Luật lao động Việt Nam không chỉ điều chỉnh quan hệ lao động mà ngoài ra, nó
còn điều chỉnh một số quan hệ xã hội liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động. Đó là
những quan hệ phát sinh từ quan hệ lao động, gắn liền với việc sử dụng lao động hoặc
làm ảnh hưởng trực tiếp đến các quan hệ lao động. Theo pháp luật hiện hành, những
quan hệ liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động thuộc đối tượng điều chỉnh của luật
lao động bao gồm:
1, Quan hệ việc làm:
Quan hệ việc làm là quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực giải quyết, đảm
bảo việc làm cho NLĐ trong xã hội. Để thực hiện mục đích này, Nhà nước với tư cách
là người quản lí, định hướng thị trường lao động, phải đề ra và thực hiện chủ trương,
chính sách đúng đắn về việc làm, các thiết chế hỗ trợ cho thị trường lao động được
hình thành, .... Điều đó hình thành nên nhiều mối quan hệ mà chất lượng của nó ảnh
hưởng trực tiếp đến sự hình thành, tính bền vững, ... của quan hệ lao động, tạo điều
kiện cho quan hệ lao động hình thành và đan xen với quan hệ lao động nên được luật
lao động điều chỉnh đồng bộ. Quan hệ việc làm thể hiện ở ba loại chủ yếu sau đây:
- Quan hệ giữa Nhà nước, thông qua các cơ quan chức năng để xác lập và thực
hiện các chính sách việc làm với các công dân, tổ chức được hưởng các chính sách
việc làm đó;
- Quan hệ giữa các trung tâm giới thiệu việc làm, các cơ sở dịch vụ việc làm với
khách hàng;
- Quan hệ đảm bảo việc làm giữa người sử dụng lao động và NLĐ.
2. Quan hệ học nghề:
Sự phát triển của khoa học, kĩ thuật và sự cạnh tranh giữa những NSDLĐ trong
sản xuất, giữa những NLĐ trên thị trường đã đẩy vấn đề họ nghề lên tầm quan trong
mới. Khi đó, quan hệ học nghề được thiết lập. Quan hệ học nghề là những quan hệ
giữa người học nghề và cơ sở dạy nghề với mục đích học nghề để làm việc theo yêu
cầu của thị trường. Quan hệ này vừa có thể là một quan hệ độc lập, vừa có thể là một
quan hệ phụ thuộc quan hệ lao động. Quan hệ học nghề bao giờ cũng phát sinh trên cơ
sở hợp đông học nghề. Việc học nghề phải tuân thủ các quy định của pháp luật lao
động.
3. Quan hệ bồi thường thiệt hại trong quá trình lao động:
quan hệ lao động có thể phát sinh các tranh chấp về quyền và lợi ích. Sự bất đồng đó
làm phát sinh các tranh chấp lao động. Khi không thể tự dàn xếp, các bên sẽ nhờ các
cơ quan có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp cần thiết. Khi đó quan hệ giải
quyết lao động được thiết lập.
Tùy thuộc vào tính chất của tranh chấp và thủ tục cần thiệt mà cơ quan có thẩm
quyền phải áp dụng, quan hệ giải quyết tranh chấp lao động còn có thể do những
ngành luật khác điều chỉnh.
7. Quan hệ giải quyết đình công:
Đình công có thể phát sinh do tập thể lao động không thỏa mãn với quyền và lợi
ích chung hiện có nhưng yêu cầu của họ không được NSDLĐ chập nhận. Khi đó tập
thể lao đông thường sử dụng quyền đình công, biện pháp gây sức ép về kinh tế để thực
hiện được yêu sách về quyền và lợi ích. Trong trường hợp các bên không thể thương
lượng, hòa giải, các cơ quan cs thẩm quyền sẽ đứng ra giải quyết. Quan hệ này không
chỉ phát sinh từ quan hệ lao động mà kết quả quá trình giải quyết đình công còn có thể
tác động đến quan hệ lao động ở mức độ nhất định nên do luật lao động điều chỉnh.
8. Quan hệ quản lí nhà nước về lao động:
Quan hệ về quản lí lao động là quan hệ quan hệ giữa Nhà nước hoặc cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền với các cấp, ngành, doanh nghiệp hoặc NSDLĐ trong việc
chấp hành các quy định của pháp luật về sử dụng lao động. Trong quá trình thực hiện
chức năng quản lý lao động của mình, Nhà nước có quyền kiểm tra, thanh tra, xử lý
các trường hợp vi phạm pháp luật lao động.
Mục đích của quan hệ này là nhằm đảm bảo quyền lợi của các bên trong quan
hệ lao động và lợi ích chung của xã hội, đảm bảo cho các quan hệ lao động đã xác lập
được hài hòa, ổn định, thúc đẩy phát triển sản xuất, do đó quan hệ này là đối tượng
điều chỉnh của luật lao động.