TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ĐỨC HÒA
\
(CÁC BÀI TẬP LÀM VĂN VÀ
NGHỊ LUẬN XÃ HỘI)
TRƯỜNG THPT ĐỨC HỊA
LỚP 11A1
Đềâ 1 + 2
Trình bày cảm nghó của anh chò về hình ảnh chuyến tàu đêm và tâm trạng của hai đứa trẻ
Thạch Lam xuất hiện trên văn đàn Việt Nam 1930 - 1945 như một làn "gió đầu mùa" tinh
khiết, êm nhẹ. Người đọc văn Thạch Lam cảm nhận được một tình người đằm thắm trong một
giọng văn tha thiết. Cái đẹp tự lan toả, "tiềm tàng trong mọi vật bình thường" khiến cho "lòng
người thêm trong sạch và phong phú hơn". Thạch Lam đã khơi gợi ánh sáng cho những tâm
hồn từ ngay những mảng đời chìm trong bóng tối. Truyện ngắn Hai đứa trẻ - câu chuyện về hai
chị em ở phố huyện nghèo - như một bài thơ thấm đẫm tình người. Thế giới trẻ thơ gợi lại cho
mỗi chúng ta những rung động êm đềm mà sâu sắc, mở ra những suy tư về thân phận con
người.
Trong văn xi Việt Nam những năm 30 của thế kỉ XX, có lẽ khó ai tìm ra được những nét
đẹp tiềm ẩn trong cái bình thường giỏi như Thạch Lam. Các nhà văn Tự lực Văn đồn, những
anh em của Thạch Lam cũng hay nói về cảnh nhà q, người nhà q nhưng đã tước đi vẻ hồn
nhiên tươi tắn chân thực của cuộc sống ấy, thay vào đó là những cái nhìn có phần xa lạ, kẻ cả,
đơi chút khinh miệt. Có lẽ, trong số anh em họ Nguyễn Tường, Thạch Lam là người sống sâu
nặng hơn cả với kí ức tuổi thơ của mình. Trong tâm tư của nhà văn, phố huyện Cẩm Giàng
(Hưng n) và người chị tần tảo đã trở thành chuỗi kỉ niệm đẹp đẽ nhất, khiến cho ơng khi viết
về hình ảnh phố huyện vẫn còn vẹn ngun những ấn tượng sâu đậm của tuổi thơ. Hai chị em
Liên và An chính là những gì Thạch Lam u mến, gắn bó thuở thiếu thời.
Người đọc khơng thể nào qn ấn tượng về một khơng gian phố huyện chuyển dần vào
bóng đêm. Những âm thanh của một ngày sắp tắt cùng với một phương tây cháy rực gieo vào
lòng người nỗi buồn mơ hồ. Một phiên chợ chiều tàn, dăm đứa trẻ nhặt nhạnh những thứ vương
vãi xung quanh chợ khơng chỉ đánh động tình thương củacơ bé Liên đầy lòng trắc ẩn mà còn
khiến chúng ta cũng bồi hồi vì những nét thân thuộc của q hương, một "mủi riêng của đất,
Liên quen lắm, chị không sợ nó nữa". Đó là sự chấp nhận, là thực tế đáng buồn mà Thạch Lam
đã nhận ra từ cuộc sống của hai đứa trẻ. Hoàn cảnh không cho phép hai chị em Liên - An được
sống bình thường như bao đứa trẻ khác, tuổi thơ của những đứa trẻ con nhà nghèo không có
ánh sáng, đang cằn cỗi dần cùng bóng tối. Phải chăng vì vậy mà cô bé Liên dễ động lòng trắc
ẩn trước "mấy đứa trẻ con nhà nghèo", còn An dù thèm nhập bọn cùng đám trẻ con chơi đùa,
nhưng nhớ lời mẹ dặn nên đành ngồi im. Cảnh nghèo dễ khiến tạo ra mặc cảm, dù cho là những
đứa trẻ. Thạch Lam dường như không muốn để cho những cảm giác bi kịch đè nặng lên số phận
những con người nghèo khổ, bằng thái độ trân trọng, ông đã nâng đỡ cho các nhân vật của
mình, vực dậy những khát khao đổi đời ngay trong những khoảnh khắc ánh sáng mong manh
nhất: "Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ
hàng ngày của họ"
"Một cái gì tươi sáng hơn", bản thân họ cũng không hề biết trước, chỉ là những trông
ngóng mơ hồ. Nhà văn không thể chỉ ra "con đường sáng" cho những con người nghèo khổ ấy.
Có lẽ, ông cũng không mơ hồ, ảo tưởng như những cây bút Tự lực Văn đoàn khác như Khái
Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo để mong chờ một thay đổi theo khuynh hướng cải lương, một
tình thương bố thí nửa vời. Ông cũng không trông chờ nhiều vào hoạt động của "Hội Ánh sáng"
do các anh em của ông tổ chức sẽ cải thiện cuộc sống dân nghèo. Bằng trực giác và sự nhạy
cảm của tâm hồn nghệ sĩ giàu yêu thương, Thạch Lam đã phát hiện những nội lực để vươn lên
của con người từ chính nền cuộc sống nghèo khổ. Ông đã diễn giải sâu sắc bằng hình tượng
chuyến tàu đêm ngang qua phố huyện.
Chuyến tàu ấy là hoạt động cuối cùng về đêm của phố huyện, là dịp cuối cùng để cho
những người bán hàng đêm như chị em Liên mong "may ra còn có một vài người mua". Nhưng
vượt lên cuộc sống thường nhật mà nỗi thất vọng lớn hơn niềm hy vọng, là sự háo hức trông
đợi chuyến tàu "mang ánh sáng của một thế giới khác đi qua" để con người không đánh mất
niềm tin vào sự sống . Vì vậy Thạch Lam đã dành những câu văn thật tinh tế để diễn tả cảm
giác đợichờ ở Liên và An. Đặc biệt, cô bé Liên đã chiếm được nhiều cảm tình ở người đọc.
Không chỉ vì Liên là người chị lớn đảm đang, tay hòm chìa khoá của mẹ, vì dẫu cho cô bé Liên
có tự hào về chiếc chìa khoá đeo vào chiếc dây xà tích bạc thì điều ấy chỉ làm người đọc buồn
và thương cảm cho một cô bé sớm già trước tuổi. Điều mà Thạch Lam làm cho người đọc yêu
mến nhân vật chính là khoảnh khắc ông giúp phát hiện vẻ đẹp giàu nữ tính của nhân vật: "Liên
Huyền Kiêu, một người bạn của Thạch Lam đã rất có lí khi cho rằng "Thạch Lam là một
người Việt Nam thành thực nhất", có lẽ bởi nhà văn đã yêu cuộc sống và những con người
nghèo khổ qua những trang văn thấm đượm tình người, những trang văn "rất nhiều Thạch Lam
trong đó". Độ chân cảm từ những trang văn Thạch Lam sẽ còn làm cho nhiều thế hệ người đọc
còn bồi hồi xúc động./.
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP HỌC KỲ I – NGỮ VĂN 11 – CÁC BÀI TLV VÀ NLXH
NĂM HỌC: 2013-2014
4
TRƯỜNG THPT ĐỨC HỊA
LỚP 11A1
Đềâ 1 + 2
Phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam
Truyện của Thạch Lam khơng có chuyện. Truyện "Hai đứa trẻ" cũng vậy. Chỉ có hai đứa
trẻ từ Hà Nội chuyển về một phố huyện nghèo, trơng coi một cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu. Chiều,
hai chị em ngồi trên chiếc chõng tre ngắm cảnh phố xá lúc hồng hơn, rồi đêm đến, tuy đã buồn
ngủ ríu cả mắt, hai chị em vẫn cố thức để đợi xem chuyến tàu đêm từ Hà Nội chạy qua rồi mới
khép cửa hàng đi ngủ. Thạch Lam muốn tránh lối viết tầm thường là hấp dẫn người đọc bằng
cốt truyện li kì, những tình tiết éo le, những cuộc tình mùi mẫn, hoặc là những xung đột gay cấn
hồi hộp. "Hai đứa trẻ" hấp dẫn người đọc bằng chất liệu thật của đời sống. Cách lựa chọn chất
liệu này gần với Nam Cao, Ngun Hồng, Tơ Hồi (các nhà văn hiện thực giàu tính nhân đạo),
lại kích thích người đọc bằng những ước mơ, hồi bão tốt đẹp. Tinh thần lãng mạn ấy gắn với
các nhà văn Nhất Linh, Khái Hưng, Hồng Đạo. Thạch Lam có một lối văn nhẹ như cánh bướm
đậu trên hoa. Bức tranh bằng ngơn ngữ của ơng có thể ví với tranh lụa chứ khơng phải sơn dầu.
Thạch Lam trước sau vẫn là một nhà văn lãng mạn. lãng mạn tích cực, đẹp.
Trong "Hai đứa trẻ" chất lãng mạn và hiện thực hòa quyện với nhau hiện ra trong bức
tranh thiên nhiên của một vùng q vào một buổi chiều ả. Rồi màn đêm dần dần bng xuống
"Một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát " thiên nhiên thì cao rộng thì cao rộng
và thơ mộng. "Phương Tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp
tàn". Nhưng làng q thì đầy bóng tối, thảm hại. "Trong cửa hàng hơi tối, muỗi đã bắt đầu vo
ve". "Đơi mắt Liên, bóng tối ngập đầy dần". "Chỉ thấy lòng buồn man mác trước giờ khắc của
lắt, mù tối trong đêm đen mênh mông của cuộc đời.
Cảnh phố huyện lúc chiều tối như một khúc nhạc buồn mà điệp khúc cứ lặp lại.
Chiều tối nào mẹ con chị Tí cũng lễ mễ dọn hàng, chị em Liên lại kiểm hàng rồi tính tiền,
rồi ngồi trên chõng tre ngắm cảnh. Bác phở Siêu lại gánh hàng và thổi lửa, bác Xẩm lại trải
chiếu, đặt thau. Điệp khúc ấy cứ lặp đi lặp lại đơn điệu, buồn tẻ. Họ cũng lóe lên một chút hi
vọng. Hi vọng là liều thuốc an thần cho những con người khốn khổ ấy. Nhất Linh cũng từng nói
những người dân quê rất nghèo khổ tiền bạc nhưng rất giàu hi vọng hão "chừng ấy người trong
bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ".
Hai đứa trẻ làm sao ý thức rõ rệt được cảnh tù đọng, buồn chán, bế tắc mà chúng đang
sống cũng như về những khát vọng tinh thần mơ hồ của mình. Song với tâm hồn ngây thơ, nhạy
cảm, cô bé Liên cảm nhận thấm thía tuy chỉ là vô thức hiện thực đó, khát vọng đó. Chính vì
khao khát được thoát khỏi cảnh tù đọng mù tối ấy mà chị em Liên đêm đêm cố thức đợi chuyến
tàu đi qua. Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua, một thế giới khác hẳn đối với
Liên, khác hẳn cái vầng sáng của ngọn đèn chị Tí và ánh lửa bác Siêu.
"Hai đứa trẻ" của Thạch Lam không đi sâu miêu tả những xung đột xã hội, xung đột giai
cấp. Ông cũng không để tâm miêu tả những bộ mặt gớm ghiếc của những kẻ bóc lột và khuôn
mặt bi thảm của những kẻ bị áp bức, vì nói cho cũng Thạch Lam là một nhà văn lãng mạn. Ông
phác họa bức tranh phố huyện nghèo, chân thật trong từng chi tiết và trong chiều sâu tinh thần
của nó. Bức tranh làng quê mù xám với những con người nhỏ nhoi đáng thương ấy thấm đẫm
niềm cảm thương chân thành của tác giả đối với những người lao động nghèo khổ sống quẩn
quanh bế tắc, tối tăm. Qua bức tranh ảm đạm của phố huyện và qua hình ảnh của những con
người bé nhỏ với chút hi vọng le lói, ta thấy được mơ ước lớn của nhà văn là muốn thay đổi
cuộc sống ngột ngạt đó cho những con người lao động nghèo khổ.
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP HỌC KỲ I – NGỮ VĂN 11 – CÁC BÀI TLV VÀ NLXH
NĂM HỌC: 2013-2014
6
TRƯỜNG THPT ĐỨC HỊA
LỚP 11A1
Đềâ 3
Phân tích nhân vật Huấn Cao
ngày xử chém. Trước khi bị bắt vào ngục, viên quản ngục đã nghe tiếng đồn Huấn Cao rất giỏi
võ, ơng có tài "bẻ khố, vượt ngục" chứng tỏ Huấn Cao là một người văn võ tồn tài, quả là
một con người hiếm có trên đời.
Tác giả miêu tả sâu sắc trạng thái tâm lí của Huấn Cao trong những ngày chờ thi hành án.
Trong lúc này đây, khi mà người anh hùng "sa cơ lỡ vận" nhưng Huấn Cao vẫn giữ được khí
phách hiên ngang,kiên cường. Tuy bị giam cầm về thể xác nhưng ơng Huấn vẫn hồn tồn tự
do bằng hành động "dỡ cái gơng nặng tám tạ xuống nền đá tảng đánh thuỵch một cái" và "lãnh
đạm" khong thèm chấp sự đe doạ của tên lính áp giải. Dưới mắt ơng, bọn kia chỉ là "một lũ tiểu
nhân thị oai". Cho nên, mặc dù chịu sự giam giữ của bọn chúng nhưng ơng vẫn tỏ ra "khinh
bạc". Ơng đứng đầu goong, ơng vẫn mang hình dáng của một vị chủ sối, một vị lãnh đạo.
ĐỀ CƯƠNG ƠN TẬP HỌC KỲ I – NGỮ VĂN 11 – CÁC BÀI TLV VÀ NLXH
NĂM HỌC: 2013-2014
7
TRƯỜNG THPT ĐỨC HÒA
LỚP 11A1
Người anh hùng ấy dùng cho thất thế nhưng vẫn giữ được thế lực, uy quyền của mình. Thật
đáng khâm phục !
Mặc dù ở trong tù, ông vẫn thản nhiên "ăn thịt, uống rượu như một việc vẫn làm trong
hứng bình sinh". Huấn Cao hoàn toàn tự do về tinh thần. Khi viên cai ngục hỏi Huấn Cao cần gì
thì ông trả lời:
"Người hỏi ta cần gì à? Ta chỉ muốn một điều là ngươi đừng bước chân vào đây nữa thôi"
Cách trả lời ngang tàn, ngạo mạn đầy trịch thượng như vậy là bởi vì Huấn Cao vốn hiên
ngang, kiên cường; "đến cái chết chém cũng còn chẳng sợ nữa là " Ông không thèm đếm xỉa
đến sự trả thù của kẻ đã bị mình xúc phạm. Huấn Cao rất có ý thức được vị trí của mình trong
xã hội, ông biết đặt vị trí của mình lên trên những loại dơ bẩn "cặn bã" của xã hội.
"Bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất". Nhân cách của Huấn Cao quả là trong sáng
như pha lê, không hề có một chút trầy xước nào. Theo ông, chỉ có "thiên lương" , bản chất tốt
đẹp của con người mới là đáng quý.
Thế nhưng khi biết được nỗi lòng viên quản ngục, Húan Cao không nhữg vui vẻ nhận lời
cho chữ mà còn thốt ra rằng :
NĂM HỌC: 2013-2014
8
TRƯỜNG THPT ĐỨC HÒA
LỚP 11A1
nhân vật Huấn Cao, nhà văn Nguyễn Tuân đã thành công trong việc xây dựng nên chân dung
nghệ thuật điển hình lí tưởng trong văn học thẩm mĩ. Dù cho Huấn Cao đã đi đến cõi nào chăng
nữa thì ông vẫn sẽ mãi trong lòng người đọc thế hệ hôm nay và mai sau.
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP HỌC KỲ I – NGỮ VĂN 11 – CÁC BÀI TLV VÀ NLXH
NĂM HỌC: 2013-2014
9
TRƯỜNG THPT ĐỨC HỊA
LỚP 11A1
Đềâ 4
Vì sao nói cảnh cho chữ trong "Chữ người tử tù" là cảnh tượng xưa nay chưa từng có
“Chữ người tử tù” là ánh sáng lung linh nhất, ngời chói nhất, đa màu sắc nhất để tơ điểm
cho tuyệt tác “Vang bóng một thời”.
"Chữ người tử tù” đã thể hiện một bút pháp thật sắc sảo với từng câu văn, nét chữ như chất
chứa cả đai dương ý nghĩa cuồn cuộn dâng trào của nhà văn Ngun Tn.
“Chữ người tử tù” thật sự đi vào lòng người khi Nguyễn Tn đã biết tạo dựng một nhân
vật điển hình. Đặc biệt là ơng đã tạo dựng cảnh Huấn Cao cho chữ “một cảnh tượng xưa nay
chưa từng có”.
Vì sao Nguyễn Tn lại nói cảnh Huấn Cao cho chữ là “một cảnh tượng xưa nay chưa
từng có”? Ngun do thật đơn giản, đó là các bậc nho sĩ ngày xưa “tao nhân mặc khách”, ”bụng
đựng đầy chữ thánh hiền” khi viết chữ hoặc cho chữ phải ở những nơi trăng thanh gió mát, hoa
hương ngào ngạt, ly rượu nồng nàn chếnh chống hơi men… Có như thế thì viết chữ mới hay,
cho chữ mới đáng được thưởng thức và mới đạt đến trình độ thẩm mỹ tuyệt vời. Nhưng ở đây
Huấn Cao cho chữ quản ngục lại vào một phòng giam tối mịt "tường đầy mạng nhện, tổ rệp, đất
bừa bãi phân chuột, phân gián”. Đúng là “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”.
“Một cảnh tượng xưa nay chưa từng có” ấy đã diễn ra vào đêm hơm khuya khoắt, ngay tại
nhà tù. Cảnh đêm bng xuống khơng gian bốn bề chỉ còn văng vẳng tiếng mõ trên vọng canh.
phân chuột cùng với không khí chật hẹp, nền nhà ẩm ướt dần dần mất đi, bởi “cái đẹp là địa hạt
của sự sống”, “cái đẹp đã lên ngôi thay thế cho cái xấu xa, thấp hèn, cái đẹp nâng đỡ con
người”, cái đẹp là mục đích mà con người ta muốn vươn lên. Màu trắng của phiến lụa là tâm
hồn cao khiết của con người; mùi thơm của lọ mực là mùi thơm của tình người, tình đời. Màu
trắng ấy, mùi thơm ấy hội tụ lại thành biểu tượng của cái đẹp, cái thiên lương.
Trong cảnh cho chữ này người ta để ý nhiều tới người tù Huấn Cao “chọc trời, quấy
nước”, nay đã sa cơ, lỡ vận. Nhưng không thể không để ý tới viên quản ngục và thầy thơ lại, đó
là hai con người mới “đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền” biết coi trọng cái đức, mến mộ cái tài,
nhất là tài viết chữ của Huấn Cao. Quản ngục và thầy thơ lại có thể coi đó là tâm hồn của nhà
văn Nguyễn Tuân đang sùng kính cái đẹp, đang khát khao cái đẹp. Huấn Cao, quản ngục, thầy
thơ lại là ba điểm sáng tạc nên một tượng đài, trong đó Huấn Cao là trung tâm: “ba cái đầu
người đang chăm chú nhìn trên tấm lụa bạch”. Ba con người có ba địa vị xã hội khác nhau, giờ
đây họ đang muốn điểm màu, tô son cho cái đẹp lên ngôi thay thế sự phàm tục, nhơ nhuốc bẩn
thỉu.
Cái đẹp, cái cao thượng và sự phàm tục, nhơ nhuốc, hai cái đó đối lập nhau trong một hoàn
cảnh. Nguyễn Tuân đã cùng thủ thỉ ném cùng một lúc hai cái đó vào nhà giam tạo ra sự mâu
thuẫn cực độ. Từ đó làm bật lên bản chất cái đẹp, cái cao thượng. Nhất là Huấn Cao chỉ ngày
mai thôi sẽ bị giải về kinh, rồi phải bước lên đoạn đầu đài, nhưng ông vẫn ung dung lắm, vẫn
nghệ sĩ lắm. Ông nhận xét về mùi hương của thoi mực đúng là của một con người “bần tiện bất
năng duy, uy vũ bất năng khuất”: ”Thoi mực thầy mua ở đâu tốt và thơm quá. Thầy có thấy mùi
thơm của lọ mực bốc lên không?”… Ôi cái mùi thơm của thoi mực ấy nó ngào ngạt lan tỏa như
“Dạ lan thơm nức lạ lùng – Tưởng như đi mãi không cùng mùi hương”. Đó là mùi thơm danh
tiếng của Huấn Cao vẫn còn ngào ngạt đến muôn đời. Nhà tù ở đây đã không còn là nhà tù nữa
mà nó đã trở thành nơi chứa đựng mùi thơm tho của thiên lương con người.
Trước cái đẹp đang lên ngôi thì Huấn Cao “cổ đeo gông, chân vướng xiềng đang đập đập
tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng phẳng”, đó là thái độ uy nghi, đường hoàng, một thái độ
của “hùm thiêng” khi đã “sa cơ” mà chẳng hèn chút nào. Thái độ ấy, đúng là “Thân thể ở trong
lao - Tinh thần ở ngoài lao”. Cái chết đang tiến lại gần, nhưng người tù Huấn Cao vẫn nói về sự
sống, hướng về cái đẹp, cái thiện của đời. Do đó nhà tù chỉ còn là để cho Huấn Cao thể hiện
thêm khí phách của một người anh hùng mà thôi. Cũng chính vì thế mà người tù ở đây đã hóa
đúng là câu nói của một con người có văn hóa và biết tôn sùng cái đẹp. Cái vái của quản ngục
cũng là cái vái của Nguyễn Tuân trước cái tâm, cái đẹp, cái tài danh mà ông tôn sùng. Cái vái
ấy thật giống với cái vái của Cao Chu Thần trước vẻ đẹp của hoa mai:
“Nhất sinh đê thủ bái hoa mai”
(một đời chỉ biết cúi lạy trước vẻ đẹp của hoa mai).
Cảnh Huấn Cao cho chữ được Nguyễn Tuân khắc họa đạm nét. Ở đây không phải là cảnh
cho chữ bình thường nữa, mà đó đã trở thành cảnh thọ giáo thiêng liêng của người cho chữ và
người nhận chữ. Lời khuyên dạy của Huấn Cao chắc khác chi một chúc thư về lẽ sống cảu đời
người trước khi ông đi vào cõi bất tử. Với lời khuyên đầy tình người ấy đã có sức mạnh mãnh
liệt cảm hóa tâm hồn con người bấy lâu đã cam chịu nô lệ nay nhận ra trở về với thiên lương.
Tóm lại, cái phí phách tinh thần bất khuất đã chiến thắng một cách vang dội trước thái
độ cam chịu nô lệ.
Với bút pháp lãng mạn, nghệ thuật đối lập đòn bẩy và cách xây dựng nhân vật đầy cá tính
đi đôi với cách tạo cảnh hấp dẫn được nhà văn Nguyễn Tuân triệt để khai thác trong toàn bộ
truyện ngắn “Chữ người tử tù” cũng như cảnh Huấn Cao cho chữ ở cuối truyện. Với bút pháp
ấy, nghệ thuật ấy nhà văn muốn ca ngợi cái đẹp, cái cao thượng, cái phí phách đường hoàng của
tinh thần bất khuất cùng với lương tâm trong sáng của con người.Những vẻ đẹp ấy xứng đáng
là những tia sáng cho muôn đời soi vào mà noi theo. Mọi người chúng ta hãy hướng về tia sáng
đó thì nhất định bóng tối sẽ ngả về phía sau.
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP HỌC KỲ I – NGỮ VĂN 11 – CÁC BÀI TLV VÀ NLXH
NĂM HỌC: 2013-2014
12
TRƯỜNG THPT ĐỨC HỊA
LỚP 11A1
Đềâ 5
Phân tích nhân vật Chí Phèo
Bài 1
Trong đề tài viết về người nơng dân,Nam Cao là người đến muộn, trước đó đã sừng sững
những Nguyễn Cơng Hoan, Ngơ Tất Tố.Nhưng với một cảm quan hiện thực sắc sảo,với một
tấm lòng nhân đạo cao đẹp và tài năng nghệ thuật độc đáo, Nam Cao đã vượt qua những thử
Anh nơng dân hiền lành ấy đã từng mơ ước một cuộc sống hạnh phúc giản dị. Tuy còn trẻ
nhưng anh đã phân biệt được tình u chân chính với thói dâm dục xấu xa. Thế nhưng bản chất
trong sáng, lương thiện của người nơng dân trong Chí Phèo đã bị bọn cường hào và nhà tù thực
dân hợp sức bóp chết.
Trở về làng trần trụi giữa bầy sói, Chí Phèo khơng thể hiền lành mà muốn sống thì phải
cướp giật, ăn vạ, phải đâm chém. Muốn thế phải liều lĩnh, phải có gan. Những thứ ấy Chí Phèo
tìm ở rượu. Rồi Chí ln say, mà đã say thì hắn làm bất cứ điều gì người ta sai hắn làm. Chí
ĐỀ CƯƠNG ƠN TẬP HỌC KỲ I – NGỮ VĂN 11 – CÁC BÀI TLV VÀ NLXH
NĂM HỌC: 2013-2014
13
TRƯỜNG THPT ĐỨC HÒA
LỚP 11A1
Phèo đã gây tội ác trong khi say một cách vô ý thức. Linh hồn của y đã bán cho quỷ dữ mất rồi.
Chí Phèo là người đau khổ tủi nhục nhất trên đời. Chị Dậu của Ngô Tất Tố phải dứt ruột để bán
con nhưng chị còn có gia đình, còn có tổ ấm để mà tồn tại. Chí Phèo không có gì đành phải bán
cái nhân tính của mình để mà sống. Mà Chí lại bán rất rẻ mạt. Mỗi lần chỉ 5 hào bạc để uống
rượu mà thôi. Vì bán nhân phẩm như thế Chí Phèo đã bị tha hóa. Đáng lẽ phải đứng về hàng
ngũ những người lương thiện, thì Chí lại trơ thành mối đe dọa của họ; đáng lẽ phải đối đầu vơi
Bá Kiến thì Chí lại trở thành chỗ đầy tớ chân tay tin cậy của y.
Qua đó Nam cao đã vạch trần một quy luật đau xót, nghiệt ngã của chế độ cũ: gặp phải kẻ
thù xảo quyệt, nếu không tỉnh táo thì con người lương thiện bị biến thành đối ngược với đồng
loại của mình. Người đọc khó có thể quên cái dáng đi ngất ngưỡng, cái bộ mặt cương cương,
vằn ngang, vằn dọc và "đôi mắt gườm gườm trông gớm chết" của Chí Phèo. Cái xã hội tàn nhẫn
ấy đã hủy hoại một cách sâu sắc và toàn diện con người chí Phèo.
Sự xuất hiện của Thị Nở đã chia đôi cuộc đời Chí Phèo: Ở chặng đầu Chí bị tha hóa mà
không biết. Gặp Thị Nở rồi, Chí bắt đầu có ý thức về sự tha hóa, về việc trượt quá xa loài người
của mình. Lúc này, bi kịch tinh thần ở Chí mới xuất hiện. Cuộc gặp gỡ đã lóe sáng như một tia
chớp trong chuỗi ngày tăm tối giằng giặc của Chí Phèo. Thị Nỏ với một tình yêu thô lỗ nhưng
rất chân thành đã gợi lên bản chất con người vốn từ lâu bị vùi lấp trong lòng Chí. Từ đây mà
Chí Phèo mới biết có một người thương mình. Lần đầu tiên trong đời, Chí mới được ăn một bát
LỚP 11A1
khi thể hiện cái chết ấy, Nam Cao cũng bộc lộ phần hạn chế trong tư tưởng của mình. Đó là hạn
chế về thế giới quan của nhà văn, điều đó cũng có nghĩa bản thân nhà văn Nam Cao cũng tột
cùng bế tắc trong thời kì trước Cách mạng tháng Tám.
Thông qua số phận bi thảm của Chí Phèo, nhà văn Nam Cao đã lên tiếng tố cáo mãnh liệt
cả guồng máy xã hội thực dân nửa phong kiến đương thời đã đè nghiến, hủy hoại con người
một cách triệt để. Đồng thời qua Chí Phèo, nhà văn cũng bộc lộ một chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc
khi đồng cảm với bi kịch đau xót ở lớp người như Chí, khi nhìn thấy tia sáng lương thiện hồi
sinh ở nhân vật này. "Chí Phèo" xứng đáng là hình tượng văn học bất hủ, vô cùng độc đáo và
có ý nghĩa khái quát sâu rộng này./.
Bài 2
Là một nhà văn luôn băn khoăn trăn trở về cách sống và cách viết, Nam Cao đã
từng tuyên ngôn “Sống đã rồi hãy viết”.Một nhà văn muốn viết được nhân đạo
trước hết phải sống cho nhân đạo bởi cuộc đời quyết định đến văn chương.Nam
Cao luôn nhìn đời bằng đôi mắt của tình thương , đôi mắt của lòng nhân ái. Với
cách nhìn đời này, Nam Cao bắt đầu cầm bút sáng tác.Trước Cách Mạng, Nam Cao
viết về hai đề tài, đè tài người nông dân và đề tài người trí thức tiểu tư sản. Ở đề tài
nông dân hay nhất, tiêu biểu nhất phải kể đến sáng tác đầu tay của Nam Cao, tác
phẩm Chí Phèo.Linh hồn của câu chuyện là nhân vật cùng tên được nhà văn miêu tả
với một tấn bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người:Sinh ra là người nhung không được
làm người, cả đời khao khát lương thiện ,cuối cùng trỏ thành kẻ bất lương.Thông
qua bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của hắn nông dân Chí, ngòi bút Nam Cao
bộc lộ là một ngòi bút nhân đạo, nhân văn, sâu sắc và cao cả.
Người ta thường nói bi kịch là một hoàn cảnh bi thảm, bi thương,bi đát nào đó,
điều này không chính xác.Bi kịch vốn được hiểu là những khát vọng chân chính,
cháy bỏng, mãnh liệt của một con người nhung không có điều kiện thực hiên trên
thực tế, cuối cùng người mang khát vọng bị rơi vào kết cuc của một thảm kịch. Bi
kịch là cuộc đáu trhắn dai dẳng, không khoan nhượng giữa thiện và ác, giữa ánh
sáng và bóng tối, giữa cao thượng và thấp hèn, giữa chính nghĩa và phi nghĩa.Trong
cuộc sống thường ngày, thương nhật, bi kịch không diễn ra giữa các lực lượng xã
và trọng dhắn dự.Làm hắn chắn điền cho nhà lí Kiến, rồi một lần bị bà Ba Kiến gọi
lên bóp chân,Chí Phèo chỉ thấy nhục, thấy sợ .Trái tim của Chí Phèo hai mươi tuổi
đau còn là gỗ đá, Chí Phèo đã nhận thức đượcđâu là tình yêu chân chính, đâu là thói
dâm ô. Bị gọi “đấm bóp cho bà 3 quỷ quái hắn chỉ thấy nhục chứ yêu đương gì”.
Như vậy, rõ ràng, đến đây ta có thẻ khẳng định hắn là một người nông dân thuần
hậu, là người trong sáng và trọng dhắn dự nhưng xã hội ấy không cho Chí Phèo
sống yên ổn với bản tính nông dân thuần hậu của hắn.Chí Phèo đang sống trong cái
xã hội mà “Kiếp người cơm vãi cơm rơi- Biết đâu nẻo đất phương trời mà đi.”,
trong cái xã hội mà cạm bẫy người giăng giăng như mắc cửi thì những ngời hiền
lành như Chí Phèo bao giờ cũng phải chịu thiệt thòi.Vì một cơn ghen bóng gió,Chí
Phèo đã bị Bá Kiến tống vào ngục tù, con người xảo quyệt này sẵn sàng chà đạp lên
cuộc đời người khác không thương tiếc, không ghê tay.Bắt đầu từ đây, Chí Phèo
chuyển sang một trạng thái khác, một cuộc sống khác.Nhân đây cũng phải nói qua
cái nhà tù, đây là nhà tù thực dân, đồng loã với lão Bá tha hoá Chí Phèo.Nhà tù này
có bản chất xã hội trái hoàn toàn với bản chất xã hội của một nhà tù mà loài người
đang mong đợi.Nhà tù này chỉ thu nạp tù nhân khi hắn ta còn lành như cục đát, vào
nhào năn, đào tạo đến khi thánh con quỉ dữ thì thả họ ra.Nhà tù này tiếp tay cho lão
Bá tha hoá Chí Phèo, nhà tù này đã biến hắn Chí “lành như cục đất” giờ đây ra tù…
hãy nghe Nam Cao mô tả diện mạo của CChí Phèo lúc ra tù:”Caí đầu cạo trọc lốc,
cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm,
ngực và tay chạm trổ đầy những hình rồng phượng, có cả một ông tướng cầm
chuỳ.Trông Chí Phèo đặc như một tên săng đá”.Hình ảnh này đã làm tái hiện một
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP HỌC KỲ I – NGỮ VĂN 11 – CÁC BÀI TLV VÀ NLXH
NĂM HỌC: 2013-2014
16
TRƯỜNG THPT ĐỨC HÒA
LỚP 11A1
Chí Phèo khác hoàn toàn, thay thế hắn nông dân thuần hậu ngày xưa giờ đây là một
Chí Phèo sinh ra làm người nhưng không được làm người, hiền lành chân chất là
thế giờ dây trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại.
1 thứ ngon như thế. Hơn nữa muốn có cơm ăn, rượu uống chí phải dọa, cướp giật.
lần đầu tiên có người tự nguyện cho hắn ăn, đặc biệt hơn đó lại là đ/bà nên con quỹ
dữ đã mềm ra thành từng giọt nước mắt. Cùng với những giọt nước mắt là Chí nghe
được tiếng chim hót b/sáng, tiếng gõ mái chèo của người thuyền chày đuổi cá trên
sông, tiếng trò chuyện của những người đi chợ sớm. Cái đẹp của tự nhiên, c/đẹp
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP HỌC KỲ I – NGỮ VĂN 11 – CÁC BÀI TLV VÀ NLXH
NĂM HỌC: 2013-2014
17
TRƯỜNG THPT ĐỨC HÒA
LỚP 11A1
của l/đ chứa chan tình người, tất cả thật đ/sơ nhưng cũng thật gần gủi thân thiết,
những âm thhắn này ngày nào cũng có nhưng đây là l/đầu tiên chí cảm nhận được.
Giọt nước mắt của chí cùng những âm thhắn b/sáng đã làm nên 1 CP khác hẳn, có
nghĩa là hắn chắn điền l/thiện năm nào đã sống lại. Đây là lần đ/tiên Chí tỉnh và lần
đ/tiên nhận thức được t/lỗi, sự ân hận muộn màng nhưng dù sao cũng đáng ghi
nhận. Đó là biểu hiện của sự làm lành “hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao”
Chí m/muốn được mọi người bỏ qua cho tất cả. Thị Nở sẽ giúp hắn làm loại từ đầu,
niềm khát khao mới người làm sao!.
TY của TNở làm cho hắn thức tỉnh và mở đường cho hắn trở lại làm người,
nhưng thật trớ trêu, bà cô TNở đã đóng sầm cánh cửa lại, bà không cho cháu bà “đi
lấy 1 thằng ăn vạ”. Cách nhìn của bà cũng chính là cách nhìn của Làng VĐ, linh
hồn của Chí vừa trở về thì bị cự tuyệt, không ai nhận ra. K/vọng của Chí đã bị đã bị
xh từ chối, điều này cũng dễ hiểu vì xh quen nhìn Chí trong bộ dạng quỹ dữ, k/thể
chấp nhận một CP hiện lên với tư thế con người.
Sự từ chối của xh đầy định kiến, xh không độ lượng bao dung đón đứa con lạc loài
trở về v/tay cộng đồng, hoàn cảnh đặt Chí trước 2 con đường để l/chọn: “hoặc sống
làm q/dữ hoặc chết để k/định g/trị làm người”. Thực chất Chí chỉ có 1 con đường để
đi, khi g/trị làm người thức tỉnh thì chí không thể làm quỹ dữ, đó chính là bi kịch
thân phận con người không được quyền làm người.
Sự từ chối của TNở đã đóng sập cánh cửa hoàn lương của Chí. Lúc này hắn đã
nông thôn trước Cách mạng tháng Tám. Mang đậm giá trị tố cáo rất cao, lên án giai
cấp pk thống trị tha hoá, những bị kịch như vậy sẽ còn tiếp diễn
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP HỌC KỲ I – NGỮ VĂN 11 – CÁC BÀI TLV VÀ NLXH
NĂM HỌC: 2013-2014
19
TRƯỜNG THPT ĐỨC HỊA
LỚP 11A1
NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
Đềâ 1
Tác dụng của việc đọc sách
Bạn có bao giờ thấy ngại ngùng khi đứng trước đám đơng? Bạn có bao giờ run lẩy bẩy
khơng biết diễn đạt được ý của mình như thế nào trước mọi người? Bạn có bao giờ nói vòng vo
1 vấn đề mà cố gắng giải thích mà mọi người khác vẫn khơng sao hiểu nổi? Vậy điều trước tiên
bạn hãy đọc thật nhiều sách nha.Đọc nhiều sách sẽ giúp tăng cường khả năng giao tiếp của bạn
đó. Đọc sách thực chất là một q trình giao tiếp, khi đó tác giả quyển sách và bạn là những
nhân vật tham gia giao tiếp. Chỉ có điều q trình giao tiếp này diễn ra 1 chiều, những vấn đề
tác giả nói đến đi sâu vào trí não và hình thành tư duy ở bạn thế nhưng những suy nghĩ của bạn
tác giả khơng hề biết được nếu bạn khơng viết thư hay gọi điện thoại phản hồi. Q trình giao
tiếp này giúp các bạn hiểu vấn đề, biết cách trình bày vấn đề theo chiều hướng triển khai hay
khái qt hợp lý, cách lý luận hay dùng dẫn chứng chứng minh cho một luận điểm nào đó. Đọc
sách một thời gian lâu, bạn sẽ biết trình bày vấn đề một cách khúc chiết, mạch lạc, sng sẻ, có
đầu có đũa gọn gàng dễ hiểu.Đọc sách còn giúp rèn luyện năng lực tưởng tượng, liên tưởng,
sáng tạo: Sách được viết bằng hệ thống ngơn ngữ, cụ thể là các chữ viết được nối kết liên tục
với nhau tạo thành câu, dòng, đoạn, bài… Từ ngữ được dùng ln có nghĩa, và nét nghĩa đó lại
được quy chiếu vào các sự vật tương ứng trong cuộc sống. Thí dụ nói đến ‘tĩnh vật’ chúng ta
nghĩ đến một loạt các đồ dùng hay cây trái được đặt trong trạng thái n tĩnh, nói đến ‘quỹ đạo’
chúng ta nghĩ đến tập hợp những điểm tạo nên một con đường khép kín dành cho sự chuyển
động của một thực thể nào đó, hoặc nói đến ‘hoa mai’ chúng ta nghĩ đến loại hoa nhiều cánh,
nở vào mùa xn, đẹp và mọi người thích thưởng thức… Như vậy, q trình đọc sách thực chất
cũng là một q trình quan sát các sự vật và hiện tượng trong cuộc sống thực mà chữ viết được
Đạo đức,vì tiền đó đưa bạn đến sự an lạc và giải thốt.Tuy nhiên, có điều gì đó rất mâu thuẫn
về điều này. Nếu tiền bạc khơng mang lại hạnh phúc thì tại sao tất cả chính phủ các nước tại tập
trung vào việc tăng thu nhập quốc dân theo đầu người? Tại sao rất nhiều người trong chúng ta
gắng sức để kiếm nhiều tiền hơn nếu tiền bạc khơng làm chúng ta hạnh phúc hơn? Có lẽ câu trả
lời nằm ở bản chất của chúng ta là con người có mục đích. Chúng ta phải làm việc để kiếm ăn,
tìm bạn đời và ni dạy con. Tích lũy tiền đến một mức nào đó mang lại một sự bảo đảm cho
những thời kỳ khó khăn. Tiền cũng là một cách thức đo độ thành cơng của chúng ta. Và tiền là
một mục tiêu chúng ta cầu viện đến khi chúng ta chán làm bất cứ việc gì và khơng thể nghĩ ra
lý do nào khác để làm việc. Kiếm tiền khiến chúng ta phải làm gì đó để cảm thấy mình có ích
khi chúng ta khơng biết rõ tại sao chúng ta đang làm việc.
Đềâ 3
Bệnh vô cảm của thanh niên ngày nay
Ngun nhân dẫn đến căn bệnh khó chữa này bắt nguồn từ chữ “Sợ”: Sợ liên lụy, sợ
chuốc họa vào thân, sợ gặp phải phiền phức v…v… đã khiến cho mọi người xung quanh nhất là
giới trẻ hiện nay trở nên vơ cảm. Họ khơng còn quan tâm hoặc thích thú với những hoạt động,
những sự kiện trong đại, những vấn đề quan trọng của cộng đồng, của xã hội, của đất nước. Họ
tự tạo ra một cái hang để chui rúc vào đó, và tách biệt bản thân với xã hội. Vì đơn giản họ chỉ
muốn được sống cho riêng bản thân mình, cho lợi ích của mình, khơng phải lo âu về những
phiền tối của người khác.Ngun nhân thứ hai dẫn đến căn bệnh vơ cảm này chính là sự kích
động tinh thần của thế hệ trẻ khi xem phim hành động hay chơi game – trò chơi bạo lực đã làm
cho con người trở nên sắt đá, tính tình nguội lạnh , chẳng còn cảm giác hay suy nghĩ gì về
những điều xung quanh mình.v v. Các bạn có thể dễ dàng nhận thấy ngày nay khi ra đường nếu
khơng may gặp phải cướp giật mà có la thật to, thật lớn kêu cướp thì mọi người xung quanh
cũng chỉ đứng nhìn và ít khi nào có một “hiệp sĩ đường phố” đứng ra bắt cướp và giúp đỡ bạn.
Cũng có những trường hợp té xe hay tai nạn trên đường mọi người đi đường xung quanh nhìn
thấy, họ ngối đầu nhìn, họ chỉ trỏ và họ quay lưng đi. Ngay cả trên các trang mạng xã hội, khi
có một ai đó khơng may qua đời, hay những sự việc nào đó khơng vui xảy ra thì các bạn trẻ còn
sẵn sàng lập ra những fanpage đại loại như là: 1000000 like cho ca sĩ X sống lại, hay là
1000000 cho A và B quay lại với nhau? Liệu chỉ một cái nhấp chuột có thể cải tử hồn sinh, và
chỉ một cái nhấp chuột có thể hóa giải mọi thứ, biến xấu thành tốt? Tất cả chỉ vì lợi ích của bản
khắp mọi nơi. Hạnh phúc là cảm giác vui vẻ, sung sướng hay đơn giản chỉ là sự thanh tịnh
trong tâm hồn. Chính vì mà tình thương u và hạnh phúc ln tồn tại trong nhau.Xã hội ngày
nay ln bận rộn trong guồng máy cơng việc, con ngừoi ln phải chạy đua với thời gian,
nhưng khơng vì thế mà tình thương u giữa người và người bị mất đi. Ở đâu đó vẫn còn rất
nhiều những tấm lòng chan chứa u thương ln rộng mở. Có rất nhiều bạn học sinh, sinh viên
tham gia các chiến dịch “Mùa hè xanh”, "Hoa phượng đỏ" để giúp đỡ những người kém may
mắn.Các bạn khơng quản khó khăn để mang con chữ đến cho các bạn vùng sâu vùng xa.Hay
như bản thân chúng ta, khi trung thu đến ta vẫn thường qun góp lồng đèn giúp các em nhỏ
vui tết Trung thu. Tất cả những điều đó đã phần nào chứng minh cho tình u ln hiện hữu ở
tất cả mọi nơi. mặt khác tình thương còn là tấm lòng người mẹ, ngừoi cha, người ơng, người bà,
… đối với con cháu. Họ cả đời lo lắng, chăm sóc, dành những gì tốt nhất cho người thân u.
Thế đấy, sự thương u mn màu mn vẻ với mn nghìn sự thể hiện. Nó tồn tại ở khắp mọi
nơi và trong nhiều mối quan hệ từ bạn bè, gia đình đến xã hội.Thế nhưng tấm huy chưong nào
cũng có mặt trái của nó, tình u cũng vậy. Nếu chúng ta khơng đặt đúng chỗ, khơng mang đến
cho những người cần thì nó sẽ trở thành một tác nhân xấu cho gia đình và xã hội. Ví như một
người mẹ thì lúc nào cũng u thương con nhưng nếu người mẹ đó lầm tưởng rằng u thương
là cưng chiều thì sớm muộn đứa con ấy sẽ trở nên hư hỏng vì chúng cho rằng chúng là
nhất.Khơng những thế, cuộc đời mn hình vạn trạng, có người tốt cũng có kẻ xấu. Tuy xã hội
có rất nhiều người tình u thương vơ bờ đối với mọi người xung quanh nhưng cũng tồn tại
những kẻ ích kỷ.Những người đó chỉ biết cuộc sống của mình, họ khơng quan tâm đến bất cứ
ĐỀ CƯƠNG ƠN TẬP HỌC KỲ I – NGỮ VĂN 11 – CÁC BÀI TLV VÀ NLXH
NĂM HỌC: 2013-2014
22
TRNG THPT C HềA
LP 11A1
ai. H khụng h bit rng cuc i l tp hp ca rt nhiu s phn may mn, bt hnh. Vỡ vy
nhng s phn may mn cn dang rng vũng tay yờu thng giỳp nhng s phn bt
hnh, giỳp h vt qua khú khn ca cuc i.Trờn th gian ny, khụng cú v thn no p hn
thn mt tri, khụng cú ngn la no p hn ngn la yờu thng. Chỳng ta hóy m rng cỏnh
ca trỏi tim, m rng tm lũng yờu thng, mang tỡnh yờu n vi mi ngoi. Vỡ nh ta khụng