MỞ ĐẦU
0.1.Lý do chọn đề tài
Khái niệm hàm ý cùng lý thuyết hàm ngôn hội thoại của H.P. Grice được đánh giá là một bước tiến quan trọng của
ngôn ngữ học, mới ra đời cách đây non nửa thế kỷ. Tuy nhiên, việc sử dụng hàm ý để chuyển tải những thông tin mà vì
một số lý do nhất định, người ta không tiện hoặc không nên nói thẳng ra là một hiện tượng bình thường trong thực tế,
hẳn đã có ngay từ những cuộc giao tiếp đầu tiên trong xã hội văn minh. Trong các công trình của mình, H.P. Grice nhận
xét: trong giao tiếp, nhiều khi chúng ta “nói điều này nhưng thật ra muốn nói một điều khác”. Thậm chí, Hoàng Phê –
người đầu tiên giới thiệu và vận dụng lý thuyết của H.P. Grice vào nghiên cứu tiếng Việt, còn cho rằng: “Khi một lời
nói có hàm ngôn thì ý hàm ngôn thường là quan trọng, thậm chí, có khi hiển ngôn chỉ là dùng để nói hàm ngôn, ý hàm
ngôn là ý chính”[ Hoàng Phê, 1989]
Không chỉ có tác dụng trong giao tiếp hằng ngày, hàm ý còn có giá trị sử dụng rất lớn trong các hoạt động chính trị,
ngoại giao và sáng tác văn học. Tuy nhiên, vấn đề phân loại hàm ý chưa đạt được sự thống nhất cao giữa các nhà
nghiên cứu, việc xem xét phương thức biểu thị hàm ý chủ yếu giới hạn ở việc sử dụng một số biểu thức ngôn ngữ (tạo
hàm ý ngôn ngữ) và một số biện pháp vi phạm phương châm giao tiếp (tạo hàm ý hội thoại). Đặc biệt, việc nghiên cứu
hàm ý trong sáng tác văn học chưa được đầu tư thỏa đáng nên kết quả chưa có chiều sâu. Phần lớn các nhà văn, nhà
nghiên cứu, phê bình văn học mới dừng ở việc khai thác các chi tiết, hình tượng nghệ thuật từ kinh nghiệm cá nhân.
Ngược lại, phần lớn các nhà ngôn ngữ học tự bằng lòng giới hạn nghiên cứu của mình trong phạm vi ngôn ngữ học đơn
thuần, chưa làm rõ được mối quan hệ giữa những kiến giải của lý thuyết hàm ngôn hội thoại với lĩnh vực văn học.
Tình hình trên đòi hỏi phải tiếp tục làm rõ hơn những vấn đề chưa có sự thống nhất cao, chưa có điều kiện đi sâu để
góp phần phát triển nhận thức chung về hàm ý, phương thức biểu thị hàm ý và khả năng ứng dụng những kiến giải này
vào thực tế. Đó là lý do thúc đẩy chúng tôi thực hiện đề tài luận án Hàm ý và các phương thúc biểu thị hàm ý trong
tiếng Việt.
0.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
0.2.1. Về khái niệm hàm ý
Khái niệm hàm ý lúc đầu được H.P. Grice gọi là hàm ngôn hội thoại ra đời từ cuối những năm 50 của thế kỷ XX
rồi hoàn thiện trong các công trình sau đó như tập bài giảng tại Đại học Harvard năm 1967 và cuốn Logic và hội thoại
1
(1975). Phần lớn công trình Logic và hội thoại của Grice tập trung làm rõ sự khác biệt (về mặt trực giác) giữa “cái được
diễn tả bằng lời” trong câu nói và “cái được gợi ý” (hoặc nói bóng gió) trong câu nói. Để chỉ “cái được gợi ý” này,
Grice (1975; 1978) đã sử dụng các thuật ngữ mới là hàm ý (implicate) và hàm ngôn (implicature); đồng thời, ông xem
phần được mã hóa ngôn ngữ của phát ngôn là “cái được nói đến”. Ông quan niệm tổng số “cái được nói đến trong câu”
dẫn ý với hàm ý quy ước cũng vẫn còn là vấn đề gây tranh luận trong các thuyết giao tiếp Hậu Grice và Tân Grice. Bên
cạnh đó, sự phân biệt hàm ý quy ước với hàm ý hội thoại tuy rất quan trọng nhưng vẫn chưa phản ánh được đầy đủ các
khía cạnh rất phong phú của hiện tượng hàm ý trong hoạt động giao tiếp của con người. Hồ Lê đã đề xuất phân loại
hàm ý theo khu vực tình thái mà người nói ký gửi vào phát ngôn [44; 139 – 143], nhưng ranh giới của các loại hàm ý
trong cách phân loại này rất mờ nhạt, khiến người học khó nhận diện đối tượng.
0.2.2. Về phương thức biểu thị hàm ý
Theo nhiều công trình nghiên cứu, hàm ý được biểu thị bằng hai phương thức sau:
a) Vi phạm quy tắc ngữ dụng hay quy tắc hội thoại.
b) Sử dụng một số phương tiện từ ngữ và cấu trúc phát ngôn đặc thù.
Tuy vậy, các tác giả mới dừng ở sự trình bày khái quát với một số ví dụ đơn giản. Nhận thức này sẽ phải được phát
triển với những phân tích sâu hơn, cụ thể hơn.
0.3. Tính thời sự của đề tài
Từ cuối thế kỷ XX, ngôn ngữ học đã chuyển hẳn sang nghiên cứu về hoạt động của các đơn vị ngôn ngữ trong giao
tiếp mà một trong những trọng tâm là ngữ nghĩa ngữ dụng của các đơn vị này, vì nói như Whorf thì “thực chất của ngôn
ngữ học chính là tìm hiểu nghĩa” [Dẫn theo Hoàng Phê, 1989]. Đến bây giờ, hầu như không có công trình nào về nghĩa
chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu ở hệ thống tĩnh về nghĩa của từ như trước mà không bàn về nghĩa của từ trong hoạt
động giao tiếp, nghĩa của câu/phát ngôn và những vấn đề ngữ dụng học khác như diễn ngôn, hành vi ngôn ngữ, phương
châm giao tiếp,…
Nghiên cứu về hàm ý và các phương thức biểu thị hàm ý là đề tài nằm trong xu hướng trên. Thực hiện đề tài này,
người nghiên cứu có điều kiện tìm hiểu mối quan hệ giữa hàm ý với các khái niệm khác về nghĩa của câu/phát ngôn vốn
3
được xác định trên những bình diện phân tích khác như nghĩa mệnh đề/nghĩa tình thái, chủ đề/thuật đề,… Điều này nói
lên tính thời sự của đề tài.
0.4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về phương diện lý luận, đề tài là cơ hội để làm sáng tỏ thêm những đặc trưng cơ bản của hàm ý trên cả hai phương
diện khái niệm và phương thức biểu thị; góp phần vào việc nghiên cứu quy tắc chung của giao tiếp – một trong những
vấn đề mà ngữ dụng học đặc biệt quan tâm.
Về phương diện thực tiễn, kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng để bổ sung cho giáo trình ở bậc đại
học, sách giáo khoa ở trường phổ thông, góp phần hướng dẫn người nói, người viết nâng cao chất lượng sử dụng ngôn
ngữ trong giao tiếp hằng ngày và giúp người đọc có phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn học một cách chắc chắn hơn,
0.6.2. Nguồn tư liệu
Ngoài một số tư liệu có được do quan sát thực tế trong giao tiếp hằng ngày, chúng tôi sử dụng những đoạn thoại mô
phỏng những đối thoại trực tiếp ngoài đời thực trong tác phẩm báo chí, văn chương. Trong một số trường hợp cần thiết
(để so sánh, đối chiếu hoặc minh chứng cho quan điểm của tác giả), chúng tôi có mượn lại một số ví dụ đã dẫn trong
các tài liệu nghiên cứu về ngữ dụng học trong, ngoài nước.
0.7. Bố cục đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung luận án gồm 3 chương:
Chương 1 hệ thống hóa và phát triển một số khái niệm xuất phát làm cơ sở để triển khai đề tài.
Chương 2 tập trung miêu tả các loại hàm ý, làm chỗ dựa để phân tích phương pháp biểu thị hàm ý trong chương
tiếp theo.
Ở Chương 3, trên cơ sở điểm lại danh sách các phương thức biểu thị đã được tổng kết trong các công trình ngữ dụng
học, chúng tôi mạnh dạn đề xuất và miêu tả một số phương thức biểu thị hàm ý thường dùng trong tiếng Việt, gắn với
văn hóa Việt.
5
CHƯƠNG 1
CÁC KHÁI NIỆM XUẤT PHÁT
1.1. Phát ngôn
Trong ngôn ngữ học, có một số tác giả coi phát ngôn là một thành phẩm của hoạt động giao tiếp tương đương với
câu nhưng ở bình diện lời nói. Có tác giả tuy thống nhất xếp phát ngôn vào cấp độ lời nói nhưng cho rằng kích thước
của nó có thể nhỏ hơn, tương đương hoặc lớn hơn câu nhiều lần. Cũng có những nhà nghiên cứu quan niệm phát ngôn
thuộc cấp độ ngôn ngữ, có kích thước lớn hơn câu. Có thể nhận thấy khái niệm phát ngôn theo cách hiểu thứ 2 và thứ 3
đã được ngôn ngữ học ngày nay biểu thị bằng một thuật ngữ khác là diễn ngôn. Bởi vậy, trong luận án này, phát ngôn
được quan niệm là biến thể của câu trong hoạt động giao tiếp, tức là một đơn vị thuộc cấp độ lời nói, có kích thước
bằng câu.
1.2. Cơ cấu nghĩa của phát ngôn
Trong luận án này, chúng tôi sử dụng cả ba cặp đối lập – nghĩa mệnh đề/nghĩa tình thái, nghĩa chủ đề/nghĩa thuật đề,
nghĩa tường minh/nghĩa hàm ẩn với quan niệm đó là kết quả của những bình diện phân tích khác nhau đối với nghĩa của
phát ngôn, cụ thể là:
- Phân biệt nghĩa mệnh đề với nghĩa tình thái là phân biệt trên cơ sở đối chiếu nội dung các bộ phận phát ngôn với
hiện thực.
khiển hội thoại,…
1.6. Hàm ý
1.6.1. Thuật ngữ hàm ý
Trong lý thuyết hàm ngôn hội thoại của Grice (1975; 1978), thuật ngữ implicate (hàm ý) là một động từ chỉ hành
động biểu đạt ngầm một điều gì đó khác với điều được nói ra bằng hiển ngôn trong một hoàn cảnh giao tiếp nhất định
(gọi là điều được hàm ý). Còn thuật ngữ implicature (hàm ngôn) là một danh từ, biểu thị điều được hàm ý trong phát
ngôn. Hàm ngôn là “kết quả”, là “sản phẩm” của hoạt động hàm ý.
7
Khi nghiên cứu về thuyết hàm ngôn hội thoại của Grice cũng như vận dụng nó vào việc tìm hiểu một vấn đề ngôn
ngữ cụ thể, hầu hết các nhà nghiên cứu nước ngoài đều sử dụng thống nhất các thuật ngữ implicate (hàm ý) và
implicature (hàm ngôn) như cách dùng của Grice. Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu cũng dùng động từ imply (nói
bóng gió) để biểu thị hàm ý và danh từ implication (sự ngụ ý) để biểu thị sản phẩm của hàm ý (tức hàm ngôn, cái được
hàm ý).
Khác với nước ngoài, ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu dùng thuật ngữ hàm ý để chỉ cả implicate lẫn implicature. Mặt
khác, thuật ngữ implicaturre (hàm ngôn) cũng được các tác giả Việt Nam dịch theo rất nhiều cách khác nhau. Ví dụ:
dịch là hàm ngôn (một loại nghĩa hàm ẩn trong đối lập với tiền giả định [TGĐ]); dịch là hàm nghĩa và ẩn ý; dịch là hàm
ý với những cách hiểu khác nhau.
Để khỏi thay đổi một thuật ngữ đã quen dùng ở Việt Nam suốt hơn 20 năm nay, trong công trình này, chúng tôi tiếp
tục sử dụng hàm ý với hai nghĩa: a) để chỉ cái mà Grice gọi là implicature; và b) để chỉ hành động tạo ra implicature,
tương đương implicate trong tiếng Anh.
1.6.2. Quan niệm về hàm ý
Mặc dù các nhà nghiên cứu thống nhất coi hàm ý là phần nghĩa hàm ẩn có giá trị thông tin được suy ra từ hiển ngôn
(nghĩa tường minh) và hoàn cảnh giao tiếp, nhưng giữa họ có những quan niệm khác nhau về các loại hàm ý và phạm vi
tồn tại của hàm ý.
H.P.Grice (1975) phân biệt ý nghĩa hàm ẩn tự nhiên (natural meaning, là “ý nghĩa được suy ra một cách ngẫu
nhiên”) với ý nghĩa hàm ẩn không tự nhiên (non-natural meaning, là “ý nghĩa được truyền đạt một cách có ý định”).
Ở Việt Nam, Hoàng Phê (1989) dựa vào mức độ phụ thuộc vào hoàn cảnh và độ tin cậy của sự suy ý để phân loại
hàm ý. Ông sử dụng thuật ngữ hàm ý để chỉ phần nội dung được suy ý trực tiếp, ít phụ thuộc vào ngữ cảnh và có độ tin
cậy của sự suy ý tương đối cao. Đối lập với hàm ý là ngụ ý – phần nội dung hàm ngôn phụ thuộc nhiều vào ngữ cảnh,
người nghe phải suy ý gián tiếp từ hoàn cảnh, từ khả năng nhận thức, khả năng vận dụng kinh nghiệm sống,… nên độ
- TGĐ có ảnh hưởng đến giá trị xác tín, còn hàm ý không có ảnh hưởng này.
9
- Nhiều TGĐ được đánh dấu bởi các đơn vị từ vựng hoặc cấu trúc ngữ pháp cụ thể, còn hàm ý, trái lại, không nhất
thiết phải được đánh dấu.
- TGĐ nói chung ít lệ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp, còn hàm ý lệ thuộc sâu sắc vào hoàn cảnh giao tiếp
- TGĐ không có giá trị thông tin đặc biệt, không phải là cơ sở để phát triển cuộc thoại; còn hàm ý mang giá trị thông
tin và tính năng động hội thoại cao, là cơ sở để phát triển cuộc thoại.
Giữa hàm ý và dẫn ý cũng có những điểm khác nhau căn bản:
- Hàm ý không mang tính hàm chân trị còn dẫn ý, ngược lại, mang tính hàm chân trị. Điều đó có nghĩa là dẫn ý phụ
thuộc vào chân trị của phát ngôn trước nó.
- Hàm ý có thể dễ dàng bị khử bỏ trong những điều kiện, hoàn cảnh thích hợp còn dẫn ý, giống như TGĐ, lại là loại
thông tin không thể khử bỏ.
- Nhiều hàm ý phụ thuộc vào ngữ cảnh, còn dẫn ý không phụ thuộc vào ngữ cảnh.
Về phạm vi tồn tại của hàm ý, chúng tôi quan niệm một khi nghĩa tình thái được biểu thị bằng liên từ và tiểu từ mà
những từ này thực hiện chức năng liên kết các tác tử logic, biểu thị hội của hai mệnh đề thì đó là nghĩa tường minh; còn
khi nó được biểu thị bằng liên từ, tiểu từ mà những từ này biểu thị mối liên kết chìm – liên kết các hành vi ngôn ngữ và
được suy ra từ nghĩa tường minh và ngữ cảnh thì đó là hàm ý.
Tất nhiên, chỉ những ý nghĩa tình thái hàm ẩn nằm trong chủ định của người phát ngôn, người phát ngôn có thể “phủ
nhận trách nhiệm” đối với nó (tức có thể khử bỏ được) và là “điều người nói gửi tới người nghe, muốn người nghe hiểu”
mới được coi là hàm ý.
1.7. Điều kiện sử dụng hàm ý trong giao tiếp
1.7.1. Hoàn cảnh giao tiếp
Hiểu theo nghĩa hẹp thì hoàn cảnh giao tiếp là văn cảnh nhưng nếu hiểu theo nghĩa rộng thì nó bao gồm: ngữ cảnh
với tư cách là đơn vị ngôn ngữ cho phép xác định ý nghĩa của các đơn vị; bối cảnh với tư cách là một mảng hiện thực
khách quan ngoài ngôn ngữ nhưng tạo điều kiện cho việc xuất hiện phát ngôn và xác định ý nghĩa của chúng; cuối cùng
là ngữ cảnh riêng với tư cách là những tri thức riêng của người đối thoại.
Hoàn cảnh giao tiếp có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại của phát ngôn và sự hình thành hàm ý. Tuy
nhiên, không phải mọi hoàn cảnh giao tiếp đều tham gia tác động vào quá trình tạo hàm ý. Có những hoàn cảnh giao
tiếp chỉ là môi trường cho hiển ngôn tồn tại. Hoàn cảnh giao tiếp làm điểm tựa cho hàm ý là những hoàn cảnh đặc biệt.
10
dụ:
(24) [Một anh khóa vào hàng cô Phương chọn bút. Cô đưa loại bút nào anh khóa cũng lắc đầu, chê xấu. Anh chàng
hỏi mua bằng được thứ bút Tảo Thiên Quân. Thấy thầy khoá ăn mặc đồ vải xuềnh xoàng, cô Phương ra giọng bỉ thử:]
Có Tảo Thiên Quân lông trắng nhưng mà những hai quan một chiếc. [Nguyễn Tuân]
Trong ví dụ này, cô Phương cố ý dùng từ những (nhấn mạnh số lượng nhiều) để biểu thị hàm ý coi thường anh khóa
ăn mặc xuềnh xoàng: “Có đủ tiền mua không mà hỏi?”.
Khác với hàm ý quy ước, hàm ý hội thoại của từ được hình thành từ sự kết hợp giữa việc sử dụng từ ngữ với hoàn
cảnh giao tiếp. Qua khảo sát, chúng tôi thấy sự chi phối của hoàn cảnh giao tiếp thường mang lại cho từ những loại hàm
ý sau:
a) Hàm ý về khoảng cách mối quan hệ giữa những người tham gia giao tiếp
Khi một trong số những người tham gia giao tiếp đột ngột chuyển đổi cách xưng hô thông thường thì trong cách
xưng hô mới bao giờ cũng ẩn chứa hàm ý về sự thay đổi mối quan hệ giữa những người tham gia giao tiếp (thường là
khoảng cách giữa các nhân vật bị kéo ra xa hay xích lại gần trên cả hai trục: trục quan hệ thân sơ và quan hệ vị thế). Ví
dụ :
(29) [Bà Huyện trước kia vay tiền để mua chức cho chồng, nay chồng mất chức mà bà vẫn chưa trả được nợ. Chủ nợ
đến nhà bà Huyện đòi nợ. Ban đầu, còn xưng hô chị - em nhưng khi biết bà Huyện vẫn chưa thể trả nợ cho mình, chủ
nợ liền đổi giọng:) Này, do đồng tiền của đứa nào mà người ấy được vác mặt lên bảnh chọe làm bà lớn thì chớ quên.
Mua danh ba vạn bán danh chẳng được đồng nào đâu. [Vũ Trọng Phụng]
b) Hàm ý về thái độ, sự đánh giá của người phát ngôn
12
Loại hàm ý này có thể được tạo ra bởi sự kết hợp giữa hoàn cảnh giao tiếp với việc sử dụng một cách hợp lý các hư
từ hoặc thực từ. Thậm chí, các nghĩa chuyển của từ cũng tham gia khá tích cực vào việc hình thành nên loại hàm ý này.
Ví dụ:
(32) [Sau cái chết của Bá Nhỡ, cô Tơ đã bỏ nghề hát để đi tu và trở thành sư thầy Tuệ Không. Nhân vật “tôi” không
đồng tình với việc làm đó, bởi theo nhân vật này, “thái độ của sư thầy là một chuyện đánh bạc và cái thời khắc biểu của
nhà chùa chỉ là những ngày tháng của bệnh nhân trầm trệ”. Trong một lần “hầu chuyện” sư thầy Tuệ Không, nhân vật
“tôi” thể hiện “chính kiến” của mình:] Sư thầy bỏ chùa Đàn, sư thầy tìm ra quét lá ăn mày sư tổ ở ngoài tỉnh Đông. Rồi
sư thầy gửi mình ở Quỳnh Lâm, Dật Yên, ở chùa Keo, chùa Dận, Yên Tử, chùa Cói. Sư thầy tu, kể cũng tốn nhiều
chùa ! [Nguyễn Tuân].
Nghĩa gốc của từ tốn là phải dùng vào công việc gì một số lượng lớn của cải, sức lực hoặc thì giờ mà không đạt kết
Hoàng:] Bấy giờ anh ta mới bảo: Ông cứ đi lối này, đến chỗ có một cây đa to thì rẽ về tay phải, đi một quãng lại rẽ về
tay trái, qua một cánh đồng, vào đường gạch làng Ngò, vòng ra đằng sau đình, rẽ về tay phải, đi một quãng nữa thì
đến chợ”. Đại khái thế chứ không phải hoàn toàn đúng thế. Chỉ biết là nó lôi thôi rắc rối, nhiều bên phải, bên trái quá,
đến nỗi tôi không tài nào nhận ra được. Anh ta bày cho tôi một cách: đứng đợi đấy, gặp ai gánh hàng đi chợ thì đi
theo. Tôi cho là phải. Anh ta cười bảo: “Thôi thế chào ông. Cháu vô phép ông đi trước. Cháu vội lắm. Cháu phải vác
ngay bó tre này lên Thượng để làm công tác phá hoại, cản cơ giới hóa tối tân của địch. Cuộc trường kỳ kháng chiến
của ta phải chia làm ba giai đoạn: giai đoạn phòng ngự, giai đoạn cầm cự, giai đoạn tổng phản công. Giai đoạn phòng
ngự nghĩa là…” Anh ta cứ thế, đọc thuộc lòng cho tôi nghe cả một bài dài đến năm trang giấy. [Nam Cao]
Trong hoàn cảnh này, phát ngôn được thuật lại của Hoàng vừa mang hàm ý của Hoàng về anh thanh niên vừa mang
hàm ý đánh giá của nhà văn về thái độ của Hoàng. Theo ông, những nhận xét của Hoàng về người nông dân không phải
hoàn toàn sai nhưng cách nhìn của Hoàng tỏ ra phiến diện và thiếu thiện ý. Anh ta chỉ thấy người thanh niên đọc thuộc
lòng bài “ba giai đoạn” như một con vẹt (tức chỉ nhìn thấy cái ngố bề ngoài) mà không thấy thái độ vui vẻ của anh
thanh niên khi vác bó tre để làm nhiệm vụ ngăn quân thù, không nhìn thấy cái “nguyên cớ đẹp đẽ bên trong”: anh thanh
niên muốn bộc lộ niềm kiêu hãnh hồn nhiên của mình về việc mình được đóng góp cho sự nghiệp cao cả cũng như việc
mình nhiều hiểu biết mới.
14
2.3.Các loại hàm ý phân loại theo số lượng hàm ý của phát ngôn (theo tầng nghĩa)
2.3.1. Hàm ý đơn
Hàm ý đơn là loại hàm ý duy nhất của phát ngôn.
Theo khảo sát của chúng tôi, phần lớn hàm ý quy ước (hàm ý của từ và một số kiểu cấu trúc câu đặc biệt) thuộc loại
này.
Hàm ý đơn cũng có thể là hàm ý hội thoại, trong đó đáng chú ý nhất là những tín hiệu thẩm mỹ mang tính biểu
tượng. Việc suy ý từ những tín hiệu này và việc suy ý từ một số từ và cấu trúc câu đặc biệt có đặc điểm chung là đều
dựa trên quy ước của cộng đồng – một đằng là quy ước về văn hóa, còn một đằng là quy ước về ngôn ngữ. Ví dụ:
(56) [Trong tác phẩm Tắt đèn, chị Dậu mang con và chó đến bán cho nhà Nghị Quế giữa lúc ông bà Nghị đang dùng
bữa. Đây là hình ảnh ông Nghị dưới ngòi bút của nhà văn:) Ông Nghị đâm chéo đôi đũa qua mặt mâm, bưng bát canh
trợn mắt húp một cái đến “soạt”. Rồi ông vừa nhai, vừa nuốt, vừa giục thằng nhỏ lấy tăm…” […] Dứt mạch diễn thuyết,
ông Nghị bưng tách nước uống một hớp lớn, súc miệng òng ọc mấy cái rồi nhổ toẹt xuống nền nhà…”. [Ngô Tất Tố]
Đặt trong mối quan hệ với văn hóa của người Việt, các tín hiệu thẩm mĩ về hành động của Nghị Quế biểu thị nếp
sống thô lỗ, ngược với chuẩn mực văn hóa và với những điều người ta hình dung về một ông dân biểu.
(72) [Trong trận bóng giữa hai câu lạc bộ, cầu thủ Lê Công Vinh bị phạm lỗi và ngã nhưng trọng tài không thổi còi
cho đội của anh hưởng quả phạt. Kết quả trận đấu là 3 – 2 nghiêng về đối phương. Kết thúc trận đấu, cầu thủ Lê Công
Vinh bắt tay trọng tài và giữa họ có một cuộc thoại ngắn:]
Lê Công Vinh: - Anh bắt hay lắm!
Trọng tài: - Chúng ta còn gặp nhau nhiều! [VTC1, 25/3/2008]
Đặt trong hoàn cảnh mang tính chất “nhạy cảm” của trận đấu, cả phát ngôn của Lê Công Vinh lẫn phát ngôn của
trọng tài đều mang hàm ý. Hàm ý này hoàn toàn trái ngược với nghĩa tường minh. Đằng sau lời khen có vẻ như “chân
thành” của Lê Công Vinh là lời mỉa mai (Trên VTC1, ông Nguyễn Văn Mùi, Chủ tịch Hội đồng trọng tài, cũng hiểu
như vậy). Còn lời đáp có vẻ “nhã nhặn” của trọng tài thì bị Lê Công Vinh và những người khác coi là lời đe dọa.
2.5. Các loại hàm ý phân loại theo quan hệ với các nghĩa hàm ẩn khác
2.5.1. Hàm ý kiêm chức
16
Như đã trình bày, TGĐ và dẫn ý vốn không phụ thuộc vào ngữ cảnh nhưng trong những tình huống giao tiếp cụ thể,
người nói có thể sử dụng TGĐ và dẫn ý như một loại hàm ý. Đây là hai loại hàm ý kiêm chức mà chúng tôi mới bổ
sung so với hai loại đã được các nhà nghiên cứu xác định là hàm ý quy ước và hàm ý hội thoại.Ví dụ:
(74) A: - Sao? Thế đã gặp Bọ Muỗm chưa?
B: - Nó đánh tôi gãy một càng rồi. [Tô Hoài]
Phát ngôn (74B) có một chuỗi dẫn ý: Nó đánh tôi gãy một càng rồi à Tôi và nó đã có một hành động vật lý trực tiếp
với nhau (e1) à Tôi và nó đã gặp nhau (e2). Trong tình huống giao tiếp cụ thể này, dẫn ý (e2) chính là hàm ý của phát
ngôn (74).
2.5.2. Hàm ý không kiêm chức
Hàm ý không kiêm chức là toàn bộ các hàm ý không đồng thời đảm nhận vai trò dẫn ý hay TGĐ.
2.6. Các loại hàm ý phân loại theo mức độ phụ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp
2.6.1. Hàm ý quy ước
Các nhà nghiên cứu gọi loại hàm ý này là hàm ý khái quát, hàm ý ngôn ngữ. Đây là loại hàm ý không bị chi phối bởi
hoàn cảnh giao tiếp mà chủ yếu được hình thành và tiếp nhận nhờ một số từ ngữ hoặc cấu trúc câu/kiểu phát ngôn mang
tính đặc thù.
2.6.2. Hàm ý hội thoại
Đây là loại hàm ý phụ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp. Nói cụ thể hơn, hoàn cảnh giao tiếp, các quy tắc hội thoại –
đặc biệt là phương châm hội thoại của H.P.Grice và nguyên tắc quan yếu của D. Sperber và D. Wilson là những yếu tố
thoại – đặc biệt là các phương châm hội thoại – trong quá trình tạo lập phát ngôn là phương thức hữu hiệu để biểu thị nó
[xem: Nguyễn Đức Dân, 1989; M. S. Green, 2002; Đỗ Hữu Châu, 2005).
Có thể biểu thị loại hàm ý này theo những cách sau:
- Sử dụng phát ngôn P, trừ phi Q trong một số hoàn cảnh cụ thể. Ví dụ:
18
(116) Nó không bao giờ xem ti vi, trừ phi có bóng đá (mà “hôm nay có bóng đá”, vậy hàm ý của phát ngôn là: hôm
nay nó sẽ xem ti vi).
- Cố tình vi phạm quy tắc chiếu vật chỉ xuất. Ví dụ, việc đột ngột chuyển đổi cách xưng hô thông thường ẩn chứa
hàm ý về sự thay đổi quan hệ giữa những người tham gia giao tiếp.
- Cố tình vi phạm các quy tắc hội thoại. Ví dụ:
(117) [Thấy bạn mình đang cợt nhả với một cô gái, A hỏi:] Thế nào, cháu nhỏ của anh đã đỡ chưa?
Trong trường hợp này, đối với cô gái, phát ngôn A có hàm ý Anh ta có vợ con rồi, còn đối với chàng trai, phát ngôn
trên có hàm ý Anh đã có vợ con rồi mà còn tán tỉnh phụ nữ à?
3.2.3. Nhận xét chung
Qua việc điểm lại danh sách các phương thức biểu thị hàm ý, chúng tôi thấy:
a) Phần lớn các phương thức biểu thị hàm ý mà các tác giả đã miêu tả là những phương thức biểu thị loại hàm ý độc
lập, cố định trong mọi hoàn cảnh giao tiếp (hàm ý quy ước). Mặc dù các tác giả đã có những kiến giải khá tỉ mỉ và thận
trọng nhưng qua đối chiếu với nghĩa của cấu trúc cũng như thực tế sử dụng ngôn ngữ, chúng tôi thấy vẫn còn một số
vấn đề cần được thảo luận thêm. Chẳng hạn:
- Việc sử dụng vị từ tình thái không phải phương thức biểu thị “hàm ý” như ý kiến của Cao Xuân Hạo bởi nghĩa mà
các vị từ này tạo ra chỉ là TGĐ hoặc dẫn ý [xem: Nguyễn Văn Hiệp, 2008].
- Việc tạo liên kết giữa các từ cùng đứng đầu hoặc cùng đứng cuối câu trong chuỗi phát ngôn không phải phương
thức biểu thị “hàm ý” như ý kiến của Hồ Lê bởi đây chỉ là vấn đề tạo mã và giải mã của tín hiệu.
- Việc đổi vị trí các từ trong câu hoặc tạo phát ngôn có nghĩa đối lập với phát ngôn trao trong một ngữ cảnh cụ thể,…
không phải phương thức biểu thị “hàm ý” như ý kiến của một số tác giả. Ví dụ:
+ (120) A sờ lên cổ áo, bắt được con rận, sợ B cười, vội vứt xuống đất, nói: Tưởng là con rận, hóa ra không phải.
Nhưng B cúi xuống nhặt con rận ở dưới đất lên, bảo: Tưởng là không phải, hóa ra con rận. Việc đổi vị trí các từ trong
phát ngôn của B chỉ là cách tạo ra một kết cấu khác, với một nghĩa khác dựa trên nguyên lý hình tuyến của ngôn ngữ.
+ (121) [B được mọi người tôn trọng nên A sinh lòng đố kỵ. Một hôm, A gặp B và “chào hỏi”:] A: Trông từ xa, tôi
cứ ngỡ ông là con lừa. B đáp trả: Còn tôi, trông từ xa, tôi lại cứ ngỡ là con người. Nghĩa hàm ẩn trong phát ngôn của
Để tạo hàm ý, người ta thường vi phạm phương châm lượng theo những cách sau: cung cấp lượng tin nhiều hoặc ít
hơn mức cần thiết, tạo khung thời gian để hạn định nội dung mệnh đề, tạo phát ngôn điều chỉnh nội dung mệnh đề, tạo
phát ngôn so sánh có kiểu cấu trúc trùng ngôn, Ví dụ:
(146) Ông đã sang Pháp học sáu, bảy năm và sau khi về nước thì đâm ra ghét văn bằng như những du học sinh về
nước mà không có một mảnh bằng nào cả. [Vũ Trọng Phụng]
Người đọc/người nghe chỉ có thể lý giải cho sự “luẩn quẩn” của lối so sánh trong các phát ngôn trên khi căn cứ vào
vị từ tình thái hàm thực đâm ra để hiểu được hàm ý: Văn Minh từng du học ở Pháp sáu, bảy năm nhưng khi về nước
không có một mảnh bằng.
3.3.2.2. Cố tình vi phạm phương châm về chất – quan yếu về ngữ dụng
Người ta thường vi phạm phương châm về chất – quan yếu về ngữ dụng bằng ngữ điệu, nói mát, nói bóng, nói lái, ẩn
dụ, tạo giá trị thông báo cho TGĐ. Ví dụ:
(157) [Tại phiên thảo luận của Quốc hội về việc xây dựng đường sắt cao tốc Bắc - Nam, một đại biểu ủng hộ phương
án xây dựng đường sắt cao tốc đưa ra luận cứ: Các nước có chỉ số IQ cao đều làm đường sắt cao tốc. Việt Nam ta là
dân tộc có chỉ số IQ cao cũng nên làm. Một đại biểu khác là giáo sư, tiến sĩ hóm hỉnh:] Tôi thuộc nhóm có chỉ số IQ
thấp. Vì vậy, tôi không đồng tình xây dựng đường sắt cao tốc. [VTV1, 8/6/2010]
Việc một giáo sư, tiến sĩ “có chỉ số IQ thấp” và tự khẳng định điều đó trước công chúng là trái với lẽ thường. Chính
điều này đã tạo nên tính quan yếu cho phát ngôn của đại biểu và hình thành nên hàm ý (dự ước quan yếu): gắn việc xây
dựng/không xây dựng đường sắt cao tốc với chỉ số IQ cao hay thấp là phi lý.
3.3.2.3. Cố tình vi phạm phương châm quan hệ – quan yếu về đề tài
Sự vi phạm phương châm quan hệ – quan yếu về đề tài thể hiện ở việc sử dụng TGĐ, nói lạc đề, sử dụng phát ngôn
chứa yếu tố tượng trưng, tạo chủ đề tương phản cho phát ngôn. Ví dụ:
(170) A: - Luận văn cô ta viết có tốt không?
B: - Bản thảo của cô ta viết khá sạch sẽ.
Câu trả lời của B là một cách “đánh trống lảng” để khỏi phải nói ra một sự thật phũ phàng: luận văn của cô ta không
đạt yêu cầu.
3.3.2.4. Cố tình vi phạm phương châm cách thức – quan yếu về lập luận
21
Sự vi phạm phương châm cách thức – quan yếu về lập luận thể hiện ở việc sử dụng phát ngôn mơ hồ về vật quy
chiếu, sử dụng lối nói vòng, sử dụng lối nói bâng quơ, sử dụng phát ngôn vi phạm quy tắc hiện diện của các thành phần
lập luận. Ví dụ:
Luận án quan niệm phát ngôn là biến thể của câu trong hoạt động giao tiếp, tức là một đơn vị thuộc cấp độ lời nói, có
kích thước bằng câu.
Về cơ cấu nghĩa của phát ngôn, luận án sử dụng cả ba cặp đối lập: nghĩa mệnh đề - nghĩa tình thái, nghĩa chủ đề -
nghĩa thuật đề, nghĩa tường minh - nghĩa hàm ẩn. Nghĩa mệnh đề là nghĩa do các từ riêng biệt và cấu trúc cú pháp tạo
ra, tức là nghĩa của câu, nhưng vì câu là bất biến thể của phát ngôn nên nghĩa đó cũng bao hàm trong nghĩa của phát
ngôn. Nghĩa tình thái là phạm trù ngữ nghĩa chức năng thể hiện các dạng quan hệ khác nhau của phát ngôn với thực tế
cũng như các dạng đánh giá chủ quan khác nhau đối với điều được thông báo, thể hiện mục đích phát ngôn của người
nói và sự tác động qua lại giữa người nói với người đối thoại. Bộ phận nghĩa tình thái được mã hóa trong những hình
thức ngôn ngữ nhất định phần nào độc lập với hoàn cảnh sử dụng thuộc về nghĩa tường minh của phát ngôn. Bộ phận
không được mã hóa bởi các phương tiện ngôn ngữ, chỉ bộc lộ đầy đủ khi xét đến tình huống sử dụng, gọi là tình thái của
hành động phát ngôn (tình thái của mục đích phát ngôn), thuộc về nghĩa hàm ẩn của phát ngôn.
Đưa nghĩa chủ đề vào cơ cấu nghĩa của phát ngôn, luận án nhằm giải đáp cho các vấn đề như: Nghĩa chủ đề có mối
quan hệ với hàm ý không? Việc xác lập nghĩa chủ đề có liên quan như thế nào đến việc biểu thị hàm ý, đặc biệt là trong
tiếng Việt – ngôn ngữ được cho là thiên chủ đề?
23
Khác với nghĩa tường minh - ý nghĩa rút ra từ nghĩa đen, nghĩa bóng của các từ ngữ có mặt trong câu và quan hệ cú
pháp giữa các từ ấy, nghĩa hàm ẩn là thông tin không được thể hiện trên bề mặt câu chữ của phát ngôn nhưng có thể
nhận biết nhờ suy ý trên cơ sở hiển ngôn, hoàn cảnh phát ngôn và quy tắc điều khiển hành vi ngôn ngữ, điều khiển lập
luận, điều khiển hội thoại,…
Mặc dù còn có những điểm khác biệt nhưng các nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau là nghĩa hàm ẩn gồm 3
loại: dẫn ý, TGĐ và hàm ý. Có thể thấy hàm ý, dẫn ý và TGĐ đều là nghĩa hàm ẩn của phát ngôn bởi chúng đều không
được nói ra một cách tường minh. Tuy nhiên, giữa hàm ý, dẫn ý và TGĐ có những điểm khác nhau rất rõ.
Luận án không giới hạn việc xác định hàm ý trong phạm vi nghĩa mệnh đề. Trong trường hợp nghĩa tình thái không
được biểu đạt bởi các phương tiện biểu đạt tình thái chuyên biệt thì nghĩa tình thái đó là hàm ý. Tất nhiên, chỉ những ý
nghĩa tình thái hàm ẩn nằm trong chủ định của người phát ngôn, tức là “điều người nói gửi tới người nghe, muốn người
nghe hiểu” mới được coi là hàm ý.
Các điều kiện sử dụng hàm ý thường được đề cập là hoàn cảnh giao tiếp và nhân vật giao tiếp. Hoàn cảnh giao tiếp
có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại của phát ngôn và sự hình thành hàm ý. Tuy nhiên, không phải mọi hoàn
cảnh giao tiếp đều tham gia tác động vào quá trình tạo hàm ý. Hoàn cảnh giao tiếp làm điểm tựa cho hàm ý là những
hoàn cảnh đặc biệt. Để cuộc giao tiếp bằng phát ngôn có hàm ý thành công, trước hết phải có sự cộng tác tích cực giữa
về hàm ý vào việc dạy – học văn theo hướng tích hợp; có những biện giải có cơ sở khoa học hơn, chặt chẽ hơn trong
quá trình cảm thụ, phân tích tác phẩm.
3. Các phương thức biểu thị hàm ý
Luận án quan niệm phương thức biểu thị hàm ý là cách thức lựa chọn và sử dụng các yếu tố ngôn ngữ phù hợp với
hoàn cảnh giao tiếp cụ thể để tạo hàm ý cho phát ngôn. Khác với chiến thuật giao tiếp, cách thức sử dụng các yếu tố
ngôn ngữ trong phương thức biểu thị hàm ý không chỉ nhằm tăng hiệu quả, hiệu lực của phát ngôn mà nhằm tạo tầng
nghĩa thứ hai cho phát ngôn.
Theo H. P. Grice và các nhà ngữ dụng học, người ta có thể sử dụng hai phương thức biểu thị hàm ý sau:
25