BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
----------------------------
THÁI THỊ LAN ANH
LIÊN KẾT LIÊN TƯỞNG
TRONG THƠ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
TPHCM đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong công tác.
Sau cùng, xin cảm ơn gia đ
ình, bạn bè đã động viên, khích lệ tôi trong suốt quá
trình học tập và thực hiện luận văn.
TPHCM, tháng 11 năm 2010
Thái Thị Lan Anh
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ngôn ngữ là một loại chất liệu đặc biệt không thể thiếu trong quá trình sáng tạo văn chương,
đặc biệt là thơ ca, bởi các tác phẩm văn chương, trước hết, là các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ. Thơ
ca Việt Nam được xem là bức tranh vô cùng phong phú và đa dạng, phản ánh trung thực đất nước,
con người Việt Nam qua bao thời đại. Lời thơ cũng chính là tình cảm chân thành, sâu sắc của các
tác giả. Các tác gi
ả đã sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt tâm tư, tình cảm, nguyện vọng,… của mình. Và
thông qua những hình tượng thẩm mĩ, thơ ca đã thể hiện phong phú và linh hoạt những suy tư, diễn
biến tình cảm và nhận thức của con người. Văn chương là tác phẩm nghệ thuật ngôn từ. Chúng ta
tìm hiểu một tác phẩm văn chương không chỉ ở phương diện viết về cái gì
mà còn ở phương diện
viết như thế nào. Sức sống của những tác phẩm văn chương không thể thiếu những đóng góp ở
phương diện viết như thế nào ấy. Do vậy, việc áp dụng những tri thức ngôn ngữ học nói chung và tri
thức ngôn ngữ học văn bản nói riêng để tìm hiểu văn bản thơ ca là điều rất cần thiết.
Nghiên c
ứu thơ ca từ góc độ ngôn ngữ học, đặc biệt là ngôn ngữ học văn bản cũng là một
hướng nghiên cứu khá mới mẻ. Hiện nay có rất ít công trình nghiên cứu thơ ca theo hướng này.
Chính vì vậy, luận văn của chúng tôi đã đi sâu tìm hiểu vấn đề liên kết liên tưởng trong thơ Việt
Nam. Đây cũng là một trong những cách để đóng góp cho khoa học chuyên ngành.
2. Lịch sử vấn đề
Nhìn chung, cho đến nay
đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về thơ ca Việt Nam. Tuy
Chương 5: Cách tổ chức kép các lượng ngữ nghĩa hay bản chất các phương thức chuyển nghĩa có
tính chất ẩn dụ. Trong chương này, tác giả đã cho rằng “Một văn bản thơ, tuy bao gồm nhiều tín
hiệu riêng lẻ với tư cách là những yếu tố tạo thành của tác phẩm, nhưng bản chất nghệ thuậ
t của
văn bản lại tùy thuộc một cách rất cơ bản vào phương thức liên tưởng của các tín hiệu ấy. Nói cách
khác, nghệ thuật ngôn ngữ trước hết là nghệ thuật tạo những mối liên tưởng giữa các yếu tố riêng lẻ
làm thành tác phẩm nhằm sử dụng một cách mỹ học chiều dày của chất liệu ngôn ngữi”. Chương 6
viết về bản chất c
ủa các phương thức chuyển nghĩa có tính chất hoán dụ. Trong chương này,
Nguyễn Phan Cảnh đã khẳng định “quan niệm tri giác mỹ học như một quá trình, một phạm trù giãn
nở, chú trọng đến tính chất động học của nó, lắp ghép chính là phương thức hướng dẫn sự chú ý và
liên tưởng của người nhận một cách bắt buộc”. Trong chương 7, tác giả đề cập đến vấn đề
nhạc thơ.
Chương 8: Nét khu biệt và nét dư trong ngôn ngữ thơ. Chương 9: Thể loại hay ngưỡng âm tiết. Ở
chương 10, tác giả chỉ tập trung viết về thể loại thơ lục bát. Chương 11 là vấn đề thơ dịch và dịch
thơ. Chương 12 viết về Động học của thi pháp hay sự giãn nở của ngôn ngữ thơ. Có thể nói, công
trình Ngôn ngữ th
ơ của Nguyễn Phan Cảnh là một trong những công trình nghiên cứu thơ ca dưới
góc độ ngôn ngữ học rất có giá trị. Tuy nhiên, do tính chất bao quát, trong công trình này, vấn đề
liên kết liên tưởng vẫn chưa được tìm hiểu kĩ.
Trên tạp chí Ngôn ngữ và đời sống số 5 – 2000 có bài viết “Vầng trăng từ độ…” của Trần
Hoàng [23]. Bài viết này đã đề cập đến những cách biểu đạt vầng tră
ng dựa trên sự liên tưởng. Tác
giả đã khẳng định “sự liên tưởng càng độc đáo càng giàu tính sáng tạo, càng gây được nhiều rung
cảm thẩm mĩ ở người đọc”. Đồng thời, tác giả cũng cho rằng “qua cái liên tưởng ấy, ta hiểu được
tâm hồn và cá tính của nhà thơ”. Rõ ràng, liên tưởng có vai trò rất quan trọng trong thơ ca.
Năm 2006, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội đã ra mắt bạ
n đọc công trình “Những lĩnh
vực ứng dụng của Việt ngữ học” của Nguyễn Thiện Giáp [14]. Công trình gồm có năm chương.
Trong đó, nội dung Việt ngữ học với việc nghiên cứu văn học ở chương 4 đã đề cập đến việc nghiên
ị Việt Thanh
[57] về “Hệ thống liên kết lời nói tiếng Việt”. Đối tượng nghiên cứu của công trình này là ngôn bản,
đề cập khá sâu về những vấn đề chung liên quan đến liên kết lời nói. Tác giả chia liên kết lời nói
thành hai phương thức: phương thức ngữ kết học và phương thức ngữ dụng học. Phương thức liên
kết ngữ kết học lại
được chia thành ba tiểu loại: liên kết duy trì chủ đề, liên kết phát triển chủ đề và
liên kết logic. Nhìn chung, đóng góp chủ yếu của công trình này là nghiên cứu các phương tiện liên
kết trên ngữ liệu lời nói.
Năm 2006, quyển “Văn bản và liên kết trong tiếng Việt” của Diệp Quang Ban [2] được tái
bản (lần thứ ba). Trong công trình này, ở phần 2, tác giả đã đề cập đến “Liên kết trong tiếng Việt”,
trong đó có phép liên tưởng (từ tr. 126-128). Lấy phát ngôn làm cơ sở như Trần Ngọc Thêm, Diệp
Quang Ban cũng chia phép liên tưởng thành bảy kiểu cơ bản như: liên tưởng bao hàm, liên tưởng
đồng loại, liên tưởng định lượng, liên tưởng định vị, liên tưởng định chức, liên tưởng đặc trưng và
liên tưởng nhân quả. Đặc biệt, ở phần một, tác giả đã đưa ra khoảng mười lăm cách hiểu khái niệm
văn bản, phân biệt khái niệm văn bản với diễ
n ngôn, ngôn ngữ nói và viết, đồng thời nêu lên những
đặc trưng về văn bản nói chung.
Năm 2007, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm đã cho ra mắt bạn đọc quyển “Văn bản” của tác
giả Diệp Quang Ban [3]. Công trình tuy khá bao quát các khía cạnh của văn bản, đề cập hầu hết các
phương thức liên kết, nhưng nhìn chung chỉ là sự tổng hợp từ
các công trình đi trước nên những
đóng góp riêng của nó là không đáng kể.
Có thể nói, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về liên kết văn
bản thơ ca Việt Nam, nhất là về liên kết liên tưởng. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu đã trình
bày trên đây là những cơ sở lí thuyết quan trọng, được luận văn vận dụng vào nghiên cứu ở những
mức độ khác nhau.
3. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu vấn
đề liên kết liên tưởng trong thơ Việt Nam với mong muốn tìm hiểu
cụ thể hơn về vấn đề này, đồng thời cũng mong muốn có cái nhìn đầy đủ hơn đối với tác phẩm thơ
Thực hiện đề tài này, người viết mong muốn có sự nhìn nhận xác đáng về liên k
ết liên tưởng, về liên
kết văn bản, và về văn bản với tư cách là một chỉnh thể thống nhất, góp phần làm sáng rõ những giá
trị vốn đã lớn lao của thơ ca Việt Nam, đồng thời góp thêm một hướng nghiên cứu mới cho văn học.
- Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể ứng dụng vào giảng dạy thơ ca Việ
t
Nam trong nhà trường.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm có ba chương. Nội dung
của chương một là cơ sở lí thuyết, bao gồm vấn đề liên kết liên tưởng và đặc điểm liên kết liên
tưởng trong thơ. Ở chương hai và chương ba, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát liên kết liên tưởng
trong thơ của một số tác gia tiêu bi
ểu của thơ ca Việt Nam trong thời kì trung đại và thời kì hiện đại.
Cụ thể, trong chương hai, chúng tôi sẽ khảo sát liên kết liên tưởng trong thơ của Nguyễn Trãi, Hồ
Xuân Hương và Nguyễn Khuyến; trong chương ba, chúng tôi sẽ khảo sát liên kết liên tưởng trong
thơ của Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên và Xuân Quỳnh. Trọng tâm nghiên cứu của luận văn này nằm ở
chương hai và
chương ba.
Chương 1:
LIÊN KẾT LIÊN TƯỞNG VÀ ĐẶC ĐIỂM
LIÊN KẾT LIÊN TƯỞNG TRONG THƠ VIỆT NAM1.1. Liên kết
Theo quan niệm của ngôn ngữ học truyền thống, cả một thời gian dài, phạm vi nghiên cứu
của ngôn ngữ học không bao giờ vượt ra khỏi giới hạn câu. Do các lí thuyết ngôn ngữ học được xây
dựng trong khuôn khổ câu nên càng về sau càng bộc lộ những hạn chế và bất lực trước những nhu
cầu của lí luận và thực tiễn. Đó là:
“Không đủ khả năng giải thích nhiều hiện tượng bi
ểu hiện trong phạm vi câu nhưng lại có
Rõ ràng, cả bảy câu trong đoạn văn trên đều đúng ngữ pháp. Nhưng cả đoạn văn vẫn chưa có
được tính thống nhất, chặt chẽ. Vì thế cho nên, các câu trên chỉ là một chuỗi các câu hỗn độn mà
thôi. Vậy thì cái gì đã làm cho một chuỗi các câu hỗn độn trở thành văn bản? Không thể nghiên cứu
các câu độc lập, chỉ có thể quan sát trên tổng thể văn bả
n thì mới có thể tìm ra câu trả lời.
Hãy xem xét từng câu trong ngữ liệu trên. Câu (1), câu mở đầu giới thiệu về cả hai nhân vật
là Thúy Kiều và Thúy Vân. Thế nhưng, sang câu (2), người viết lại dùng đại từ thay thế là nàng –
vốn dĩ chỉ để thay thế cho ngôi thứ ba số ít. Nên giữa câu (1) và (2) chưa có sự thống nhất với nhau.
Tiếp tục, ở câu (3), lại dùng đại từ thay thế ở ngôi thứ ba s
ố nhiều là họ. Chắc chắn là mọi người
đọc đều hiểu rằng họ ở đây là Thúy Kiều và Thúy Vân. Như vậy, trật tự hợp lí của câu (3) là phải
ngay sau câu (1) vì câu (1) giới thiệu về hai nhân vật này. Câu (3) có một phần nội dung là nói về
cuộc sống của hai nhân vật nên ta phải đưa sống hòa thuận hạnh phúc với cha mẹ ở câu (2) vào để
bổ sung thêm nội dung đ
ó; và có một phần nội dung nói về nét đẹp xinh đẹp tuyệt vời của Thúy Kiều
và Thúy Vân. Vậy nên, các câu tiếp theo phải là các câu lần lượt nói về nét đẹp của hai nhân vật này,
đó là câu (4) và câu (5). Ngoài vẻ đẹp của Thúy Kiều và Thúy Vân, người viết còn muốn nhắc đến
cái tài và số phận của Thúy Kiều. Nên câu tiếp theo phải là câu (2) và phải thay đại từ thay thế nàng
bằng tên nhân vậ
t cụ thể, ở đây là Kiều. Kế tiếp là câu (6) đã bỏ đi từ còn (vì nó không ở trong tình
thế “sóng đôi” với câu phía trước) và câu (7) vẫn nằm ở vị trí sau cùng.
Vì vậy, để cho ngữ liệu đó có thể trở nên thống nhất, chặt chẽ, thì chúng ta phải sắp xếp lại
trật tự các câu, các vế câu và có thể thêm bớt hoặc thay đổi một số từ ngữ mộ
t cách hợp lí. Có thể
viết lại đoạn văn trên như sau:
“(1) Thúy Kiều và Thúy Vân đều là con gái của ông bà Vương viên ngoại. (2) Họ sống êm ấm
dưới một mái nhà, sống hòa thuận hạnh phúc với cha mẹ, cùng có những nét xinh đẹp tuyệt vời. (3)
Vẻ đẹp của Kiều hoa cũng phải ghen, liễu cũng phải hờn. (4) Còn Vân có nét đẹp đoan trang thùy
mị. (5) Kiều là một thiếu nữ
tài sắc vẹn toàn. (6) Về tài thì nàng hơn hẳn Thúy Vân. (7) Thế nhưng
(5) và câu (6) – từ dãy (núi); câu (6) và câu (7) – từ nước ta. Về mặt hình thức, ta thấy các câu trên
có sự liên kết chặt chẽ với nhau, nhưng đó chỉ là liên kết thuần hình thức. Nhìn tổng thể
cả đoạn văn
trên, ta không thấy các câu phối hợp nghĩa với nhau một cách lôgic, bổ sung cho nhau để cùng thể
hiện một nội dung. Nếu với cách hiểu một chuỗi các câu có dấu hiệu liên kết với nhau về hình thức
nhưng không cùng diễn đạt một nội dung nào vẫn được xem là một văn bản thì không thể thuyết
phục được.
Ở giai đoạn hai, khi đã đi sâu vào tìm hiểu nhữ
ng đặc trưng của văn bản, các nhà nghiên cứu
ngày càng chú ý đến vai trò của liên kết ngữ nghĩa. Tuy nhiên, nếu liên kết ngữ nghĩa được xem xét
tách biệt với liên kết hình thức thì sẽ dẫn đến sự tách rời hoàn toàn hình thức khỏi nội dung. Điều
này lại càng khiến cho nhiều cái gọi là “phi văn bản” cũng sẽ trở thành văn bản.
Ví dụ: Phải loại bỏ những cảm tính tùy tiệ
n, phải đấu tranh thay đổi những nguyên tắc lỗi
thời. Có thể sẽ thất bại, nói bao giờ cũng giỏi hơn làm. Làm có khi thành khi bại, tốt hơn không
làm. Chúng ta phải cố tìm ra cách làm tốt nhất, không thất bại.
Các câu trong ví dụ trên rõ ràng là có liên kết nhau về mặt nội dung, nhưng cũng khó để
chúng ta chấp nhận nó là văn bản. Cũng nội dung ấy, nếu thêm vào các phương thức liên kết về hình
thức thì nó sẽ rõ ràng, chính xác và chặt chẽ
hơn nhiều:
Phải loại bỏ những cảm tính tùy tiện, đồng thời cũng phải đấu tranh thay đổi những nguyên
tắc lỗi thời. Có thể sẽ còn thất bại, vì nói bao giờ cũng giỏi hơn làm. Nhưng làm mà có khi thành
khi bại, vẫn tốt hơn không làm. Tất nhiên, chúng ta phải cố tìm ra cách làm tốt nhất, để không thất
bại.
(Nguyễn Mạnh Tuấn, Đứng trước biển)
Do vậy, nên mới xuất hiện khuynh hướng thứ hai khi xem xét vấn đề liên kết ngữ nghĩa. Ở
khuynh hướng này, người ta đòi hỏi văn bản nhất thiết phải có đầy đủ cả liên kết hình thức và liên
kế
t ngữ nghĩa.
Nhìn một cách khái quát, ta thấy rằng tính liên kết của văn bản có hai mặt: liên kết hình thức
- Người mẹ chồng và nàng dâu nhìn nhau. Hai người chợt thấy lẻ loi, cô đơn và
thương nhau lạ lùng.
(Tô Hoài, Khác trước)
Các phép liên kết dùng để duy trì chủ đề gồm có: phép lặp từ vựng, phép thế đồng nghĩa,
phép thế đại từ và phép tỉnh lược.
Lần lượt trong từng ví dụ trên, chủ đề sách và chủ đề tiếng hát được duy trì bằng phép lặp từ
vựng, chủ đề người mẹ chồng và nàng dâu được duy trì bằng phép thế đại từ.
Thứ hai, triển khai chủ đề là cùng v
ới một (hoặc vài) chủ đề đã cho, đưa thêm vào một hoặc
những chủ đề khác nữa có liên quan đến chủ đề ban đầu, theo tiêu chuẩn cần và đủ của lôgic để đảm
bảo cho các câu chứa chúng liên kết được với nhau.
Ví dụ: Những dải nắng mặt trời xuyên qua vòm cây như những sợi tơ năm sắc óng ánh giăng
mắc khắp nơi. Núi rừng đang được
sưởi ấm lại.
(Trần Mai Nam, Vào xuân)
Dải nắng mặt trời ở câu đầu là chủ đề, sưởi ấm ở câu sau là đặc trưng của chủ đề đó.
Các phép liên kết dùng để triển khai chủ đề gồm có: phép liên tưởng và phép đối, trong đó,
phép đối ít được dùng hơn. Trong liên kết chủ đề, các vật được biểu đạt bằng các danh từ, cụm danh
từ xuất hi
ện trong chuỗi câu liên kết nhau (cũng như trong toàn văn bản) đều có khả năng diễn đạt
chủ đề. Các vật, hiện tượng, các tính chất được biểu đạt bằng động từ, tính từ, cụm động từ, cụm
tính từ hay một cụm chủ - vị, cũng có thể diễn đạt chủ đề trong liên kết chủ đề.
Nếu liên kết chủ đề tập trung chú ý vào vật, vi
ệc được nói đến thì liên kết lôgic chú ý trước
hết ở phần nêu đặc trưng của vật, việc được nói đến đó. Như vậy có thể hiểu liên kết lôgic là sợi dây
nối kết hợp lí giữa vật, việc với đặc trưng của chúng trong một câu và giữa đặc trưng này với đặc
trưng kia trong những câu liên kết nhau.
Ví dụ:
(1) Cắm đi một mình trong đêm. (2) Đúng nh
ư báo Đảng nói, đêm nay trời ít mây và có gió
L
I
Ê
N
K
Ế
T
Liên
kết
hình
thức
Lặp
Từ vựng
Ngữ pháp
Ngữ
âm
Đối
Thế đồng nghĩa
Liên tưởng
Tuyến tính
Thế đại từ
Tình lược (yếu/mạnh)
Trần Ngọc Thêm cũng cho rằng “sự liên tưởng là quan hệ giữa hai từ bất kì mà sự xuất hiện
của từ này kéo theo sự xuất hiện của từ kia trong kí ức. Muốn thế, chúng chỉ cần có ít nhất một nét
nghĩa chung, tức là thuộc cùng một trường nghĩa. Đó là liên tưở
ng theo nghĩa rộng”. Tuy nhiên,
khi định nghĩa liên kết liên tưởng là gì thì tác giả Trần Ngọc Thêm lại định nghĩa liên tưởng theo
nghĩa hẹp là “sự liên tưởng giữa hai từ thuộc cùng một trường nghĩa, không có nét đối lập và có
một số ít nét nghĩa chung”. Từ đó, ông đưa ra định nghĩa “phép liên tưởng dựa trên sự liên tưởng
theo nghĩa hẹp, nhưng không chỉ giữa các từ, mà còn giữa các cụm từ. Và không phải giữa một từ
với các từ khác trong kí ức, mà là giữa các ngữ đoạn trong văn bản. Nói chính xác hơn, phép liên
tưởng là một phương thức liên kết thể hiện ở việc sử dụng trong chủ ngôn và kết ngôn những ngữ
đoạn (từ hoặc nhóm từ) có liên quan về nghĩa với nhau thông qua một số nét nghĩa chung và không
chứa nét nghĩa đối lập”. (Theo [66; 122 – 123])
Trong khái niệm trên, ngữ đoạn tham gia phép liên tưởng nằm ở chủ ngôn thì được gọi là chủ
tố, còn ngữ đoạn tham gia phép liên tưởng nằm
ở kết ngôn thì được gọi là liên tố. Tùy theo tính chất
và mối quan hệ giữa hai yếu tố liên kết này mà người ta phân loại được phép liên tưởng. Các yếu tố
liên kết trong phép liên tưởng có thể quy về bảy loại theo ba dạng sau: 1)Động vật (loài người, loài
vật); 2)Tĩnh vật (sự vật, hiện tượng, khái niệm); 3)Hoạt động (hành động, sự việc).
Trong phép liên tưởng, nếu chủ tố và liên tố đều thuộc cùng mộ
t loại sẽ được gọi là liên
tưởng đồng chất; và nếu chủ tố và liên tố không thuộc cùng một loại sẽ được gọi là liên tưởng
không đồng chất. Theo tính chất của mối quan hệ giữa chủ tố và liên tố, phép liên tưởng có thể chia
thành bảy kiểu xếp thành hai nhóm đồng chất và không đồng chất như sau:
Liên tưởng đồng chất Liên tưởng không đồng chất
Liên tưởng
bao hàm
Liên tưởng
đồng loại
Liên tưởng
định lượng
(Chế Lan Viên, Viên kim cương đầu giới tuyến)
- Ban đầu lương thực, khí giới, ch
ăn áo, thuốc men, cái gì cũng thiếu thốn. Bộ đội phải
thường nhịn đói, nhưng vẫn hăng hái tươi cười.
(Hồ Chí Minh, Kỉ niệm ngày thành lập GPQ Việt Nam, 12-1947)
Kiểu liên tưởng bao hàm có độ liên kết mạnh nhất, vì nó dựa trên mối quan hệ biện chứng
giữa cái chung và cái riêng.
1.2.1.2. Liên tưởng đồng loại
Liên tưởng đồng loại là kiểu liên tưởng của những đối tượng đồng chất ngang hàng với nhau,
không phân biệt cái nào bị bao hàm trong cái nào. Chúng đều là cái riêng của cùng một cái chung,
những giống của cùng một loài. Chính nhờ những quan hệ đồng loại đó mà chúng tạo nên sự liên
kết chặt chẽ giữa hai phát ngôn.
- Sự vật: Anh đặt tờ giấy lên mặt vỏ hòm đạn gỗ ở đầu giườ
ng. Hai mắt tròn ra đờ đẫn,
đôi môi dày cộm gồ lên suy nghĩ mà cái quản bút cứ xoay xoay trong miệng chưa đặt xuống viết ra
một chữ.
(Lê Lựu, Người cầm súng)
- Hiện tượng: Mưa vẫn ồ ạt như vỡ đập. Ánh chớp lóe lên soi rõ khuôn mặt anh trong
một giây.
(Nguyễn Kiên, Anh Keng)
- Loài người: Bộ đội xung phong. Du kích nhào theo.
(Nguyễn Thi,
Người mẹ cầm súng)
- Loài vật: Gà lên chuồng từ lúc nãy. Hai bác ngan cũng đã ì ạch về chuồng rồi. Chỉ
duy có hai chú ngỗng vẫn tha thẩn đứng giữa sân.
(Tô Hoài, Hai con ngỗng)
- Khái niệm: Chiều chạng vạng tối. Sợ tối, quân ta tiếp viện đánh ập lại, chúng nó ôm
cả mớ văn chiêu hồi rút lui có trật tự.
(Hồ
Khi liệt kê các số lượng bộ phận bằng một thì nó có thể được thể hiện bằng số từ một
hoặc bằng các danh từ đếm được số đơn. Khi nói từng số lượng bộ phận nói chung thì nó được thể
hiện bằng các từ mỗi, từng. Ví dụ:
Năm đứa chúng tôi như năm con ong thợ.
Mỗi người đều tự giác nhận lấy phận sự của
mình.
(Hoàng Hữu Các, Vẫn còn chùm hoa phượng)
b) Liên tưởng định lượng đối chiếu
Đây là kiểu liên tưởng mà trong đó các số lượng được đối chiếu nhau, thường là theo một
xu hướng nhất định (tăng dần hoặc giảm dần).
Ví dụ:
Cách năm trăm thước, chúng dừng lại, triển khai độ
i hình …[+ 11 phát ngôn].
Ba trăm thước, Nghiêu hơi ghé mắt lên bờ giếng … [+ 22 phát ngôn].
Một trăm thước rồi. Ba nói nhỏ [+ 2 phát ngôn].
Năm mươi thước. Vân ngắt vào đùi Nghiêu một cái … [+ 3 phát ngôn].
Ba mươi thước.
(Nguyễn Trung Thành, Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc)
Đây là ví dụ cho kiểu liên định lượng mà trong đó các số lượng được đối chiếu nhau theo
một xu hướng giảm dần.
1.2.2. Liên tưởng không đồng chất
1.2.2.1. Liên tưởng định vị
Liên kết liên tưởng theo quan hệ định vị là sự liên tưởng giữa một động vật, một tĩnh vật
hoặc một hành động ở vị trí tồn tại điển hình của nó trong không gian (hoặc cả trong thời gian).
Phổ biến nhất là sự định vị cho người, sự vật trong không gian.
Ví dụ:
- Người ta không dắt Nghiêu về đơn vị mà dẫn anh đến trạm xá. Y sĩ
Hoàng xem xét vết
thương kĩ lưỡng.
(Nguyễn Trung Thành, Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc)
1.2.2.2. Liên tưởng định chức
Liên kết liên tưởng theo quan hệ định chức là sự liên tưởng giữa một động vật, tĩnh vật, hoặc
một hoạt động với chức năng điển hình của nó.
Ví dụ:
- Suốt một năm đầu, y là một ông thầy rất tận tâm. Y soạn bài, giảng bài, chấm bài rất
kĩ càng…
(Nam Cao, Sống mòn)
Bên cạnh đó, còn có liên tưởng định chứ
c của hiện tượng.
Ví dụ:
Những dải nắng mặt trời xuyên qua vòm cây như những sợi tơ năm sắc óng ánh giăng mắc
khắp nơi. Núi rừng đang được sưởi ấm lại.
(Trần Mai Nam, Vào xuân)
Phần lớn các trường hợp liên tưởng định chức đều là quan hệ giữa một danh ngữ với một
động ngữ. Tuy nhiên, cá biệt, ta cũng có thể
gặp sự liên tưởng định chức giữa hai danh từ.
Ví dụ:
Trong công tác của tôi, thiếu chiếc đồng hồ chắc thật là tai hại. Đầu óc tôi lúc nào cũng
nghĩ đến chuyện giờ giấc.
(Hữu Mai, Người thợ chữa đồng hồ)
Ngoài ra, cũng có thể nói đến liên tưởng định chức của hai hoạt động.
Ví dụ:
Hai thép rót rượu ra li. Anh nài nỉ mẹ Sáu phải uố
ng một chút.
(Anh Đức, Hòn đất)
Liên tưởng định chức là kiểu liên tưởng phong phú nhất của phép liên tưởng.
1.2.2.3. Liên tưởng đặc trưng
Liên kết liên tưởng theo quan hệ đặc trưng là sự liên tưởng giữa một tĩnh vật hoặc một hoạt
động với dấu hiệu đặc trưng của nó. Khi dấu hiệu làm chủ tố thì sự liên tưởng đặc trưng thiên về
khía cạnh giải thích. Khi dấu hiệu làm liên tố thì sự liên tưởng đặc trưng thiên về khía cạnh chứng
- Trận lụt chưa rút. Nước vẫn mênh mông.
(Nguyễn Quang Sáng, Một chuyện vui)
- Ấm nước reo rồi ấm nước sôi sùng sục. Bà đồ dập bớt lửa rồi chạy ra sân.
(Nam Cao, Đ
ón khách)
- Hà sống rất hồn nhiên. Ngoài việc cơ quan, nó say mê vẽ. Trên tường đầy tranh.
(Triệu Huấn, Ánh sao băng)
Chúng tôi đã vừa nêu sơ lược về các kiểu liên kết liên tưởng dựa trên cơ sở tiếp thu những
thành quả của Trần Ngọc Thêm đã được trình bày trong Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt. Hầu
hết những ví dụ minh họa của Trần Ngọc Thêm đều trích từ các tác phẩm văn xuôi. Và liệu trong
thơ ca Việt Nam còn có thể có kiểu liên kết liên tưởng nào khác so với những kiểu trên hay không?
Chúng ta hãy đến với các ví dụ sau đây:
Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi
Hoa lá ngây tình không muốn động
Lòng em hồi hộp chị Hằng ơi!
(Hàn Mặc Tử, Bẽn lẽn)
Trăng, với Hàn Mặc Tử, như là một người bạn tâm giao, nó đã gợi lên trong thơ ca của Hàn
những sự liên tưởng giàu tính sáng tạo, gây được nhiều rung động thẩm mỹ ở người đọc. Trong
đoạn thơ trên, Hàn Mặc Tử đã có một sự liên tưởng rất độc đáo. Trăng được xem như một cô gái
xuân thì lơi lả. Nhiều động ngữ xuất hiện liên tiế
p nhau để rồi cùng diễn tả cái lơi lả của trăng, của
lá như nằm sóng soãi, lả lơi, ngây tình. Vầng trăng đã gợi niềm thi hứng cho nhà thơ. Có thể thấy,
cơ sở của sự liên tưởng này là dựa trên sự tương đồng.
Ngoài liên tưởng dựa trên cơ sở tương đồng, trong thơ ca, đặc biệt là trong ca dao còn có liên
tưởng phi lôgic. Chẳng hạn như sự liên tưởng trong câu ca dao sau:
Bao gi
ờ chạch đẻ ngọn đa
Sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình
(Ca dao)
liên kết giữa các dòng thơ trong cùng một đoạn (khổ) thơ, hoặc một bài thơ cụ thể nào đó.
Nói đến liên kết trong thơ, tất nhiên không thể không nêu ra khái niệm thơ. Theo định nghĩa
của Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) thì th
ơ là “hình thức nghệ thuật dùng ngôn ngữ giàu
hình ảnh và có nhịp điệu để thể hiện nội dung một cách hàm súc”. (Theo [78; 954]). Khi nói đến
liên kết trong thơ, điều mà người ta nghĩ đến trước tiên là sự liên kết về mặt ngữ âm. Đó là liên kết
“bề nổi” dễ nhận thấy nhất và nó cũng là điều hiển nhiên vì nhịp điệu của thơ ca được tạ
o nên từ
những giá trị mang tính ngữ âm.
Các thể thơ Việt Nam có thể được phân chia thành ba nhóm chính: các thể thơ dân tộc (lục
bát, song thất lục bát và hát nói), các thể thơ Đường luật (ngũ ngôn, thất ngôn), các thể thơ hiện đại
(năm tiếng, bảy tiếng, tám tiếng, hỗn hợp, tự do, thơ – văn xuôi). Sự hình thành luật thơ cũng như
sự vay mượn, mô phỏng và cách tân thơ đều phải dựa trên các đặ
c trưng ngữ âm của tiếng Việt,
trong đó tiếng là đơn vị có vai trò quan trọng. Ngay cả tên gọi các thể thơ cũng căn cứ vào số tiếng của
dòng thơ.
Tiếng gồm có ba phần: phụ âm đầu, vần và thanh điệu. Vần thơ là phần được lặp lại để liên
kết dòng trước và dòng sau.
Ví dụ: Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị
vàng…
(Ca dao)
Mỗi tiếng có một trong sáu thanh điệu: ngang, huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã. Theo truyền thống,
người ta phân chia các thanh bằng (thanh ngang và thanh huyền) và thanh trắc (thanh sắc, nặng,
hỏi, ngã). Sự luân phiên đối xứng và hài hòa của các thanh bằng, trắc tạo nên nhạc điệu cho thơ.
Sự liên kết về ngữ âm thể hiện qua cách hiệp vần, hài thanh, nhịp điệu. Cụ thể, ở
thể thơ lục
bát, chẳng hạn:
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Đêm ngày gìn giữ cho ai đó?
Non nước đầy vơi có biết không?
Bài thơ này có cách hài thanh theo mô hình sau: Tiếng
Niêm và đối
1
2
3
4
5
6
7
Đối
Dòng 1 T B T
Dòng 2 B T B Vần
Đối
Dòng 3 B T B
Dòng 1 T B T Vần
Dòng 2 B T B Vần
Đối
Dòng 3 B T B
Dòng 4 T B T Vần
Đối
Dòng 5 T B T
Dòng 6 B T B Vần
Dòng 7 B T B
Dòng 8 T B T Vần
Luật thơ thất ngôn bát cú rất chặt chẽ; một mặt là luật hài thanh, đối xứng giữa các tiếng hai,
bốn, sáu (có thể theo thể trắc hoặc theo thể bằng); mặt khác, đòi hỏi phải niêm giữa các dòng 2 – 3,
4 – 5, 6 – 7 và 1 – 8. Đây là những quy định giúp ta có thể dễ dàng nhận diện sự liên kết về hình
thức. Về mặt nội dung ý nghĩa, bài thơ chia bố cục thành bốn cặp: hai dòng đầu là đề để vào bài, hai
dòng tiếp theo là thực để giải thích rõ đề, hai dòng kế tiếp nữa là luận để bàn luận, hai dòng cuối là
Niêm Niêm
Niêm
Niêm
Niêm
Niêm
kết để kết bài. Như vậy, thơ Đường luật hết sức chặt chẽ, cũng vì vậy mà rất gò bó cả về mặt hình
thức, nội dung lẫn diễn đạt.
Các thể thơ hiện đại Việt Nam đã tiếp nhận ảnh hưởng của thơ Pháp và đổi mới thơ cũ. Vì
thế, chúng rất đa dạng và phong phú. Chúng vừa tiếp nối thơ truyền th
Trong đoạn thơ trên, ta thấy có sự vận dụng liên kết liên tưởng theo nhiều kiểu khác nhau.
Tây Tiến là đơn vị quân đội hoạt động ở địa bàn rừng núi Tây Bắc cheo leo, hiểm trở. Như vậy, khi
nhắc đến Tây Tiến là nhắc
đến rừng núi, sông Mã. Liên kết liên tưởng trong hai dòng thơ này là liên
kết liên tưởng định vị. Các địa danh Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông lần lượt xuất hiện trong các
dòng thơ là các yếu tố của phương thức liên kết liên tưởng định vị, vì nó chính là nơi mà đoàn quân
Tây Tiến đã từng gắn bó, đồng thời giữa chúng có mối quan hệ ngang hàng với nhau nên chúng
cũng có liên tưởng đồng loại. Vùng đất gắn bó với Tây Tiến lúc nào cũng như ẩn hiện trong sương
mờ, với địa hình rừng núi đầy vẻ hoang sơ, hùng vĩ nhưng cũng không kém phần lãng mạn. Quang
Dũng là nhà thơ có phong cách độc đáo, đọc thơ ông, người ta có thể thấy cảnh vật hiển hiệ
n lên
ngay trước mắt. Và trong đoạn thơ này, Quang Dũng cũng đã phác họa những nét đặc thù nơi đây.
Nhắc đến Tây Tiến là nhắc đến những hình ảnh mang tính đặc trưng của nơi này đêm hơi, dốc khúc
khuỷu, dốc thăm thẳm, cồn mây, mưa xa khơi,…. Như vậy, bên cạnh liên tưởng định vị, liên tưởng
đồng loại, đoạn thơ trên còn có cả liên tưở
ng đặc trưng.
Ví dụ thứ hai là đoạn thơ của Tố Hữu trích trong bài Việt Bắc:
Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng r
ọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.
(Tố Hữu, Việt Bắc)
Đây được xem là một trong những đoạn thơ hay trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu. Đoạn