn, bộc trực, giàu tình cảm, ngùn ngụt căm thù, đặc biệt là rất dũng
cảm với cách thể hiện rất Nam Bộ, của người Nam Bộ (chú ý chi tiết ở đơn vị, Việt giấu
biệt chị đi vì sợ người ta lấy mất chị ; chiến trường, cách thể hiện tình cảm thích đáng
nhất của Việt dành cho má, cho chú Năm. cho chị là đánh giặc). ChấtNam Bộ cũng thể
hiện rõ trong hệ thống phương ngữNam Bộ mà nhân vật sử dụng.
- Ngôn ngữ đối thoại xen lẫn với độc thoại nội tâm: trong tác phẩm, ngoài những đoạn
đội thoại (dòng suy nghĩ của nhân vật), cần chú ý những đoạn đối thoại giữa hai chị em

Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời.
(Đất Nước- Nguyễn Khoa Điềm, Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục, 2008)
Câu 3.b. Theo chương trình Nâng cao (5.0 điểm)
Trong truyện ngắn Vợ nhặt, Kim Lân đã xây dựng được một tình huống truyện
khá đặc biệt. Anh/ Chị hãy làm sáng tỏ điều đó.
(Vợ nhặt- Kim Lân, Ngữ văn 12 Nâng cao, tập hai, NXB Giáo dục, 2008)
Hết
Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.
Họ và tên thí sinh: …………………………………… Số báo danh: …………………
ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC MÔN VĂN KHỐI C,D NĂM 2014 LẦN 3
THPT CHUYÊN ĐH VINH
PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)
Câu I (2,0 điểm): Cho đoạn văn sau:
Về mặt thể loại văn học, ở nước ta, thơ có truyền thống lâu đời. Sử thi của các dân
tộc ở Tây Nguyên, của dân tộc Mường, …, truyện thơ dân gian của các dân tộc Thái,
Tày, Nùng … còn lưu truyền nhiều thiên bất hủ. Ca dao, dân ca, thơ cổ điển của người
Việt thời phong kiến cũng để lại nhiều viên ngọc quý. Thơ hiện đại, trước cũng như sau
Cách mạng tháng Tám 1945, đã góp vào kho tàng văn học dân tộc biết bao kiệt tác. Văn
xuôi tiếng Việt ra đời muộn, gần như cùng với thế kỉ XX, nhưng tốc độ phát triển và
trưởng thành hết sức nhanh chóng. Với các thể bút kí, tuỳ bút, truyện ngắn, tiểu thuyết,
văn xuôi Việt Nam đã có thể sánh cùng với nhiều nền văn xuôi hiện đại của thế giới.
a) Hãy cho biết, đoạn văn trên thuộc phong cách ngôn ngữ gì? Căn cứ vào đâu để nhận
biết điều ấy?
b) Tóm tắt nội dung của đoạn văn bằng một câu ngắn gọn.
Câu II (3,0 điểm):
Anh/chị hãy viết một bài văn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của mình về hiện
trạng: nhiều học sinh không thích học môn Lịch sử và ít hiểu biết về truyền thống dựng
nước, giữ nước vẻ vang của dân tộc.
PHẦN RIÊNG (5,0 điểm):

miễn là nói đúng ý trọng tâm.
II. Suy nghĩ về hiện trạng học sinh không thích học môn Lịch sử
1. Nêu hiện trạng: Việc học sinh không thích học môn Lịch sử và ít hiểu biết về truyền
thống dựng nước, giữ nước vẻ vang của dân tộc là điều có thật và là một thực tế đau
lòng. Hiện trạng này không thể không thấy, không thể không suy nghĩ:
+ Xé đề cương ôn thi môn Lịch sử và rải trắng khắp trường khi nghe tin môn này
không có trong danh sách các môn thi tốt nghiệp (năm 2013).
+ Mừng rỡ khi Lịch sử không còn là môn thi bắt buộc mà là môn thi tự chọn; ít học
sinh đăng ký thi môn Lịch sử theo hình thức tự chọn (năm 2014). Hằng năm, kết
quả điểm thi môn Lịch sử (kể cả thi tốt nghiệp và thi tuyển sinh đại học) thấp một
cách bất thường.
+ Ít người trả lời thông suốt những câu hỏi về lịch sử trong các kỳ thi trên truyền
hình, kể cả những người được xem là học tốt, học giỏi.
+ Lúng túng khi được hỏi về các nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử nổi bật được lấy
tên đặt cho các đường, các phố trong nhiều đô thị.
2 Nguyên nhân:
+ Phía nhà trường: chương trình, sách giáo khoa Lịch sử khô cứng, không hấp dẫn;
thầy, cô dạy không có phương pháp và thiếu nhiệt tình, không truyền được niềm
đam mê lịch sử cho học sinh.
+ Phía các kênh tuyên truyền: nặng về cung cấp thông tin một chiều hoặc chưa lưu ý
đến hiệu quả xấu của việc cho chiếu quá nhiều phim cổ trang của Trung Quốc.
+ Phía cá nhân học sinh: bị thu hút quá mạnh vào những trò giải trí hấp dẫn quanh
mình, bị chi phối của quan niệm thực dụng về việc học và việc chọn nghề sau này,
quá ít đọc các sách, các tài liệu về lịch sử.
3 Ứng xử, hành động của bản thân trước hiện trạng nêu trên:
- Phải nhận thức đầy đủ hơn về ý nghĩa của kiến thức lịch sử.
- Phải tích lũy kiến thức lịch sử một cách nghiêm túc hơn, tìm thấy hứng thú ở những câu
chuyện nói về truyền thống hào hùng của cha ông.
- Phải nuôi dưỡng không ngừng lòng tự hào dân tộc.
III.a Cảm nhận đoạn thơ trong Vội vàng (Xuân Diệu) và đoạn thơ trong Từ ấy (Tố

hoặc diễn tả sự tác động đột ngột được tung ra đầy hiệu quả: bừng, chói, đậm, rộn.
Có thể khẳng định, sự vận động vô hình của tâm hồn đã được hình tượng hóa một
cách hết sức thuyết phục.
4 Nhìn chung về hai đoạn thơ:
- Hai đoạn thơ thể hiện chân thực tiếng lòng của hai con người cùng thế hệ và sống
cùng thời, tất cả đều yêu đời, gắn bó với cuộc sống, đều tràn đầy tình cảm lãng
mạn, đều biết diễn tả niềm hưng phấn của mình một cách cụ thể, giàu hình ảnh,
gây được ấn tượng mạnh mẽ.
- Trong khi Xuân Diệu bộc lộ tâm sự của một cái tôi vô tư trước cuộc đời thì Tố Hữu
lại muốn bày tỏ một thái độ chính trị đối với xã hội. Sự khác biệt này có liên quan
tới cách tham dự khác nhau của các nhà thơ vào đời sống.
III.b Về hai cặp nhân vật trong Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) và Vĩnh biệt Cửu
Trùng đài (trích kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng)
1 Giới thiệu khái quát về hai tác giả, hai tác phẩm và hai cặp nhân vật
- Nguyễn Tuân và Nguyễn Huy Tưởng đều là những nhà văn tài năng và có những
sáng tác thành công trước 1945.
- Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân và Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng là hai tác
phẩm xuất sắc của văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945, đánh dấu thành tựu
chín muồi của hai thể loại truyện ngắn và kịch. Ở hai tác phẩm, các cặp nhân vật
Huấn Cao - Quản ngục và Vũ Như Tô - Đan Thiềm gây được ấn tượng sâu đậm. Có
thể xem đó là những cặp tri kỷ hiếm có giữa cuộc đời.
2 Mối quan hệ giữa Huấn Cao và Quản ngục làm sáng tỏ các vấn đề:
- Trong Chữ người tử tù, giữa Huấn Cao và Quản ngục tồn tại một mối quan hệ éo
le: hai người thuộc hai phía đối lập nhau trong quan hệ xã hội, lại ở hai tình thế trái
ngược, bỗng dưng gặp nhau nơi ngục thất, sau những nghi kỵ ban đầu đã trở thành
những kẻ tâm giao.
- Sức hấp dẫn và khả năng cảm hóa của cái đẹp (cũng là sự chiến thắng của cái đẹp).
- Thiên lương trong sáng và khí phách của Huấn Cao - người nghệ sĩ dũng cảm
đương đầu với bạo quyền; tình yêu cái đẹp và ý chí phục thiện của Quản ngục -
người từng trót đặt mình vào chỗ nhem nhuốc, xô bồ.

ÔN THI ĐẠI HỌC - LẦN 3- 2013
MÔN NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 180 phút
I. PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm):
Các giai đoạn phát triển của tiểu thuyết văn xuôi quốc ngữ đầu thế kỷ XX đến
1945? Nhà văn nào được xem là người mở đầu cho tiểu thuyết lãng mạn, tiểu thuyết
hiện thực thời kỳ này?
Câu 2 (3.0 điểm):
Hãy viết một bài văn ngắn (không quá 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về
ý kiến sau:
Sai lầm lớn nhất trong cuộc đời là sợ mắc phải sai lầm.
(Dẫn theo George Matthew Adams, Không gì là không thể, NXB Trẻ, Tp Hồ
Chí Minh, 2009, tr. 118)
II. PHẦN RIÊNG (5.0 điểm)
Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu 3.a hoặc câu 3.b)
Câu 3.a. Theo chương trình Chuẩn (5.0 điểm)
Cảm nhận của anh/chị về nỗi buồn trong Thơ mới qua hai bài thơ Tràng giang
của Huy Cận và Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử (Ngữ văn 11, Tập hai, NXB Giáo
dục).
Câu 3.b. Theo chương trình Nâng cao (5.0 điểm)
Nguyễn Khải từng viết: Nói cho cùng, để sống được hàng ngày tất nhiên phải
nhờ vào những “giá trị tức thời”. Nhưng để sống cho có phẩm hạnh, có cốt cách nhất
định phải dựa vào những giá trị bền vững. (Dẫn theo Ngữ văn 12 Nâng cao,
Tập hai, Nxb Giáo dục 2008, tr. 83).
Theo anh/chị, nhân vật bà Hiền (Nguyễn Khải – Một người Hà Nội) có thể hiện
những giá trị bền vững không? Nếu có, hãy phân tích
Hết
Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.
Họ và tên thí sinh: …………………………………… Số báo danh: …………………

2 Sai lầm lớn nhất trong cuộc đời là sợ mắc phải sai lầm 3.0
1 Giải thích ý kiến
- Sai lầm là trái với yêu cầu khách quan, hoặc lẽ phải, dẫn đến
những kết quả không như mong muốn. Sai lầm là một phần
1.0
của cuộc sống.
- Nói sai lầm lớn nhất của con người là sợ mắc sai lầm là bởi,
cuộc sống không có ai toàn diện đến mức không phạm sai
lầm. Dù có sợ sai lầm, thì sai lầm vẫn đến với con người.
2 Bàn luận ý kiến
- Là một phần của cuộc sống, sai lầm có thể đến với con người
trong mọi hoàn cảnh, với những mức độ khác nhau. Bởi thế,
thái độ cần có của con người không phải là sợ sai lầm mà phải đối
mặt với sai lầm, có cách ứng xử phù hợp trước mỗi sai
lầm.
- Trước mỗi sai lầm, cách nhìn, ý chí, kinh nghiệm sống, tri
thức giúp con người có những cách ứng xử khác nhau. Sợ sai
lầm sẽ khiến cho con người rụt rè, thui chột ý chí, không dám
hành động để có thành công. Điều có ý nghĩa là từ sai lầm,
mỗi người biết rút ra cho mình bài học bổ ích, kinh nghiệm
quý giá để có được những thành công trong cuộc sống.
1.5
3 Liên hệ thực tế và bài học nhận thức hành động
- Phân tích, liên hệ với thực tế đời sống với hai thái độ ứng xử
trước sai lầm (sợ hãi sai lầm và hậu quả của nó; chấp nhận,
biết rút ra bài học để có thành công)
- Có ý thức tích lũy tri thức, kinh nghiệm, rèn luyện bản lĩnh
sống để có cách ứng xử phù hợp trước mỗi sai lầm trong cuộc
sống.
0.5

- Hàn Mặc Tử (1912 – 1940) là một trong những nhà thơ có
sức sáng tạo mạnh mẽ nhất của phong trào Thơ mới. Thơ ông
luôn thể hiện một tình yêu đớn đau hướng về cuộc đời trần
thế.
- Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ (lúc đầu có tên gọi Ở đây thôn Vĩ
Dạ) được viết năm 1938, in trong tập Thơ điên (về sau đổi
thành Đau thương). Bài thơ được gợi cảm hứng từ mối tình
đơn phương của Hàn Mặc Tử với một cô gái Huế, ở thôn Vĩ
Dạ.
b. Những sắc thái, cung bậc của nỗi buồn trong Đây thôn
Vĩ Dạ
- Nỗi buồn nhớ Huế thân thương, đượm xót xa của một con
người ý thức được cảnh ngộ của mình (Sao anh không về chơi
thôn Vĩ?). Cảnh sắc, con người Vĩ Dạ đẹp, ấm áp càng gợi nỗi
2.0
buồn tiếc nuối.
- Cảnh sắc thiên nhiên đẹp, thấm đượm nỗi buồn chia lìa,
tan tác (Gió theo lối gió, mây đường mây/ Dòng nước buồn
thiu, hoa bắp lay…), mờ ảo, chập chờn tỉnh, mộng (Thuyền ai
đậu bến sông trăng đó/ Có chở trăng về kịp tối nay?). Đó là
một thiên nhiên chứa đầy tâm trạng của nhà thơ.
- Nỗi buồn đớn đau, tuyệt vọng của một tâm hồn thiết tha
yêu cuộc sống, con người và ý thức được sự bất lực của mình
(Ở đây sương khói mờ nhân ảnh/ Ai biết tình ai có đậm đà?
3 Đánh giá chung
- Buồn là một đặc điểm nổi bật, phổ biến của Thơ mới, mang
đến cho Thơ mới một vẻ đẹp riêng. Cảnh sắc thiên nhiên, tâm
trạng con người đều nhuốm nỗi buồn. Nó được bắt nguồn từ
cái tôi cô đơn, bế tắc của một thế hệ nhà thơ trước Cách mạng.
- Đều thể hiện một cảm xúc buồn, song Huy Cận trong Tràng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status