Câu quan hệ có từ "là " trong tiếng Việt - Pdf 28

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
________________
Bùi Mai Hương
CÂU QUAN HỆ CÓ TỪ “LÀ”
TRONG TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành : Lý luận ngôn ngữ
Mã số : 60 22 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS. DƯ NGỌC NGÂN Thành phố Hồ Chí Minh -2009

Bùi Thị Mai Hương
QUI ƯỚC TRÌNH BÀY

Luận văn này chúng tôi trình bày theo những quy ước như sau:

1. Những trường hợp in nghiêng:
- Tên tác phẩm
- Các trích dẫn
2. Trường hợp in nghiêng, chữ đậm : Nội dung nhấn mạnh.

3. Những số ở trong ngoặc vuông [,]: số đầu chỉ nguồn trích dẫn theo thứ
tự trong “ Tài liệu tham khảo”, số thứ hai chỉ số trang của tài liệu trích
dẫn.

Ví dụ: [3,5] là nguồn trích dẫn lấy từ tài liệu Các văn bản pháp quy,
trang 5.
4. Những số trong ngoặc đơn ( ) có hai trường hợp:
a. Số thứ tự của các ví dụ: được đặt trước các ví dụ.
b. Cho biết nguồn của các ví dụ: đặt sau các ví dụ.
5. Những ví dụ không ghi chú nằm trong trường hợp:
- Những ví dụ do người viết đặt ra.
- Những ví dụ lấy từ đối thoại thực tế.
6. Tài liệu trích dẫn được viết tắt là : TD

trong các ngôn ngữ khác. Từ trước tới nay, một số công trình về ngữ pháp
tiếng Việt có đề cập đến câu quan hệ nhưng có lẽ chưa có công trình nào
nghiên cứu sâu và cụ thể vào một khía cạnh nào đó của câu quan hệ. Chúng

tôi nhận thấy vấn đề “Câu quan hệ trong tiếng Việt” đặc biệt là “câu quan hệ
có từ “là” trong tiếng Việt” là một vấn đề lý thú và bổ ích nên quyết định
chọn làm đề tài luận văn.
Để tiện cho việc khảo sát, chúng tôi dùng các ngữ liệu trên ngôn ngữ
viết thuộc nhiều phong cách ngôn ngữ khác nhau như phong cách khoa học,
phong cách chính luận, phong cách hành chính, phong cách ngôn ngữ văn
chương.
Luận văn khảo sát câu quan hệ có từ “là” trong tiếng Việt nhằm c
ác
mục đích sau đây :
- Tiếp xúc với các vấn đề lý thuyết về ngữ nghĩa học, về ngữ pháp chức
năng (đặc biệt là quan niệm của M.A.K. Halliday, S.C. Dik), vận dụng vào
việc khảo sát, lý giải một loại câu quan hệ trong tiếng Việt.
- Kết quả khảo sát, phân tích loại câu quan hệ có từ “là”trong tiếng Việt
có thể có những đóng góp thiết thực vào thực tiễn nói, viết và thực tiễn giảng
dạy tiếng Việt.
0.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Như trên đã nói, có rất nhiều công t
rình nghiên cứu về các kiểu quá
trình trong hệ thống chuyển tác của ngôn ngữ, trong đó có quá trình quan hệ.
Ở mỗi công trình các tác giả có thể có những cách tiếp cận khác nhau. Luận
văn không có tham vọng bao quát đầy đủ quá trình nghiên cứu về câu quan hệ
trong ngôn ngữ nói chung và trong tiếng Việt nói riêng. Thông qua tìm hiểu
của bản thân, chúng tôi chỉ cố gắng điểm qua tình hình nghiên cứu câu quan
hệ của những tác giả tiêu biểu trên thế giới và
ở Việt Nam.

V.Z. Panfilov, C. Fillmore, Simon C.Dik … cũng đề cập đến câu quan hệ hay
loại câu tương tự câu quan hệ.

Nhà ngôn ngữ học Simon C. Dik trong Functional Grammar (Ngữ pháp
chức năng-1978), đã dùng thuật ngữ “sự tình” (cái có thể là tình huống trong
một thế giới nào đó). S.C. Dik dựa trên hai thông số cơ bản là tính động
(Dynamism) và tính có chủ ý (Control) để xác lập ra bốn loại hình sự tình:
hành động, quá trình, trạng thái, tư thế (xem bảng trình bày các sự tình của
S.C. Dik) trong đó không có loại hình sự tình quan hệ. Đến năm 1989, S.C.
Dik đưa thêm Tính thành quả (Telicity) vào bộ thông số và cho ra một bảng
phân loại gồm sáu sự tình: Tư thế (Position), Trạng thái (State), Hành động
hoàn thành (Accomplishm
ent), Hành động diễn tiến (Activity), Quá trình biến
đổi (Change), Quá trình biến động (Dynamism). Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại
những khiếm khuyết như Siewierska (1991) thừa nhận: “Những loại hình sự
thể lọt ra ngoài bảng phân chia loại nhỏ này thì không được nêu tên gọi.”
[54, số 10, tr.14]. Diệp Quang Ban cho rằng ngoài lĩnh vực các quan hệ, cách
phân loại sự thể của S.C. Dik khá thỏa đáng nhưng rất khó để tìm kiếm được
một giải pháp khả thi mới để kết hợp cả hai cách phân loại của S.C. Di
k và
M.A.K. Halliday.
Bảng trình bày các loại sự tình của S.C. Dik.(nguồn NPCN,tr.50)
Sự tình

+ Động
Sự kiện
-Động
Tình huống
+ Chủ ý Hành động Tư thế
- Chủ ý Quá trình Trạng thái

không cân bằng với ba ô còn lại. Các vị từ làm hạt nhân cho loại câu này như
đứng, ngồi, nằm, quỳ… có thể đếm trên đầu ngón tay, theo thống kê không
tới 0,2% trong số các vị từ làm hạt nhân cho các loại câu nằm ở ô hành động,
trạng thái, quá trình. Không chỉ vậy, lược đồ của Dik khó có thể chia ra chi
tiết hơn nữa, chẳng hạn không thể xếp các câu tồn tại, câu định vị (ví dụ như
câu: “Cá nằm
trên thớt” không được xếp vào ô loại tư thế vì thiếu tiêu chí (+
chủ động).), hay câu đẳng thức .v.v… không xếp vào ô nào trong bốn ô phân
loại các loại sự tình của Dik). Như vậy, không thể dựa vào bảng phân loại sự
tình của S.C. Dik để miêu tả câu quan hệ tiếng Việt.
John Lyons, nhà ngôn ngữ học truyền thống ở Anh, tiếp cận vấn đề từ
quan điểm logic. Ông cũng đã đưa ra các kết cấu tồn tại, định vị và sở hữu
tương tự th
uật ngữ “các quá trình quan hệ” mà luận văn đang đề cập. John
Lyons cho rằng trong rất nhiều ngôn ngữ có những tương tự hiển nhiên giữa
những câu định vị và câu tồn tại, chẳng hạn:
Ví dụ
: Tiếng Anh
(7) Coffee will be here in a moment. không có sự khác nhau
(7’) There will be coffee here in a moment. về nghĩa giữa (7) và (7’)
John Lyons, tiếp cận vấn đề từ quan điểm logic học, với các câu tồn tại
câu định vị, và câu sở hữu, ông phân ra làm hai xu hướng “vị ngữ tính”
(tương đương với câu tả trong tiếng Việt) và “vị ngữ danh” (tương đương với
câu luận trong tiếng Việt). Tuy nhiên, vì sự phân tích cú pháp của các câu có
“vị ngữ danh” phức tạp nên ông quyết định bỏ qua tất cả những điểm
khác
nhau giữa các tiểu loại và phân tích tất cả như những “vị ngữ danh từ”.
Đặc biệt, trong Nhập môn ngôn ngữ học ông nói nhiều đến “động từ là”
và “động từ có”, ông cho rằng đó là những câu tồn tại, định vị và sở hữu có
quan hệ qua lại trong nhiều ngôn ngữ “…cái thường được gọi là “động từ

làm cho vấn đề trở nên phức tạp vì người ta phải xây dựng lại các tiêu chí
định nghĩa” [40, 277] cho tất cả các quá trình trong hệ thống chuyển tác của
ngôn ngữ.
Từ việc tiếp thu những thành tựu nghiên cứu của các nhà nghiên cứu
theo hướng chức năng luận, chúng tôi nhận thấy m
ô hình miêu tả quá trình
chuyển tác quan hệ của M.A.K. Halliday là mô hình lý thuyết phù hợp nhất để
miêu tả câu quan hệ tiếng Việt.
Tại Việt Nam
Đã có khá nhiều công trình ngữ pháp đề cập trực tiếp đến câu quan hệ
như Cao Xuân Hạo, Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Vân, Bùi Minh Toán,
Nguyễn Thị Lan Anh, Đỗ Thị Kim Liên … Ngoài ra còn có những công trình
nghiên cứu về những kiểu câu tương tự câu quan hệ như câu tả, câu luận,
trong sách Ngữ pháp tiếng Việt của Uỷ ban Khoa học Xã hội Việ t Nam
(1983), ha
y những những động từ chỉ các trạng thái tâm lý hướng tới đối
tượng, biểu thị trạng thái tồn tại, sở hữu có thể có thành tố phụ sau là một
danh từ, cụm danh từ chỉ đối tượng như : có, còn, xuất hiện, diễn ra … trong
Ngữ pháp Việt Nam của Nguyễn Thị Ly Kha, hay những bài viết cùng bàn về
cấu trúc “Danh là Danh” và các mối quan hệ của nó của Lê Xuân
Thại,
Nguyễn Đức Dân, Trần Ngọc Thêm, v.v… Từ những năm 2000 trở lại đây,
cũng có một số bài viết đề cập đến một số tiểu loại của câu quan hệ trong
tiếng Việt trên tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống, của các tác giả Nguyễn Thị
Thanh Phương, Nguyễn Thế Lịch …, hoặc so sánh đối chiếu câu quan hệ
tiếng Việt với tiếng Anh của Hoàng Tuyết Minh nhằm t
ìm ra một số lỗi người
Việt thường mắc khi sử dụng động từ quan hệ tiếng Anh …

Cao Xuân Hạo kế thừa lược đồ phân loại các loại sự tình cơ bản của


Sách Ngữ pháp tiếng Việt của Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam cũng
nhắc đến câu quan hệ nhưng dưới thuật ngữ câu tả và câu luận. Đây cũng
chính là hai loại câu chính của câu đơn hai thành phần được làm thành từ một
cụm chủ ngữ (C)- vị ngữ (V), chủ ngữ và vị ngữ có quan hệ qua lại với nhau.
Câu tả là loại câu để biểu thị một quá trình miêu tả đối tượng trong hoạt
động, trạng thái hay tính chất của nó. Câu tả có nghĩa về trạng thái tồn tại của
sự vật (câu tồn tại) có phần đề do từ loại danh từ, phần thuyết do tiểu loại
động từ tồn tại đảm n
hận (có, còn, hết…), đây là loại câu khá đặc biệt, tương
đương câu quan hệ mang đặc điểm “không có từ là”. Vì ở luận văn này chúng
tôi nghiên cứu loại “câu quan hệ sâu có từ là” trong tiếng Việt, nên chúng tôi

sẽ nhắc nhiều đến loại câu luận là loại câu tương đương câu quan hệ đặc biệt
“có dùng động từ là”.
Câu luận là kiểu câu biểu thị một quá trình tư duy và thông báo mang
tính suy luận, phán đoán. Nó có thể đưa ra một nhận xét, một ý kiến đánh giá
và đôi khi mang tính triết lý. Vị từ “là” trong câu luận có thể coi là động từ
mang trọng trách đặc biệt, làm “chính tố”, “động từ thuyết tính của câu luận”.
Ví dụ
:
(8) Tổ chức là
biện pháp cơ bản để thực hiện chính sách . (mô hình A là B)
A B
(9) Ruộng rẫy là
chiến trường. (mô hình A=B)
A B
Câu luận trong tiếng Việt là loại câu tương đương “câu quan hệ sâu có
từ là”. Đó là một loại câu có cách thể hiện khá đa dạng.
Ví dụ

nh và đồng nhất trong sự tình quan hệ
thâm nhập” của Lê Thị Lan Anh dùng thuật ngữ “thâm nhập” thay vì thuật
ngữ “sâu” của M.A.K. Halliday, nhưng về cơ bản cũng dựa trên mô hình “x
is a”, dựa trên cơ sở lý thuyết của M.A.K. Halliday để xem xét loại sự tình

quan hệ thâm nhập ở hai phương thức: định tính và đồng nhất trong tiếng Việt
“Đồng nhất thể và định tính là hai phương thức quan hệ hoàn toàn khác
nhau, mỗi phương thức sẽ cho chúng ta một loại sự tình riêng với những đặc
trưng ngữ pháp, ngữ nghĩa đặc thù của nó” [54,số 2, tr.62].
Theo tác giả, trong tiếng Việt, các vị tố : là, biểu hiện, biểu đạt, minh
họa, thể hiện… thường chỉ xuất hiện t
rong câu biểu thị sự tình quan hệ
thâm nhập định tính.
Ví dụ
:
(13) Cây nguyệt quế biểu hiện sự vinh quang.
(Yêu thơ văn em tập viết)[54, số 2; tr.62]
(14) Sài Gòn tức Thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố đầy nắng gió
phương Nam với những chiều mưa về hối hả.
(Yêu thơ văn em tập viết) [54; số2, tr.62]
Còn các vị tố : là, tức là, nghĩa là, có nghĩa (có nghĩa là), đồng nghĩa,
đóng vai, làm … là những vị tố quan hệ xuất hiện trong câu quan hệ thâ
m
nhập đồng nhất.
Ví dụ
:
(15) Vết tích xấu nhất và nguy hiểm nhất của xã hội cũ là chủ nghĩa cá nhân.
(Hồ Chí Minh. Về vấn đề giáo dục) [1, 61]
(16) Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn, đặt lợi ích của
nhân dân lên trên hết. (Hồ Chí Minh. Về vấn đề giáo dục) [1, 61]

có thể đơn nhất hay trên một phần tử. Quan hệ ngữ pháp của cấu trúc kiểu 1 là
quan hệ chủ - vị.

Ví dụ: (17) Em tôi là công nhân.
Cấu trúc kiểu 2 khi nghĩa của từ “là” chỉ sự phụ thuộc của Danh 2 vào Danh
1. Danh 1 ở kiểu 2 là tập hợp không đơn nhất và không được xác định. Quan
hệ ngữ pháp của kiểu cấu trúc 2 là quan hệ chính - phụ.
Ví dụ
: (18) Những cô gái là sinh viên.
Đỗ Thị Kim Liên trình bày các nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc biểu thị
quan hệ so sánh trong các câu tục ngữ Việt cũng có nhắc đến từ so sánh “là”.
Tuy nhiên, tác giả cho rằng khi câu tục ngữ chỉ quan hệ thân tộc có từ so sánh
“là” thì “luôn vắng yếu tố cơ sở so sánh”, ở một số trường hợp có thể lược bỏ
“là”.
Ví dụ
:
(20) Cái bị là chị cái thúng.  Cái bị chị cái thúng. [54,số 11, tr.11]
(21) Đậu nành là anh nước lã. Đậu nành anh nước lã. [54,số 11, tr.11]
Khi lược bỏ “là”, các câu tục ngữ có nhóm danh từ chỉ quan hệ thân tộc
có sự bù đắp hết sức tinh tế, từ ba nét nghĩa (giới tính, thứ bậc, quan hệ huyết
thống) chúng chỉ còn lại một nét nghĩa.
Ví dụ
: “là” là vị từ so sánh.
(22) Bàng già là bà lim.  Bàng già bà lim.
Cái so sánh Cái được so sánh.
Trong các câu tục ngữ chỉ quan hệ thân tộc, “là” có thể được coi như
một vị từ so sánh.
Ví dụ
: “là”  vị từ so sánh
(23) Cờ bạc là bác thằng bần.

kết hợp được với động từ có hay các tính từ khác mà không tạo ra sự khác
biệt với người giao tiếp” [55, số 4; tr.8]
Ví dụ:
(28) Chiếc xe này ba bánh.  Chiếc xe này có ba bánh. [55,số 4; tr.8]
(28) Vườn nhà tôi hai sào.  Vườn nhà tôi rộng hai sào. [55,số 4; tr.8]
Tiểu loại “câu vị ngữ danh nêu lai lịch của con người” đều có thể kết
hợp với động từ “là” để tạo thành câu có nghĩa tương đương.
Ví dụ:
- Cháu tên gì?
(29) - Tui tên Nhọn. [55,số 4,8]  - Tui tên là Nhọn.
(30) -
Anh ấy kỹ sư. [55,số 4,8]  - Anh ấy là kỹ sư.
Nói tóm lại, các nhà nghiên cứu trên ở những mức độ khác nhau đều đã
đề cập đến câu quan hệ, hay tương tự “câu quan hệ sâu có từ là trong tiếng
Việt”, nhưng vẫn chưa có sự phân tích kỹ lưỡng về kiểu câu này và chưa đưa
ra đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ pháp của “câu quan hệ có từ là” trong tiếng Việt.
0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Câu quan hệ của tiếng Việt là một loại câu rất phong phú và đa
dạng. Điều kiện của một luận văn thạc sĩ không cho phép nghiên cứu toàn bộ
những kiểu câu quan hệ như câu quan hệ sở hữu, câu quan hệ chu cảnh và các
phương thức quan hệ của chúng nên chúng tôi chỉ xin giới hạn đề tài trong
một phạm
vi nhất định. Mục đích của luận văn là tìm hiểu câu quan hệ có từ
“là” trong tiếng Việt theo quan niệm ngữ pháp chức năng; xác định cái nhìn
tổng quan về câu quan hệ trong tiếng Việt; thống kê, khảo sát các dữ liệu về
câu quan hệ có từ “là” trong tiếng Việt nhằm nêu lên được đặc điểm ngữ

nghĩa và ngữ pháp của chúng, tần số xuất hiện của kiểu câu này trong các loại
phong cách văn bản.

Truyện ngắn của các tác giả như Nam Cao, Nguyễn Minh Châu, Lý
Biên Cương …. (phong cách ngôn ngữ văn chương)
Các tin tức trên một số

báo điện tử, báo viết, truyền hình, lời kêu gọi
của Bác … (phong cách ngôn ngữ chính luận)
Một số

nghị quyết, nghị định, thông tư, hợp đồng, báo cáo, thông báo
…(phong cách ngôn ngữ hành chính)
0.5. Bố cục luận văn
Ngoài phần Dẫn nhập và Kết luận, phần Nội dung của luận văn được cấu
trúc thành hai chương.
Chương 1: Chương này tóm tắt quan điểm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ
trong và ngoài nước như Simon C. Dik, M.A.K. Halliday, Cao Xuân Hạo,
Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Vân …. về câu quan hệ, chủ yếu là quan điểm
của M.A.K. Halliday về câu quan hệ. Đây l
à chương làm tiền đề cho việc
miêu tả và khảo sát câu quan hệ trong tiếng Việt ở chương sau.
Chương 2: Chúng tôi đi vào chức năng ngữ nghĩa của từ “là” trong câu quan
hệ (câu quan hệ sâu theo Halliday), hình thức các tham thể xung quanh vị từ
“là” trong câu quan hệ, thống kê và đưa ra tần số xuất hiện của kiểu câu này
trong văn bản mà chúng tôi chọn làm ngữ liệu, có chú ý khảo sát trong một
số phong cách văn bản. Chương này thông qua những dữ liệu thu t
hập, làm
nổi rõ chức năng ngữ nghĩa và đặc điểm cấu trúc của loại câu quan hệ có từ
“là” trong tiếng Việt.

Chương 1 : NHỮNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Khái niệm câu

Alêcxangđria); là “đơn vị cơ bản của lời nói, của ngôn từ, của văn bản’’
(Benveniste), là đơn vị nhỏ nhất có thể sử dụng vào việc giao tế. Nói cách

khác, câu là ngôn bản (văn bản) nhỏ nhất.
Định nghĩa về câu của Trần Trọng Kim : “Câu lập thành do một mệnh-
đề có nghĩa lọn hẳn, hoặc do hai hay nhiều mệnh- đề.” [23, 27], và ông phân
ra làm ba thứ mệnh- đề, thứ nhất là mệnh đề phụ (gồm có mệnh đề phụ bổ
túc, mệnh đề chỉ trường hợp và mệnh đề chỉ định), thứ hai là mệnh đề độc lập
và thứ ba là mệnh đề chính. Theo Trần T
rọng Kim một câu có bao nhiêu
tiếng tĩnh từ biểu diễn một cái thể hay tiếng động từ biểu diễn một cái dụng
của chủ từ, là có bấy nhiêu mệnh đề, đồng thời một mệnh đề có thể là một câu
hay là một vế trong câu.
Định nghĩa về câu của Hoàng Trọng Phiến: [(…), câu là ngữ tuyến
được hình thành một cách trọn vẹn về ngữ pháp và về ngữ nghĩa với một ngữ
điệu theo các quy luật của một ngôn ngữ nhất định, là phương tiện diễn đạt,
biểu hiện tư tưởng về thực tế và
về thái độ của người nói đối với hiện thực]
Hay cách phân tích câu tiếng Việt theo mô hình Chủ - Vị với chức năng
thông báo: “ Chủ ngữ là phần nêu lên một cái gì đó, vị ngữ là phần nói về chủ
ngữ” [32, 31]

Câu nói chung gồm câu đơn và câu ghép được định nghĩa ngắn gọn:
“Câu là đơn vị dùng từ hay đúng hơn dùng ngữ mà cấu tạo nên trong quá
trình tư duy, thông báo; nó có nghĩa hoàn chỉnh, có cấu tạo ngữ pháp, và có
tính chất độc lập” [39, 167]…

Hoàng Dân đã đúc kết khái niệm chung về câu thật đơn giản trong
“Tiếng Việt cho mọi nhà” theo ngữ pháp truyền thống, câu là đơn vị ngôn ngữ
có một hình thức hoàn chỉnh, khởi đầu bằng một chữ cái viết hoa, kết thúc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status