Cấu trúc, ngữ nghĩa, ngữ dụng của phương thức thay thế từ vựng trong tiếng Việt - Pdf 28

BÙI THỊ THÚY HẰNG

CẤU TRÚC, NGỮ NGHĨA, NGỮ DỤNG
CỦA PHƯƠNG THỨC THAY THẾ TỪ VỰNG TRONG
TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC
Mã số: 60 22 01

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. TRỊNH SÂM


trong suốt mấy mươi năm, mãi tới những
năm 70 của thế kỷ XX, ngôn ngữ học văn bản mới thực sự phát triển rầm rộ.
Lĩnh vực ngôn ngữ học văn bản đã ngày càng thu hút được nhiều sự chú ý của
nhiều nhà nghiên cứu. Phạm vi cũng như nội dung nghiên cứu cũng ngày càng
trở nên phong phú.
Việc làm đầu tiên, khi các nhà nghiên cứu bước ch
ân vào một mảnh đất mới
và màu mỡ như ngữ pháp văn bản là họ phải tìm hiểu những yếu tố nào làm kết
dính các câu, các nhóm câu để chúng tạo nên một văn bản hoàn chỉnh và thống
nhất. Nếu như Nguyễn Tài Cẩn và N. V. Stankevich đã nhận định:

“ […] Hoàn toàn có thể cho rằng chỉ với câu thì ta mới bắt đầu bước chân vào
địa hạt của thông báo.”. Như vậy, theo ông, thì câu chưa đủ năng lực để thể hiện
hết vai trò làm chức năng thông báo, hay còn gọi là chức năng giao tiếp mà phải
cần đến một đơn vị cao hơn đó là văn bản. Để truyền đạt một lượng thông tin
đầy đủ và chính xác, các câu và các nhóm câu phải xác lập vị trí quan yếu của
m
ình, chứ không đơn thuần xem nó như là sự kết hợp theo kiểu cộng các câu lại
với nhau để tạo nên văn bản.
Chính sự thiếu gắn kết của các câu là nguyên nhân làm cho văn bản rời rạc
hay nói cách khác là không bảo đảm được tính thống nhất và trọn vẹn chủ đề-
một yêu cầu cần có của một văn bản mạch lạc. Qua đây, chúng ta cũng phần nào
thấy được vai trò rất quan trọng của tính liên kết. Kh
i nói đến tính liên kết, chúng
ta thường nhắc đến liên kết nội dung hay còn gọi là tính mạch lạc và liên kết
hình thức hai mặt này luôn tồn tại song song và nó cũng là dấu hiệu để phân biệt
văn bản với phi văn bản. Ở đây, chúng tôi chỉ đề cập đến liên kết về hình thức,
tức là các phép liên kết được đánh dấu bằng các phương tiện ngôn ngữ.
Trong một văn bản, không phải đơn thuần sử dụng một phép liên kết là có


Như vậy, điều làm nên một văn bản, với tư cách là một đơn vị giao tiếp
trước hết là liên kết. Mỗi một phép liên kết thì đóng một vai trò, chức năng riêng
biệt. Phép liên kết thay thế cũng vậy. Xuất hiện với tư cách là một phương tiện
dùng để liên kết và tránh sự lặp lại trong một văn bản, phép thế (hay còn gọi là

phép thay thế) xuất hiện gần như trong tất cả các văn bản. Nó được xem là một

phương tiên liện kết quan trọng và là sự lựa chọn thường nhật của người viết,
người tạo lập văn bản.
Từ trước đến nay, trong ngôn ngữ học chúng ta chỉ thường được nghe đến
phép thế, với cách gọi này nó mang nghĩa thay thế ở một phạm vi tương đối rộng
và ranh giới của nó là khá mơ hồ. Còn với tên gọi liên kết thay thế từ vựng, đã
giới hạn phạm
vi thay thế của nó là chỉ ở cấp độ từ và ngữ. Tuy vậy, cũng còn có
rất nhiều vấn đề bên trong cần được làm rõ. Chẳng hạn, việc thay thế giữa các từ
ngữ ở câu trước và câu sau hay giữa đoạn văn này với đoạn văn khác thường
xuyên có sự lặp lại, vậy có thể tạo nên một cấu trúc hay một mô hình chung nào
không? Những cấu trúc khác nhau liệu sẽ kéo theo các quan hệ ngữ nghĩa khác
nhau không? Hay sự thay thế giữa các từ chịu ảnh hưởng như thế nào của n
gữ
cảnh. Vai trò của ngữ cảnh trong việc thay thế các từ ngữ này ra sao? Và thực
chất chức năng thay thế trong tổ chức văn bản là gì?
Chính vì những lý do trên, mà chúng tôi đã chọn : “ Cấu trúc, ngữ nghĩa,
ngữ dụng của phép liên kết thay thế từ vựng trong tiếng Việt” làm đề tài
nghiên cứu.
2. Lịch sử vấn đề
Trước đây, khi mọi người chưa nhận ra vai trò của các phương tiện liên kết
trong quá trình xây dựng một đơn vị ở cấp độ trên câu, đó là văn bản thì họ vẫn
cho rằng câu là đơn vị lớn nhất, không có đơn vị nào lớn hơn câu, cụ thể là quan
niệm của nhà ngôn

Với sự xuất hiện trong mối quan hệ với các phương thức khác, phương thức
thế sau này được nghiên cứu tuy cũng không được cụ thể thành một phương thức
lớn hoàn toàn tách biệt với các phương thức khác, nhưng nằm rải rác trong các
sách ngữ pháp văn bản hay khi nghiên cứu về một phép liên kết nào đó, nó cũng
được các nhà ngôn ngữ nhắc đến như một phương thức nằm trong cùng một hệ
thống các phép liên kết khác. Cụ thể:

Như trong luận án tiến sĩ với tên đề tài “So sánh các biện pháp liên kết từ
vựng trong văn bản tiếng Việt và tiếng Anh”, ở chương hai Nguyễn Phú Thọ
(2007) đã liệt kê các phương thức liên kết trong tiếng Việt, trong đó có phương
thức thế để đối chiếu với cùng phương thức trong tiếng Anh. Trong phần giới
thiệu về phương thức này hay còn gọi là phép thế, tác giả đã trình bày có ba loại
thế: thế danh từ, thế động từ và thế mệnh đề. Trong thế danh từ chỉ ra có:
phương tiện thế là đại từ chỉ ngôi, phương tiện thế là đại từ chỉ không gian, đại
từ chỉ định, đại từ chỉ loại. Dễ thấy cách phân loại này, ảnh hưởng rất lớn từ
M.A.K Halliday & R. Hasan (1976). Có thể nói, luận án chỉ nhắc lại những kiến
thức đã đư
ợc nêu như trong các sách nghiên cứu đã nhắc đến về phép thế mà
không có một hướng phân tích nào khác để đi sâu hơn về phương thức này. Cũng
vì phạm vi đề tài nên hướng đi của luận án không thể có cách làm khác khi nói
về phép thế.
Trong các sách về ngữ pháp văn bản, không thể thiếu việc nêu ra các
phương thức liên kết và trong đó không thể không nhắc đến phương thức thế.
Như trong cuốn “Dẫn luận ngữ pháp chức năng” của M.A.K Halliday ông đã để
phép tỉnh lược song hành với phép thay thế. Ông có nêu: yếu tố thay thế được
dùng như là một phương tiện chiếm chỗ, chỉ ra thành phần nào đó bị lược bỏ ở
chỗ nào và chức năng ngữ pháp của nó là gì [ 28, tr 505]
. Theo ông, thế có ba
loại: thế bằng cú hay còn gọi là mệnh đề (so và not), thế động từ (do, does, did)
và thế danh từ (one/ones, same). Ông còn cho rằng tỉnh lược chẳng qua là thay

bản. Cách hiểu về phương thức thay thế của G. Brown –G Yule chỉ đơn giản là

như vậy.
Diệp Quang Ban trong cuốn “Văn bản và liên kết trong tiếng Việt”, đã hệ
thống hóa các quan điểm của M.A.K Halliday & R. Hasan và của Trần Ngọc

Thêm về hệ thống các phương tiện liên kết. Quan niệm của Diệp Quang Ban về
phương thức thế cụ thể như sau: đầu tiên ông xếp phép thế theo cách trình bày
của Trần Ngọc Thêm là nó thuộc vào liên kết hình thức trong sự so sánh với liên
kết nội dung. Sau đó, ông lại trình bày một phép thế nữa theo cách hiểu của
chính tác giả, đó là phép thế cùng với các phương thức khác như: Phép quy
chiếu, phép tỉnh lược, phép nối phép liên kết từ vựng là thuộc về “phi cấu trúc
tính” để phân biệt với tên gọi Liên kết hình t
hức và liên kết nội dung. Đây là
cách hiểu theo quan niệm của Halliday & Hasan.
Như vậy, có không ít các công trình đã nghiên cứu về phương thức thay thế,
nhưng hầu hết đều chỉ xem đây chỉ là một phương thức như bao phương thức
khác có cùng một vai trò là liên kết trong văn bản và để tạo lập văn bản. Qua tìm
hiểu, chúng tôi
thấy được chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu ba bình diện cơ
bản của phép thế như cách hình dung của luận văn này. Trên cơ sở kế thừa thành
quả của các công trình đi trước, luận văn của chúng tôi đứng ra nghiên cứu và
khảo sát cấu trúc, ngữ nghĩa và ngữ dụng một cách hệ thống và toàn diện.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng khảo sát của luận văn này là phương thức thay thế từ vựng. Nói
rõ hơn, tất cả các phương tiện thay thế ở cấp độ từ như: thay thế đại từ (nhân
xưng, chỉ xuất), tha
y thế không phải đại từ như: thế bằng từ gần nghĩa, đồng
nghĩa, hàm nghĩa…đều thuộc phạm vi khảo sát của chúng tôi. Và liên kết có thể
bao gồm các phát ngôn nằm gần nhau hoặc xa nhau hoặc có thể là thay thế c

này trong việc tạo ra sự mạch lạc, liên kết cho văn bản.
6. Bố cục
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn tập trung ở
hai chương:
Chương 1: Liên kết và liên kết thay thế
Chương này trình bày những tri thức đại cương mà khi khảo sát phương
thức thay thế không thể không nhắc đến. Đây là phần lý thuyết, xuất phát điểm
để luận văn dựa vào mô tả một cách chi tiết ở những phần tiếp theo.
Chương 2: Phương thức thay t
hế từ vựng trong tiếng Việt.
Chương này tập trung khảo sát các mặt cấu trúc, ngữ nghĩa, ngữ dụng của
phép thế tiếng Việt qua việc phân tích những ngữ liệu cụ thể.

- Mạch lạc thể hiện trong tính thống nhất đề tài- chủ đề.
- Mạch lạc thể hiện trong tính hợp lôgic của sự triển khai mệnh đề.
- Mạch lạc thể hiện trong trình tự hợp lôgic giữa các câu (mệnh đề).
- Mạch lạc thể hiện trong khả năng dung hợp nhau giữa các hành động ngôn
từ [tr52].
Nếu xét từng tiêu chí một thì đoạn văn trên vẫn được x
em xét là có tính
mạch lạc. Chẳng hạn: nó có tính liên tục về thời gian ( tuyến tính) của lời nói (
tôi quan sát nó hàng ngày, vào những ngày nắng gắt cho đến những lúc mưa về.
Tức theo dõi sự sinh trưởng của cỏ.); Về tính lôgic của tư duy, thì văn bản sắp
đặt sự kiện theo hướng hiển ngôn ( lối diễn dịch); Còn ở tiêu chuẩn cuối, có thể
nói văn bản thể hiện tính hiệu lực của cảm
xúc rất cao, đó là sự khâm phục của
tác giả về sự trường tồn và sự vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt của loài cỏ hoang
để tồn tại. Nó xuyên suốt từ câu (1) đến câu (4) để thể hiện một cảm xúc thống
nhất.
Nếu xét theo hướng của Diệp Quang Ban, thì văn bản trên chưa thể hiện
được rõ tính mạch lạc. Nhưng nếu xét ở tiêu chí một thì nó thể hiện đư
ợc đề tài-
chủ đề, với lối văn diễn dịch có câu mở đầu là chủ đề “Cái giống cỏ hoang sống
đến khốc liệt và dai dẳng”. Diệp Quang Ban có trích lời của Halliday và Hasan,
tính thống nhất đề tài- chủ đề có tầm quan trọng nhất định đối với việc tạo lập và
giải thuyết văn bản. Mặc dù, đề tài- chủ đề không phải là tiêu chuẩn cần và đủ để
có văn bản. Tính thống nhất đề tài- chủ đề là kết quả của mạch lạc. Như vậy,
theo Halliday và Hasan thì để có một văn bản t
hì yếu tố thống nhất đề tài-chủ đề
chưa phải là quyết định mà bên cạnh đó còn có những yếu tố khác. Còn để có
tính mạch lạc thì sự thống nhất đề tài là một trong nhiều yêu cầu. Xét tiêu chí
hai, chúng ta thấy ý ở câu (1) và câu (2) vẫn có sự liên kết về nội dung nhưng


xanh cây lá cõi đời. Rễ cỏ thì đấy, một đống lùi xùi xoải ngang mặt luống,
chỉ cần chút xíu đất dính vào là nghiễm nhiên sống, thoi thóp mọc mầm. Lá cỏ
gặp mưa khỏi nói, ào ạt bung mạnh, xanh ngăn ngắt, non mỡ màng.
Còn những ngày chang chang nắng, nắng tưởng vỡ mặt người, nắng như
nung như đốt, lá quằn quại lả đi nhưng cỏ không hề biết đến cái chết, giấu mình
trong đất, trong nhau.”
(Lý Biên Cương- Nghe gió hun hút thổi)
Như vậy, văn bản mạch lạc được nhận diện không đơn giản l
à qua sự thống
nhất chủ đề, tính hợp lôgic của sự triển khai mệnh đề, trong trình tự hợp lôgic
giữa các câu (mệnh đề), hay trong khả năng dung hợp nhau giữa các hành động
ngôn từ. Nói rõ hơn, để một văn bản trở thành một chỉnh thể thống nhất, nó tức
một văn bản phải bao gồm
nhiều yếu tố. Ví dụ phản đề trên đây, trong thực tế
nói năng sẽ không xảy ra, nhưng qua phân tích, chúng ta có thể nhận thấy nói tới
văn bản không thể không đề cập đến liên kết.
1.1.2. Liên kết (Cohesion)
Liên kết (cohesion) gốc La tinh là Integratio có nghĩa là: phục hồi, bù đắp;
Integer: nguyên vẹn; theo định nghĩa của Đại bách khoa toàn thư Xô viết, là khái
niệm của lý thuyết hệ thống, có nghĩa là tình trạng gắn bó các phần đơn lẻ khác
biệt thành một chỉnh thể, cũng có nghĩa là quá trình dẫn đến tình t
rạng ấy
[30, tr 249].
Trong ví dụ (1) đó là các câu đúng về ngữ pháp, được xếp đứng cạnh nhau
và sự sắp xếp đó không tuân theo một tiêu chí nào thì không thể có tính mạch lạc
và cũng không có được tính liên kết. Nhưng nếu có tính liên kết, cụ thể bằng các
phương tiện liên kết giữa câu trước với câu sau, giữa đoạn này với đoạn kế tiếp

mà không tạo nên một chủ đề thống nhất nào thì tồn tại sự liên kết cũng vô
nghĩa.

đại từ nhân xưng “tôi”, từ “chị bạn”, “Hà Nội”), phép thay thế từ vựng ( thế
bằng đại từ chỉ xuất “ấy” ( thế mệnh đề “bát nước rau muống luộc dầm sấu, ăn
kèm với cà pháo giòn tan”  Thức ăn giản dị ấy), phép liên kết liên tưởng
(ngày hè  nóng, trái sấu..)
Để dễ hình dung hơn về liên kết, chúng ta có thể nói nếu li
ên kết giữa các
câu, các đoạn để tạo nên tính mạch lạc cho văn bản là có quan hệ tuyến tính,
quan hệ ngang, thì việc sử dụng các phương tiện liên kết là sự thể hiện của mối
quan hệ dọc, quan hệ liên tưởng.
Vd (4): Tôi đang trông xuống mặt nước hồ. Các con sóng dập dềnh những
chiếc lá khô. Trời xanh ngắt còn nước hồ thì xanh rêu. Bị kéo tay, tôi quay lại.

Trước mặt tôi là đứa bé gái trạc 8,9 tuổi. Tóc nó đỏ quạch. Ánh lên khuôn mặt
lắm lem của nó là đôi mắt trong veo. Đôi mắt vẫn nguyên vẹn sự hồn nhiên của
một đứa trẻ thơ. Nó đứng im lặng giơ chiếc ống bơ cáu bẩn ra trước mặt chúng
tôi chẳng nói một câu nào. Tôi
lúng túng nhìn cái Hậu. Cái Hậu cũng lúng túng
nhìn tôi.
(Trần Hữu Tòng-Lời ru của bà)
Trong ví dụ này, chúng ta thấy ở phép thế đại từ nhân xưng, từ được thay thế
là “đứa bé gái trạc 8,9 tuổi” từ để thay thế là “nó”. Nếu tác giả không muốn nói
“đứa bé gái trạc 8,9 tuổi” mà nói là “đứa con gái trạc 8,9 tuổi” hay “một đứa
trẻ thơ”. Sự thay thế như trên, sẽ làm cho mạch văn thay đổi, giọng điệu và tình
cảm của t
ác giả cũng như của người đọc sẽ thay đổi theo chiều hướng thiếu thiện
cảm.

Như vậy, sử dụng phép liên kết phù hợp là một yêu cầu có tính nguyên tắc
đối với người tạo lập văn bản, nhưng lựa chọn các từ ngữ để thay thế, liên kết
nội dung các câu cho lôgic và thống nhất được chủ đề quả thật là không phải dễ.

tặng Lan một bó hoa hồng là ý nghĩa nhất. Nhưng dựa vào sự tương tác hội thoại
với câu trả lời ngắn gọn, không một phép liên kết nào nhưng văn bản vẫn đạt
được cái đích giao tiếp và chủ đề vẫn thống nhất.

Tương tự, Widdowson, Edmonson, Green cũng có cùng quan điểm với
K.Wales. Ông không thừa nhận mạch lạc có vai trò quyết định trong việc làm
cho một chuỗi câu trở thành một văn bản. Mạch lạc vẫn là nhân tố hàng đầu.
Trái ngược với quan điểm của các nhà ngôn ngữ trên, theo M.A.K Halliday
và R. Hasan yếu tố quan trọng quyết định một tập hợp câu có tạo nên hay không
tạo nên văn bản tùy thuộc vào quan hệ liên kết bên trong và giữa các câu với
nhau, điều này tạo ra tính văn bản. “ […
] Tính văn bản được tạo ra nhờ quan hệ
liên kết” [ 38, tr 296].
Đi theo cùng hướng với Halliday và Hasan, Trần Ngọc Thêm cũng nhận
định: “ Tính liên kết chính là nhân tố quan trọng nhất có tác dụng biến một
chuỗi câu trở thành văn bản.” [ 38, tr 19].
Ngoài ra, các tác giả còn cho rằng mạch lạc được thể hiện ở những mức độ
khác vừa phân biệt với liên kết lại vừa thuộc về liên kết. Nếu hiểu theo hướng
như các tác giả trên thì mạch lạc và li
ên kết không cùng một mục đích hướng tới
văn bản mà có hiện tượng phụ thuộc lẫn nhau.
Trên thực tế, trong một văn bản chúng ta không thể xét tính mạch lạc hay
tính liên kết là quyết định cho sự hình thành một văn bản. Mà chúng ta nên nhìn
nhận giữa hai tính chất này có một mối quan hệ gắn kết, quy định lẫn nhau, bổ
trợ cho nhau để tạo nên văn bản. Như đã nói ở trên
, nếu mạch lạc là sự liên kết

bên trong thì liên kết là sự liên kết bên ngoài, cụ thể là có thể được thể hiện bằng
các phương tiện hình thức.
Khi tiếp nhận một văn bản, điều mà phần đông người tiếp nhận quan tâm

Theo G. Brown và G Yule, nội chiếu (endophora) tức là hướng người
nghe nhìn vào trong văn bản để tìm được cái quy chiếu đến. Nói cách khác, liên
kết nội chiếu là sự quy chiếu với văn bản, tức sự quy chiếu diễn ra giữa hai yếu
tố (hoặc hơn hai yếu tố) trong cùng một văn bản.
Vd 7: Bà ơi! Cây hạnh, cây đức là gì ạ?
Bà ngừng tay quạt, thong t
hả trả lời cháu:
- Bà chỉ biết các cụ ngày xưa truyền lại rằng, cây hạnh là loại cây mơ, cây đào
có hoa đẹp, có quả ăn ngon lại lành. Các cụ ví nó như tính nết tốt của người
ngoan đó cháu ạ. Còn cây đức các cụ ám chỉ con người ăn ở có nhân, có nghĩa.
Đức-hạnh là hai tính quý nhất của con người đấy cháu ạ. Người có đức hạnh là
người hiền hậu, nết na, biết thương người, biết kính trên nhường dưới, sống thật
thà, ngay thẳng, không tham l
am…Các cụ xưa dạy rằng ông cha mà giữ mình
như thế rồi lưu truyền cho con cháu nền nếp ấy là nhà có phúc đấy cháu ạ. Cũng
ví như ông cha trồng được cái cây quý để con cháu hưởng lộc, ăn quả ấy mà.
Cháu ơi ông nội cháu ngày trước cũng dạy học trò câu ấy đấy.
(Trần Hữu Tòng- Lời ru của bà)
Trong đoạn văn trên, có ba yếu tố: nó, cái cây quý, đức-hạnh cùng quy
chiếu đến cây hạnh, cây đức, tính nết của người ngoan. Có
thể hình dung quá
trình liên kết như sau:
Cây hạnh


Cây hạnh, cây đức

Cái cây quý
Tính nết tốt của người ngoan

Trong ví dụ trên, yếu tố thể hiện liên kết ngoại chiếu là từ “bố cậu”. Người
đọc sẽ không hiểu “bố cậu” là ai? Đọc tác phẩm “Lão Hạc” của Nam Cao, người
đọc sẽ hiểu được hai từ “bố cậu” ở đây là chỉ “con trai lão Hạc” người đã đem
con Vàng về nuôi.
Hay trong bài thơ “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão sau:
Múa giáo non sông trải mấy thu

Ba quân hùng khí át sao Ngưu
Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu.
( “Tỏ lòng” Trần Trọng Kim dịch)
Vũ Hầu là ai? Nếu người đọc không xem phần chú giải sau sách, hoặc
không biết về câu chuyện Khổng Minh Gia Cát Lượng, quân sư nổi tiếng đã giúp
Lưu Bị khôi phục nhà Hán thì chúng ta không hiểu được nhà thơ Phạm Ngũ Lão
đang nói về ai và có ngụ ý gì khi thẹn mình với Vũ Hầu.

Hai ví dụ trên là hai dẫn chứng cho liên kết ngoại chiếu. Nhưng để hiểu
được đối tượng được quy chiếu đến ngoài văn bản phải cần đến một ngữ cảnh.
Như vậy, nội chiếu là quan hệ đồng nhất hay tương tự xác lập được giữa những
đơn vị ngữ pháp trong cùng một văn bản. Ngoại chiếu, là mối quan hệ xác lập
được giữa các từ ngữ trong phát ngôn với vật, việc, hiện tượng cụ thể bên ngoài

phát ngôn. Hay nói cách khác, ngoại chiếu được xét theo quan hệ với ngữ cảnh
của tình huống.


rừng hoặc nơi hoang mạc liên tưởng nhớ tới tình nương. Xan-chô-Pan-xa thì
không thế, bởi vì dạ dày no căng toàn là rượu thịt, bác ngủ một mạch, và nếu
như chủ không gọi, thì dù ánh nắng chiếu thẳng vào mặt, và vô số tiếng chim hót

đón mừng một ngày mới có lẽ cũng không đủ để đánh thức bác. Vừa ngủ dậy,
bác vớ lấy ngay lấy bầu rượu, thấy nó nhẹ hơn tối hôm trước, nên buồn rầu vì
xem chừng trên quãng đường này khó đào đâu ra ngay rượu để đổ vào cho đầy.
Đôn Ki-hô-tê không muốn ăn sáng vì, như ta thường nói, chàng nghĩ đến
người yêu cũng đủ no rồi.
(Xéc-van-tét, Đôn Ki-hô-tê, Phùng Văn Tửu dịch.)

Yếu tố giải thích Yếu tố được giải thích
Đôn-ki-hô-tê  Lão
 Chàng
Đuyn-xi-nê-a  Nàng
Tình nương
Người yêu
Xan-chô-pan-xa  Bác
Các danh từ thân tộc như: Lão, chàng quy chiếu với danh từ riêng
Đôn-ki-hô-tê; nàng, tình nương, người yêu quy chiếu với danh từ riêng
Đuyn-xi-nê-a; “bác” quy chiếu với danh từ riêng Xan-chô-pan-xa là thể hiện
liên kết hồi chiếu. Các yếu tố đư
ợc giải thích là những yếu tố đứng sau. Các yếu
tố còn lại, đứng về phía bên phải là những yếu tố giải thích. Như vậy, muốn hiểu
được yếu tố đứng sau, chúng ta phải quay về các yếu tố đứng trước để tìm câu
trả lời, lời giải thích.
1.3.2 Liên kết khứ chiếu (Cataphora)
Nếu ngoại chiếu phân biệt với liên kết nội chiếu, thì liên kết khứ chiếu cũng
được đặt trong sự đối sánh với liên kết hồi chiếu. Liên kết khứ chiếu, các yếu tố
được giải thích lại đứng ở câu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status