ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Nguyễn Thị Tố Ninh Hàm ý và phương thức biểu thị hàm ý
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn: Nguyễn Minh Thuyết
Hà Nội - 2002
1
MỞ ĐẦU
0.1- Đối tƣợng nghiên cứu và lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp. Dùng ngôn ngữ giao tiếp là để nói
những ý nghĩ của mình cho người khác hiểu. Tuy nhiên, trong thực tế giao
tiếp, không phải bao giờ"tất cả những gì người ta muốn biểu đạt đều có thể nói
ra được tất cả " (J.R.Searle, dẫn theo Hoàng Phê, 1989, tr.103). Vậy, làm thế
nào để có thể "biểu đạt tất cả những gì ta muốn" trong điều kiện "không thể
nói ra tất cả"? Câu hỏi này đã được các nhà nghiên cứu ngữ dụng học trả lời
bằng những kết quả nghiên cứu về hàm ngôn.
0.3- Phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu
0.3.1 Hàm ý thường xuất hiện trong đối thoại trực tiếp giữa một số người
trong một hoàn cảnh nhất định. Vì thế, đơn vị mà chúng tôi dựa vào đó tìm
hiểu đối tượng nghiên cứu chủ yếu là đoạn đối thoại trực tiếp có chứa phát
ngôn thuộc kiểu được xét- phát ngôn có hàm ý.
0.3.2 - Trong giới hạn của một luận văn Thạc sĩ, chúng tôi không có tham
vọng giải quyết triệt để toàn bộ vấn đề hàm ý mà chỉ góp thêm ý kiến của
mình vào việc xác định khái niệm hàm ý, phương thức biểu thị hàm ý và miêu
tả một số phương thức mà chúng ta vẫn thường dùng để biểu thị hàm ý.
0.4- Phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn tƣ liệu
0.4.1 - Nhằm tìm ra những đặc trưng cơ bản nhất về nội dung và hình
thức biểu hiện của các phát ngôn có hàm ý, trong luận văn này, chúng tôi sử
dụng phương pháp phân tích ngữ cảnh trong ngữ dụng học. Tất cả các phát
ngôn đều được chúng tôi đặt trong ngữ cảnh đủ rộng để từ đó có thể tìm ra ý
nghĩa đích thực mà chủ thể phát ngôn muốn biểu hiện.
Trong quá trình phân tích ngữ cảnh, ở những chỗ thích hợp, chúng tôi sẽ
sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp so sánh - đối chiếu và các thao
tác thực nghiệm khác.
3
0.4.2- Do gặp nhiều khó khăn trong việc thu thập tư liệu bằng biện pháp
ghi âm, ghi hình nên ngoài một số tư liệu có được do sự quan sát thực tế trong
giao tiếp hàng ngày, chúng tôi thường sử dụng những đoạn thoại mô phỏng
đối thoại trực tiếp ngoài đời thực của một số tác phẩm văn học.
Trong một số trường hợp cần thiết, chúng tôi có mượn lại một số ví dụ đã
dẫn trong các tài liệu nghiên cứu về ngữ dụng học.
0.5- Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chương
Trong chương 1, chúng tôi điểm lại lịch sử nghiên cứu về hàm ý.
Trong chương 2, chúng tôi tiến hành nhận diện hàm ý trong các phát
Chúng ta còn có thể tìm thấy quan niệm về hàm ý trong tài liệu nghiên
cứu về ngữ dụng học của một số tác giả khác như: Hoàng Phê với quan niệm
"điều diễn đạt gián tiếp trong một phát ngôn gọi là hàm ý, ngụ ý" (Hoàng Phê,
1989, tr.39); Trần Ngọc Thêm với quan niệm rất riêng: "Hàm ý là bộ phận của
thuật đề, cái mới không được thể hiện tường minh trong sản phẩm ngôn ngữ"
5
(Trần Ngọc Thêm, 1989) hay Dương Hữu Biên (Dương Hữu Biên, 2000, tr.297),
Nguyễn Hữu Cầu (Nguyễn Hữu Cầu, 1999, tr.202) với những quan niệm khá
mới mẻ: "Hàm ý là điều mà người nói cho là có nghĩa khi anh ta tạo ra phát
ngôn này trong một tình huống cụ thể"; "Hàm ý hội thoại là ý nghĩa ngữ dụng
(ý nghĩa phi vật thể) , loại ý nghĩa chỉ được xác nhận trong quá trình giao tiếp,
nó không hoàn toàn giống ý nghĩa mặt chữ".
Không trực tiếp trình bày quan điểm về hàm ý nhưng qua việc nghiên
cứu về hàm ngôn và phân tích trên cứ liệu cụ thể, các tác giả O.Ducrot,
H.P.Grice, George Yule, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, Đỗ Thị Kim Liên,
Nguyễn Thị Việt Thanh đã gián tiếp thể hiện quan niệm về hàm ý của mình
qua các nhận định: "Thực chất của hàm ngôn là nói mà coi như không nói,
nghĩa là nói một cái gì đó mà không vì thế nhận trách nhiệm là đã có nói, có
nghĩa là vừa có hiệu lực nói năng vừa có sự vô can trong im lặng" (O.Ducrot,
dẫn theo Hoàng Phê, 1989, tr.100); "Hàm ngôn là tất cả những nội dung có
thể suy ra từ một phát ngôn cụ thể nào đó, từ ý nghĩa tường minh (ý nghĩa câu
chữ ) cùng với TGĐ của nó " (Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán, 1996, tr.323);
"Trả lời gián tiếp là trả lời bằng hàm ngôn, người nghe phải thông qua suy
diễn ngữ nghĩa để rút ra thông tin mà người nói muốn truyền đạt" (Lê Anh
Xuân, 2000, tr.43); "Hàm ngôn là nghĩa có đuợc nhờ suy ý trong ngữ cảnh cụ
thể nhằm đưa lại một sự nhận thức mới và đó là nội dung đích thực mà người
nói hướng đến người nghe" (Đỗ Thị Kim Liên, 1999a, tr.60)
1.1.2 Điểm thống nhất trong quan niệm về hàm ý giữa các tác giả mà
chúng ta dễ nhận thấy nhất là: hầu hết các tác giả đều đã tìm ra ranh giới và
1.1.3. Sự thống nhất tương đối cao trong quan niệm về hàm ý giữa các
nhà nghiên cứu là một thực tế nhưng sự khác biệt trong quan niệm giữa các tác
giả cũng là một sự thật không thể phủ nhận. Chúng ta có thể nhận ra sự khác
biệt từ thuật ngữ đến quan niệm cụ thể về từng loại ý nghĩa ngầm ẩn.
a. Sự khác nhau về thuật ngữ
Hàm ý được đề cập đến trong hầu hết các công trình nghiên cứu về ngữ
dụng học. Nhưng trong nghiên cứu, mỗi tác giả lại đặt cho loại ý nghĩa ngầm
ẩn này một tên gọi khác nhau. Có tác giả gọi nó là hàm ngôn (trong thế đối lập
với hiển ngôn) (Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán, 1996, tr.323; Đỗ Thị Kim
7
Liên, 1999a, tr.60); có tác giả lại gọi là hàm ý (trong thế đối lập với một bộ
phận khác của hàm ngôn) (Nguyễn Đức Dân,1996, tr.192). Bên cạnh đó, có
tác giả lại chủ trương phân biệt hàm ý (điều hàm ẩn mà người nghe suy ra từ
phát ngôn) với hàm ngôn (điều hàm ẩn mà người nói muốn chuyển đến người
nghe) (Cao Xuân Hạo, 1998,1999). Hồ Lê (1996, tr.341) phân biệt hàm ý với
ngụ ý (ý nghĩa tình thái ngầm ẩn) nhưng coi ngụ ý là một tiểu loại của hàm ý.
Cũng sử dụng thuật ngữ hàm ý và ngụ ý nhưng Hoàng Phê cho rằng hàm ý là
nội dung ngầm ẩn chỉ qua một lần suy ý, còn ngụ ý là nội dung ngầm ẩn được
rút ra sau hai lần suy ý. (Hoàng Phê, 1989, tr.118).
b- Sự khác nhau về quan niệm.
Hầu hết, các tác giả đều có chung quan niệm: ngoài TGĐ, phát ngôn còn
các một nghĩa ngầm ẩn nữa, đó là hàm ngôn. Nhưng quan niệm về loại nghĩa
ngầm ẩn này giữa các tác giả lại có sự khác nhau. Hoàng Phê (1989) cho rằng
hàm ngôn có hai lớp nghĩa ngầm ẩn khác nhau về mức độ phụ thuộc vào hoàn
cảnh và độ tin cậy của sự suy ý. Đó là, hàm ý và ngụ ý. Nội dung của hàm ý
được suy ý trực tiếp, ít phụ thuộc vào ngôn cảnh và độ tin cậy của sự suy ý
tương đối cao, còn ngụ ý là phần nội dung hàm ngôn phụ thuộc nhiều vào
ngôn cảnh, người nghe phải suy ý gián tiếp từ hoàn cảnh, từ khả năng nhận
thức, khả năng vận dụng kinh nghiệm sống để suy ý nên độ tin cậy thường
ngôn và hoàn cảnh nhất định nhưng điều ngầm ẩn này là điều mà người thụ
ngôn (người nghe) suy ý và cảm nhận, hiểu được (Cao Xuân Hạo, 1998, 1999;
Đỗ Thị Kim Liên, 1999a). Thậm chí, sự thiếu thống nhất trong quan niệm về
hàm ý còn tồn tại trong ý kiến của cùng một tác giả trong một đề tài nghiên
cứu. Chẳng hạn, Đỗ Thị Kim Liên khi xác định hàm ý đã viết: "Nghĩa hàm
ngôn (hàm ý) là nghĩa có được nhờ suy ý trong ngữ cảnh cụ thể nhằm đưa lại
một sự nhận thức mới và đó là nội dung đích thực mà người nói muốn hướng
đến người nghe" (Đỗ Thị Kim Liên, 1999a, tr.60). Nhưng cũng trong đề tài
này, tác giả vẫn gọi là hàm ý cái ý nghĩa mà "người nói không cố tình nói mà
chỉ do người nghe suy ý".
Vậy, hàm ý là điều ngầm ẩn mà người nói muốn hướng tới người nghe
hay điều người nghe suy ý được từ phát ngôn?
9
Nếu coi nội dung suy ý của người nghe luôn luôn độc lập với hàm ý của
người nói thì mọi cuộc thoại sẽ rơi vào tình trạng "ông nói gà, bà nói vịt"?
Liệu cuộc thoại có hoàn thành hay không khi nó diễn ra theo xu hướng này?
Nếu coi toàn bộ các ý nghĩa ngầm ẩn mà người nói muốn hướng đến
người nghe và ý nghĩa ngầm ẩn do người nghe suy ý từ phát ngôn đều thuộc
phạm trù hàm ý thì phạm vi nghiên cứu về đối tượng sẽ vô cùng lớn. Bởi lẽ,
theo quan niệm này, bất kỳ phát ngôn nào cũng có hàm ý. Và như vậy, bất kỳ
cuộc giao tiếp nào - từ cuộc trao đổi mang tính chất "xã giao" thường ngày đến
những cuộc đàm phán mang tính chiến lược của hoạt động ngoại giao- đều đòi
hỏi người tham gia giao tiếp phải "căng óc" để tư duy, để suy luận ra ý nghĩa
hàm ẩn, rồi phân biệt xem nó là loại hàm ý cần thiết hay không cần thiết, rồi
tìm phương thức "phản ứng" lại hàm ý ấy bằng một phát ngôn có hàm ý
khác Tất cả sẽ chỉ diễn ra trong "tích tắc", người giao tiếp luôn ở trong trạng
thái căng thẳng Và như vậy, dù ngôn ngữ có làm tròn chức năng giao tiếp
của mình nhưng liệu hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ có còn sức cuốn hút
nữa không hay nó trở thành một "cực hình" mà con người luôn sợ phải đối
(Cao Xuân Hạo, 1998, tr 509).
Ví dụ:
1- A: - Bác có thấy con lợn cưới của tôi chạy qua đây không?
B: - Từ khi mặc cái áo mới đứng đây đến giờ, tôi chả thấy con lợn nào cả
(Dẫn theo Đỗ Hữu Châu)
2- A: - Thưa cụ, đây có đúng là mật ong nguyên chất không ạ?
B (đưa tay vạch một đường ngay cổ chai):
- Đúng vớ, từ đây trở lên đúng là mật ong nguyên chất.
(Dẫn theo Cao Xuân Hạo)
3. A: - Luận văn cô ta viết có tốt không?
B: - Bản thảo của cô ta viết khá sạch sẽ.
Trong các ví dụ trên, người nói luôn cố tình vi phạm các nguyên tắc
hội thoại để tạo hàm ý. Cụ thể: Ở ví dụ (1), người nói (B) cố tình vi phạm
nguyên tắc về lượng (lượng tin nhiều hơn cần thiết); ở ví dụ (2), người nói (B)
cố tình vi phạm nguyên tắc về chất (người nói không nói hết sự thật, hơn thế,
lại bỏ qua những chi tiết quan yếu đối với người nghe); ở ví dụ (3), người nói
11
(B) đã cố tình vi phạm nguyên tắc quan hệ (Trả lời câu hỏi bằng một câu
ngoài đề). Tất cả những câu trả lời trên đều mang hàm ý. Nội dung của các
hàm ý này đều được suy luận dựa trên cơ sở của hoàn cảnh.
1.2.2. Việc sử dụng một số phương tiện ngôn ngữ mang tính chất đặc thù
(như hư từ, từ tình thái, các cấu trúc câu đặc thù…) và việc cố tình vi phạm
"cơ chế ngôn ngữ" cũng được các tác giả coi là phương thức tạo ra hàm ý.
Ví dụ:
(1). A. Chiếc cặp này 50 nghìn kia à?
B. Chiếc cặp này 50 nghìn thôi à?
(2). A: - Việc ấy mà Giám đốc cũng chịu à?
B: - Thủ kho to hơn thủ trưởng mà lại!
(3). A: - Em hay cằn nhằn quá!
tính tiêu cực đối với người phát ngôn) ở ví dụ (4) luôn tạo cho phát ngôn hàm
ý: Người nói không thực hiện (/không có) hành vi (/thái độ) như đã nêu ở vế
điều kiện (cụ thể là''Tôi không nói dối'').
Trong các vi dụ (5), (6) việc người nói cố tình tạo nên sự kết hợp bất
thường về nghĩa (tức người nói cố tình vi phạm cơ chế ngôn ngữ) đã tạo hàm
ý cho các phát ngôn.
5B2. Sư cụ ăn thịt chó lại còn nói dối là ăn đậu phụ.
6B: Bản nhạc của anh không có gì mới mà chỉ lặp lại những điều mà
người khác đã làm.
1.2.3. Việc các nhà nghiên cứu coi sự cố tình vi phạm các quy tắc ngữ
dụng (quy tắc chiếu vật, chỉ xuất, quy tắc chi phối các hành vi ngôn ngữ, quy
tắc hội thoại ) - đặc biệt là vi phạm các nguyên tắc giao tiếp của H.P. Grice -
và sự cố tình vi phạm ''cơ chế ngôn ngữ'' là hai phương thức biểu thị hàm ý
mang tính khái quát nhất đã thực sự có ý nghĩa không chỉ đối với các nhà
nghiên cứu mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với tất cả những ai đang sử dụng
ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp. Căn cứ vào hai phương thức khái quát này,
người ta có thể tạo ra những phát ngôn với nhiều hàm ý khác nhau nhằm đạt
hiệu quả giao tiếp cao nhất. Tuy nhiên, trong thực tế giao tiếp, ta thấy có
những phát ngôn có ý nghĩa ngầm ẩn hình thành do người nói cố tình vi
13
phạm quy tắc giao tiếp hoặc vi phạm ''cơ chế ngôn ngữ' hoặc sử dụng các hư
từ, các cấu trúc câu đặc thù nhưng ý nghĩa này dường như độc lập hoàn toàn
với hoàn cảnh giao tiếp nên khi gặp sự phản ứng của người nghe về nội dung
ngầm ẩn, chắc chắn, người nói khó tìm ra đủ lý lẽ để phủ nhận trách nhiệm
của mình về điều ngầm ẩn trong phát ngôn.
Ví dụ:
1. A: - Tôi chỉ sợ anh nghe người ta mà
B: - Tôi có nghe ai thì tôi chết.
Theo chúng tôi, phát ngôn B có nội dung ngầm ẩn khẳng định ''Tôi không
giao tiếp và hiển ngôn (xem: Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán, 1996; Nguyễn
Đức Dân, 1996; Hồ Lê, 1996; Cao Xuân Hạo, 1998 ). Và như vậy, việc "cố
tình vi phạm các qui tắc giao tiếp", "cố tình vi phạm cơ chế ngôn ngữ" không
chỉ là phương thức biểu thị hàm ý mà còn là cơ sở, là căn cứ để suy ý ra hàm
ý.
Nếu cho rằng xác định hàm ý cần căn cứ vào qui luật logic thì vô hình
trung, chúng ta đã phủ nhận vai trò của hoàn cảnh giao tiếp trong việc hình
thành hàm ý- điều mà trong khi xác định hàm ý, tất cả chúng ta đều đã thừa
nhận. Mặt khác, nếu theo quan điểm này, chúng ta sẽ khó lý giải cho sự "hiện
diện" của loại hàm ý hội thoại (hàm ý ngữ dụng) - loại hàm ý đích thực -trong
"danh sách" hàm ý.
Ngược lại nếu cho rằng xác định hàm ý cần dựa vào hoàn cảnh giao tiếp
thì sẽ phủ nhận loại hàm ý ngôn ngữ - loại hàm ý không phụ thuộc vào hoàn
cảnh giao tiếp. Qủa tình, có những sự vi phạm cơ chế ngôn ngữ không tạo ra
hàm ý.
Ví dụ:
Một người nghe nói bạn mình bị bệnh nhãn khoa, bèn đến thăm. Vừa
thấy người bệnh hai mắt sưng húp, anh ta vội kêu lên:
- Đã đau nhãn khoa lại còn bị bệnh đau mắt nữa à? Thật hoạ vô đơn chí!
(Dẫn theo Đỗ Thị Kim Liên)
Như vậy, dẫu đã được quan tâm nghiên cứu nhưng vấn đề "tiêu chí xác định
hàm ý" vẫn chưa có giải thuyết nào phù hợp với thực tế sử dụng ngôn ngữ.
1.4- Vấn đề phân loại hàm ý
Như đã trình bày ở (1.1.3), ý nghĩa ngầm ẩn của phát ngôn mà chúng tôi
gọi là hàm ý được các nhà nghiên cứu nhìn nhận ở những góc độ khác nhau.
Bởi thế, khi tiến hành phân loại loại ý nghĩa ngầm ẩn này (hàm ý), mỗi tác giả
15
có một cách phân loại khác nhau. Có thể thấy những xu hướng phân loại hàm
ý dựa trên những tiêu chí nổi bật sau:
hoàn cảnh giao tiếp.
1.4.2 Hướng phân loại hàm ý theo tiêu chí về độ tin cậy và mức độ phụ
thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp.
Tiêu biểu cho hướng phân loại này là Hoàng Phê.
Theo tác giả, nếu căn cứ vào độ tin cậy và mức độ phụ thuộc vào hoàn
cảnh giao tiếp thì hàm ý sẽ được xác định trong sự đối lập với ngụ ý như sau:
- Hàm ý là phần nội dung có thể suy ý trực tiếp và không khó khăn từ
phát ngôn vì nó ít hoặc không phụ thuộc vào hoàn cảnh phát ngôn. Bởi thế, độ
tin cậy của suy ý tương đối cao.
- Ngụ ý là phần nội dung phụ thuộc vào hoàn cảnh phát ngôn và phải suy
ý gián tiếp. Bởi thế, độ tin cậy của suy ý không cao.
(Xem: Hoàng Phê, 1989, tr116 - 119).
Trong cách phân loại của mình, Hoàng Phê vẫn chưa vạch ra được ''ranh
giới'' rõ ràng giữa hàm ý và nội dung đồng nghĩa của phát ngôn.
1.4.3. Hướng phân loại hàm ý theo khu vực tình thái mà người phát
ngôn kỷ gửi vào phát ngôn.
Đi theo hướng này là Hồ Lê.
Theo Hồ Lê, lấy '' khu vực tình thái mà người phát ngôn ký gửi một cách
hàm ẩn vào phát ngôn'' làm tiêu chí, hàm ý sẽ được chia thành 3 loại: ẩn ý,
ngụ ý và dụng ý.
- Ẩn ý: Sự kiện ngầm ẩn khác với sự kiện được diễn đạt hiển ngôn (hiển
nghĩa - theo thuật ngữ của Hồ Lê).
- Ngụ ý: Những (nghĩa) tình thái ngầm ẩn (những định hướng phát ngôn,
thái độ, tâm trạng, tình cảm ) khác với tình thái được diễn đạt hiển ngôn (hiển
ý - theo thuật ngữ của Hồ Lê).
- Dụng ý: Ý muốn dùng phát ngôn để tác động như thế nào đó đến phía
người thụ ngôn (người nghe).
Lấy "khu vực tình thái mà người phát ngôn ký gửi một cách hàm ẩn vào
phát ngôn" làm tiêu chí phân loại hàm ý, tác giả đã vạch được ranh giới rõ
- Khẳng định được sự tồn tại của loại ý nghĩa ngầm ẩn trong các phát ngôn.
18
- Thông qua việc miêu tả các loại ý nghĩa ngầm ẩn của phát ngôn, cho
thấy sự phức tạp, đa dạng của cái gọi là ý nghĩa ngầm ẩn này.
- Nêu lên được hai phương thức biểu thị ý nghĩa ngầm ẩn (phương thức
sử dụng phương tiện ngôn ngữ và phương thức vi phạm các quy tắc ngữ
dụng).
Tuy nhiên, hàm ý là một vấn đề phức tạp, những công trình chuyên
nghiên cứu về nó lại chưa nhiều nên một số mảng còn chưa được quan tâm
thảo đáng; ngay ở mỗi khía cạnh đã được khai thác vẫn còn tồn tại một số vấn
đề cần đi sâu hoặc xem xét lại
Chƣơng 2
NHẬN DIỆN HÀM Ý
2.1. Điều kiện để sử dụng phát ngôn có hàm ý trong giao tiếp
Hoạt động giao tiếp nào cũng diễn ra trong một hoàn cảnh nhất định.
Hoàn cảnh là yếu tố quan trọng, quyết định sự tồn tại của các phát ngôn. Nó
chi phối các phát ngôn, làm cho các phát ngôn có hiệu lực ở lời và thể hiện
được hàm ý. Khi hoàn cảnh giao tiếp thay đổi, hiệu lực ở lời của phát ngôn
cũng thay đổi và do đó, hàm ý của phát ngôn không còn giữ nguyên "giá trị"
(Từ Thu Mai, 2000, tr.295).
Chúng ta có thể khẳng định: hoàn cảnh giao tiếp là cơ sở để người nói tạo
lập hàm ý và người nghe hiểu hàm ý thông qua hiển ngôn.
Hoàn cảnh giao tiếp không phải là một khái niệm dễ dàng xác định. Nó
bao gồm rất nhiều nhân tố thuộc những lĩnh vực rất khác nhau (Đỗ Hữu Châu,
Bùi Minh Toán, 1996, trang 222). Hiểu theo nghĩa hẹp thì hoàn cảnh giao tiếp
là văn cảnh, ngữ cảnh nhưng nếu hiểu theo nghĩa rộng thì nó bao gồm toàn bộ
hoàn cảnh xã hội, hoàn cảnh lịch sử và "thế giới" tâm lý mà trong đó, ở trong
một thời điểm nhất định, người ta sử dụng ngôn ngữ. Sự phức tạp của hoàn
chất đặc biệt" của hoàn cảnh giao tiếp khiến nó trở thành cơ sở tạo lập hàm ý
là gì? Phần lớn, các nhà nghiên cứu về ngữ dụng học đều coi "tính chất đặc
biệt" của hoàn cảnh giao tiếp là sự chi phối của tính lịch sự, tế nhị, là sự "giữ
thể diện" cho mình (người nói) và cho người tham gia giao tiếp (người nghe),
thậm chí, giữ "uy tín" cho cả người (hoặc vấn đề) đang được đề cập đến trong
20
phát ngôn. Quan niệm này được thể hiện một cách cụ thể ở kết quả nghiên cứu
của Cao Xuân Hạo. Trong một nghiên cứu của mình, Cao Xuân Hạo (1998) đã
đưa ra "danh sách" các nhân tố chủ yếu đưa đến việc sử dụng hàm ngôn và
hàm nghĩa
(1)
bao gồm:
(1). Những lệ cấm đoán có tính truyền thống (những điều kiêng kỵ
có liên quan đến tín ngưỡng, những phép lịch sự trong cách ăn nói), bài
trừ hoặc khuyến cáo việc sử dụng những từ ngữ sau đây:
(a). Những từ ngữ trực tiếp xúc phạm đến thần linh, trong đó có những
lời thề độc.
(b). Từ "chết".
(c). Tên một số thú dữ đáng sợ.
(d). Tên gọi các bộ phận sinh dục và từ ngữ chỉ hoạt động sinh dục.
(e). Tên gọi các cơ quan bài tiết và các từ ngữ chỉ công năng bài tiết.
(2). Các quy tắc xã giao, trong đó điều liên quan nhiều nhất đến ngôn ngữ
là các yêu cầu tránh áp đặt ý muốn của mình cho người đối thoại và tránh làm
người đối thoại mất thể diện.
(3). Tâm lý không muốn mang tiếng nói xấu, dèm pha hay vu khống
người khác.
(4). Ý muốn trêu chọc, giễu cợt người nghe.
(5). Nhu cầu thẩm mĩ của người tham gia giao tiếp.
Các nhân tố nêu trên thực sự là những lý do đặc biệt khiến người ta phải
dụng hàm ý trong giao tiếp đồng thời là điểm tựa của hàm ý. Thực hiện được
công việc này, không những ta tìm được câu trả lời cho câu hỏi trên mà chúng
ta còn có thể lý giải được vấn đề đang được mọi người quan tâm: Những lý do
nào khiến người ta giao tiếp với nhau bằng hàm ý? Có phải các nhân tố trên
đều tham gia vào quá trình tạo lập và tiếp nhận hàm ý? Ngoài những nhân tố
(lý do) trên, còn nhân tố nào tham gia vào việc tạo lập và tiếp nhận hàm ý?
vv
Xét từng nhân tố mà Cao Xuân Hạo đã kể ra ở trên, chúng ta thấy: Nhân
tố (1) là cơ sở của việc tạo lập những nội dung ngầm ẩn nhất định. Những nội
dung này thường do nghĩa mới của từ tạo nên. Chúng thường mang tính ổn
định (không biến đổi nghĩa sự vật ngầm ẩn theo hoàn cảnh giao tiếp) nên
không phải là hàm ý.
Nhân tố (2) là nguyên nhân dẫn đến sự hiện diện của các phát ngôn có
HVGT, là cơ sở của lối nói giảm, nói vòng Và như vậy, nội dung ngầm ẩn
được rút ra từ các phát ngôn này mang đặc trưng của hàm ý. Các nhân tố
(3),(4),(5) trong số các nhân tố mà Cao Xuân Hạo đưa ra là đáng quan tâm
hơn cả. Có thể nói, các nhân tố này không chỉ thể hiện tâm lý mà còn thể hiện
22
cả nét văn hoá giao tiếp của mỗi dân tộc. Không chỉ khi không muốn mang
tiếng là nói xấu, dèm pha hay vu khống người khác, người ta mới chọn cách
nói có hàm ý để "dễ bề" phủ nhận trách nhiệm của mình mà theo chúng tôi, sự
nể nang, thiếu mạnh dạn trong giao tiếp - đặc biệt là trong trường hợp đưa ra
các ý kiến đánh giá, nhận xét về đối tượng và cả cái tâm lý "một điều nhịn,
chín điều lành", cả vị thế của người tham gia giao tiếp cũng là những "hoàn
cảnh" đặc biệt, là lý do "thúc đẩy" việc sử dụng hàm ý trong giao tiếp.
Hoàn cảnh giao tiếp vốn dĩ đã là một khái niệm không dễ dàng xác định,
việc đi tìm câu trả lời cho câu hỏi "hoàn cảnh giao tiếp nào là lý do sử dụng
phát ngôn có hàm ý và tham gia vào quá trình "hình thành" hàm ý", trong khi
quan niệm về hàm ý vẫn còn thiếu sự thống nhất trong giới nghiên cứu, lại
cảnh nhất định. Nếu thay đổi hoàn cảnh giao tiếp khác thì ý nghĩa này cũng
thay đổi .
Ví dụ 1: (Khách đến chơi nhà hỏi tên của con chủ nhà)
A
1
: - Cháu tên là gì?
B: - Thưa bác, cháu tên là Chi Mai ạ.
A
2
: - Cháu có cái tên thật đẹp. Đừng làm xấu cái tên nhé !
Trong hoàn cảnh giao tiếp này, người nghe có thể nhận ra nội dung ngầm
ẩn của phát ngôn A
2
là: Phải sống tốt, sống đẹp theo đúng nghĩa của cái tên.
Nhưng trong một hoàn cảnh khác:
Ví dụ 2. (Toán thợ xẻ của Bường làm việc trong rừng sâu, gặp một anh
công nhân nông trường đi kiếm củi qua, Bường có ý định nhờ anh gọi xe ô tô
để bán trộm số gỗ đang xẻ. Anh công nhân đồng ý).
A
1
(Bường): - ( ) Bác tên là gì? Em tên là Đặng Xuân Bường.
B (Anh công nhân): - Tôi tên là Trần Quang Hạnh.
A
2
(Bường): - Bác có cái tên thật đẹp. Đừng làm xấu cái tên nhé!
(B: - Được rồi, bốn hôm nữa sẽ có ô tô vào đấy)
(Nguyễn Huy Thiệp," Những người thợ xẻ").
Phát ngôn A
2
ở (2) không còn mang nghĩa ngầm ẩn như ở (1). Trong hoàn cảnh