VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VÕ HỮU PHƯỚC
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG MÔ HÌNH “LIÊN KẾT
BỐN NHÀ” VÀO THỰC TIỄN SẢN XUẤT NÔNG
NGHIỆP NÔNG THÔN TỈNH TRÀ VINH
Chuyên ngành: KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Mã số: 62 31 01 50
LUẬN ÁN TIẾN SĨ: KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Trần Đình Thiên
2. TSKH. Trần Trọng Khuê
HÀ NỘI, năm 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu trong luận án đều được trích dẫn nguồn trung thực. Những
kết luận khoa học của Luận án chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình
nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
VÕ HỮU PHƯỚC
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ………………………………
1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài ………………………………………………
1
1.2. Tổng quan tài liệu ………………………………………………………
3
1.3. Mục tiêu nghiên cứu …………………………………………………
11
1.4. Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu………………………….
3.2.2. Quy trình tổ chức sản xuất kinh doanh sản phẩm trồng trọt có qua
chế biến phát sinh các nhu cầu liên kết …………………………………
58
3.2.3. Quá trình tổ chức sản xuất kinh doanh sản phẩm trồng trọt không qua
chế biến phát sinh các nhu cầu liên kết ………………………………
59
3.2.4. Quá trình tổ chức sản xuất kinh doanh sản phẩm chăn nuôi phát sinh
các nhu cầu liên kết ………………………………………………. ….
.61
3.2.5. Hoạt động sản xuất kinh doanh theo quy trình trên đã phát sinh các
nhu cầu liên kết……………………………………………………… 62
3.3. Thực trạng các nội dung liên kết “bốn nhà” thực hiện trong sản xuất
nông nghiệp tỉnh Trà Vinh ……………………………………………
65
3.4. Đánh giá thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với liên kết
“bốn nhà” trong sản xuất nông nghiệp tỉnh Trà Vinh………………
69
3.4.1. Đánh giá thực trạng nhu cầu liên kết trong sản xuất nông nghiệp
Trà Vinh ………………………………………………………………
69
3.4.2. Nhận thức về quan hệ liên kết trong sản xuất nông nghiệp, nông thôn
tỉnh Trà Vinh ……………………………………………………………
70
3.5. Phân tích vai trò, mức độ, cơ chết liên kết lợi ích của “bốn nhà”
trong phát triển nông nghiệp tỉnh Trà Vinh …………………………
80
3.5.1. Những yếu tố hình thành nhu cầu liên kết “bốn nhà” trong sản xuất
nông nghiệp tỉnh Trà Vinh ……………………………………………
80
3.5.2. Hiệu quả liên kết “bốn nhà” trong sản xuất nông nghiệp tỉnh
109
4.2.3. Tạo lập, phát triển hoạt động liên kết “bốn nhà” trong sản xuất
nông nghiệp, nông thôn tỉnh Trà Vinh ………………………………
118
4.3. Đề xuất giải pháp thực hiện các mô hình liên kết “bốn nhà” trong sản
xuất nông nghiệp tỉnh Trà Vinh ………………………………………….
119
4.3.1. Phát huy vai trò nhà nước trong quản lý quan hệ liên kết “bốn nhà”
nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp …………………………………
119
4.3.2. Phát huy vai trò Doanh nghiệp trong quan hệ liên kết “bốn nhà” nhằm
phát triển kinh tế nông nghiệp tỉnh Trà Vinh…………………………
122
4.3.3. Tác động của sự liên kết “bốn nhà” đối với phát triển doanh nghiệp….
126
4.3.4. Giải pháp tăng cường năng lực cho Nhà nông, Nhà khoa học và
Doanh nghiệp ………………………………………………………….
132
4.3.5. Đổi mới phương thức hợp đồng và tăng cường hiệu lực thực hiện
hợp đồng tiêu thụ nông sản theo đúng các quy định của pháp luật
133
KẾT LUẬN …………………………………………………………………
136
TÀI LIỆU THAM KHẢO. …………………………………………………
137
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HTX Hợp tác xã
KHKT Khoa học kĩ thuật
TACN Thức ăn chăn nuôi
CHƯƠNG 1
và Phát triển nông thôn cùng Ngân hàng Nhà nước, Hội nông dân Việt
Nam…đã tổ chức ký chương trình liên kết “bốn nhà” (nhà nước, nhà khoa
học, doanh nghiệp, nông dân) trong sản xuất – chế biến – tiêu thụ. Mặc dù, đã
đạt được một số kết quả nhưng trong thực tế qua tổng kết và đánh giá của các
cơ quan chuyên môn, sau hơn 10 năm thực hiện, sự liên kết vẫn rất lỏng lẻo;
hiệu quả còn thấp.
Tỉnh Trà Vinh là tỉnh nông nghiệp và về lâu dài, nông nghiệp giữ vai
trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Vai trò này
được thể hiện trước hết ở mức sản lượng, thu nhập, việc làm được tạo ra từ
sản xuất khu vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn, ở khả năng phát huy lợi thế
so sánh để tạo ra thế ổn định trong phát triển. Do vậy, nền kinh tế nông
nghiệp tỉnh Trà Vinh phải có sự liên kết chặt chẽ giữa “các nhà” trong sản
xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, sự liên kết trong sản xuất nông nghiệp chưa
chặt chẽ, làm cho việc sản xuất nông nghiệp gặp bất ổn về giá, sản lượng. Bên
cạnh đó, với sự phát triển công nghiệp của tỉnh sẽ làm cho khoảng cách về
kinh tế - xã hội vùng thành thị và vùng nông thôn càng thêm lớn. Để giảm sự
chênh lệch vai trò của “bốn nhà” là rất lớn, sự phát triển kinh tế - xã hội nông
nghiệp nông thôn giữ vai trò quan trọng trong nội dung phát triển kinh tế - xã
hội của tỉnh Trà Vinh. Vai trò này thể hiện ở mức sản lượng, thu nhập, việc
làm tạo ra từ sản xuất ngành, ở khả năng phát huy lợi thế so sánh để phát
triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
trên địa bàn.
Phát triển nông nghiệp của tỉnh Trà Vinh chỉ dừng lại ở sản xuất với
quy mô nhỏ, chưa có sự liên kết hỗ trợ của các chủ thể, hoặc là sự liên kết
trong sản xuất nông nghiệp rất lỏng lẻo. Mô hình liên kết trong sản xuất nông
nghiệp của tỉnh như: tổ hợp tác, hợp tác xã chưa đủ khả năng tự chủ sản xuất
kinh doanh, khả năng tự tích lũy, mở rộng đầu tư nhằm đảm bảo tồn tại, phát
triển theo yêu cầu. Ở tỉnh Trà Vinh, tình trạng vi phạm trong liên kết là vấn đề
thường xuyên xảy ra làm cho các mối quan hệ càng thêm lỏng lẻo. Một số
nông dân chưa gạt bỏ được tư tưởng hám lợi trước mắt; còn doanh nghiệp
3
Vai trò nhà nước là thực hiện nguyên tắc quản lý vĩ mô về kinh tế: tập
trung, vận dụng có hiệu quả các quy luật khách quan, kết hợp hài hòa lợi ích
các tập thể, cá nhân, tạo điều kiện và có cơ chế rõ ràng cho “các nhà” khác
hoạt động.
Nông hộ và sự cần thiết phải liên kết
Nông hộ và các hình thức liên kết của nông hộ trong hợp tác sản xuất
kinh doanh là những vấn đề không mới trong phát triển nông nghiệp nông
thôn và đã có rất nhiều báo cáo, tài liệu nghiên cứu đúc rút kinh nghiệm về
vấn đề này.
Nông hộ và liên kết giữa các nông hộ đã được nhắc đến trong rất nhiều
tài liệu cơ bản về kinh tế học sản xuất và kinh tế hộ nông dân.
Ellis Frank (1993) định nghĩa nông hộ nhỏ (peasant farm household)
với các tính chất cơ bản là chủ yếu sống bằng nông nghiệp, sử dụng lao động
gia đình để sản xuất trên mảnh đất của mình, tham gia không hoàn toàn vào
thị trường đầu vào và đầu ra. Định nghĩa này cho phép phân biệt nông hộ nhỏ
với các nông trại gia đình mang tính chất doanh nghiệp (family farm
enterprises) ở các nước phát triển và những nông dân sản xuất nông sản hàng
hóa trong bối cảnh có đầy đủ thị trường đầu vào và đầu ra.
Việc phân biệt giữa nông hộ nhỏ và nông trại doanh nghiệp còn được
phân tích nhiều trên khía cạnh lợi thế nhờ quy mô. Đây là một khái niệm rút
ra từ lý thuyết kinh tế tân cổ điển. Về lý thuyết, nông hộ nhỏ khó có thể tồn
tại vì giá thành sản xuất cao, kém cạnh tranh so với nông trại có quy mô lớn.
Tuy nhiên, một số nhà kinh tế học cho rằng vấn đề này không tồn tại hoặc có
ảnh hưởng rất nhỏ vì nhiều lý do (Boussard 1987, Brossier et al. 1997) vì
không thể có sự tập trung vốn cao độ trong nông nghiệp cũng như thực trạng
tồn tại song song của cả nông trại lớn lẫn nhỏ, kể cả ngay ở các nước phát
triển phương Tây. Hơn nữa, giá đất nông nghiệp cao và tư hữu đất đai là lực
cản đối với tích tụ ruộng đất và tính kinh tế nhờ quy mô. Trong khi đó, các
nhà kinh tế học khác lại cho rằng nó tồn tại ở một mức độ nào đó (Ellis,
hợp đồng và tổ chức hợp tác của nông dân có thể tăng cường khả năng tiếp cận
các cơ hội thị trường mới và các dịch vụ hỗ trợ đầu tư thâm canh của các nông
hộ nhỏ. Sự hợp tác giữa nông dân thường hoạt động tốt nhất khi nhóm nông
5
dân được kết nối với thị trường đầu vào và đầu ra thông qua hợp đồng
(Jonathan Coulter và cộng sự., 1977). Đồng thời, sự hợp tác này cũng có xu
hướng thành công với các nhóm nông dân nhỏ, dính kết với nhau, liên kết một
cách phụ thuộc lẫn nhau (linkage-dependent) trong quan hệ với ngành kinh
doanh nông sản (agri-business). Từ đó, các chính sách công và các sáng kiến
phát triển khuyến khích liên kết giữa nông dân và ngành kinh doanh nông sản
nên bao gồm cả những hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp cho các liên kết thị trường
giữa các nông dân nhỏ.
Theo Đặng Kim Sơn (2006) thì phát triển kinh tế hộ sau khi tạo ra kết
quả tốt về công bằng xã hội và phát huy nội lực của người sản xuất nhỏ, nay
lại đứng trước vòng lẩn quẩn của sản xuất nhỏ trước nền kinh tế hàng hóa lớn.
Tác giả cũng cho rằng cơ hội phát triển trang trại sản xuất lớn đang trôi qua
và cần nhiều quyết sách của Nhà nước (nhưng có lẽ chưa được thực hiện).
Như vậy, để nông thôn có thể vươn lên, chỉ có con đường phát triển các hình
thức kinh tế hợp tác mới để tăng khả năng thương lượng, khả năng cạnh tranh,
khả năng tự vệ trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt của toàn cầu hóa và công
nghiệp hóa phải thu hút các hộ tiểu nông không thể trở thành trang trại và
doanh nghiệp nông thôn vào kinh tế hợp tác. Tuy nhiên, vẫn phải khẳng định
kinh tế hộ là chủ đạo trong phát triển nông nghiệp, nông thôn trong tình hình
hiện nay và trong nhiều năm sắp tới.
Đặc biệt, việc tăng cường sản xuất hàng hóa, hội nhập với nền kinh tế
thế giới lại đặt ra nhiều thách thức mới cho kinh tế hộ và các hình thức liên
kết trong sản xuất – kinh doanh trong nông nghiệp. Trên thực tế, từ nhiều năm
nay, việc xuất khẩu nông sản hàng hóa của Việt Nam ở một số ngành hàng
nhất định vẫn gặp khó khăn vì thiếu vùng nguyên liệu đủ lớn và ổn định. Sản
xuất nhỏ lẻ, manh mún, thiếu hợp tác đang là lực cản rất lớn của ngành kinh
nông nghiệp Việt Nam còn nhỏ lẻ, manh mún thì nhất thiết phải hình thành
các tổ chức liên kết để xây dựng thương hiệu hàng hóa cũng như chứng nhận
tiêu chuẩn hàng hóa. Mặt khác, khi các doanh nghiệp ký kết hợp đồng với
nông dân, nếu ký kết từng hộ nông dân thì chi phí giao dịch sẽ cao, nhất là khi
có sự tranh chấp hợp đồng, do đó doanh nghiệp thường ký với tổ chức đại
diện nông dân mà hình thức phổ biến là các tổ hợp tác và hình thức cao hơn là
HTX.
7
Tổ chức của nông dân và các hình thức liên kết
Tuỳ theo từng quốc gia, trên thế giới có nhiều hình thức tổ chức của
nông dân như Nhóm nông dân (Farm Group); Nhóm sản xuất (Producer
Group); Hội nông dân (Farm Association); Tổ hợp tác (Cooperative)… vì
mục đích khác nhau, với qui mô số lượng khác nhau. Ở Việt nam, theo nghề
nghiệp ở nông thôn từ lâu đã hình thành các tổ chức của nông dân mang tính
cộng đồng rất cao như Phường, Hội (T.N.Thêm, 1994). Tựu chung tổ chức
của nông dân đều là tập hợp của những người nông dân để cùng thực hiện
một hoạt động mang lại lợi ích cho họ. Các tổ chức của nông dân thường thấy
ở nông thôn Việt nam hiện nay là HTX, tổ sản xuất, các hội và hiệp hội. Liên
quan tới sinh kế nông thôn ở Việt nam thường nổi bật hơn cả là các HTX và
tổ sản xuất. Hiện nay, tuy chúng ta đã có Luật HTX nhưng hình thức này vẫn
chưa được nông dân thiết tha nên vẫn chưa phổ biến (Đ.T.Tuấn, 2006). Một
loại hình tổ chức của nông dân giúp nhau trong sản xuất nông nghiệp đang
được nhiều vùng nông thôn hưởng ứng hiện nay, đặc biệt là ở các tỉnh Nam
bộ là tổ hợp tác. Đó là hình thức phát triển ban đầu của HTX. Tổ chức này
mang tính tự nguyện, phi lợi nhuận và hợp tác để tăng thêm sức mạnh, cùng
giải quyết được những khó khăn mà sản xuất kinh tế hộ khó giải quyết tốt
được (Đ.T.Tuấn, 2006).
Hình thức liên kết phổ biến và được nhiều quốc gia quan tâm đầu tư nhất
là HTX nông nghiệp. Các nước có nhiều kinh nghiệm tổ chức liên kết sản xuất
HTX cho các nông hộ nhỏ và rất thành công như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài
đồng (theo Quyết định 80/2002/QĐ-TTg), nông dân cần phải tổ chức lại
thành HTX hay hiệp hội để bênh vực quyền lợi cho nhau và tăng khả năng
mặc cả trên thị trường.
Như vậy, liên kết giữa các nông hộ trong sản xuất – kinh doanh từ đơn
thuần là một biện pháp đối phó với các thế lực thị trường, hoặc chỉ thuần túy
là tăng cường hiệu quả sản xuất kinh doanh của cả nhóm và từng hộ cá lẻ, đã
phát triển trở thành một thể chế quản lý và phát triển nông thôn, giúp cho
nông dân có thể tự làm chủ được cuộc sống của mình.
9
Theo J. Bingen (1999), những ảnh hưởng tích cực của tổ chức hợp tác
(liên kết ngang) và các mối liên kết dọc với các chuỗi siêu thị và các doanh
nghiệp kinh doanh nông sản thường chiếm ưu thế về tiếp cận thị trường ở
phần lớn các nước đang phát triển. Đặc biệt ở các vùng gần đô thị, do hoàn
cảnh thuận lợi về địa lý, nông dân ven đô thường có cơ hội lớn tiếp cận với thị
trường năng động và tiêu thụ với số lượng lớn (cầu lớn). Tuy nhiên, theo
Dillon, J.L. and J.B. Hardaker (1993), lợi thế này sẽ hoàn toàn không được
khai thác nếu họ chỉ là những hộ sản xuất nhỏ, manh mún với sản phẩm hàng
hoá không đồng nhất và số lượng nhỏ, chưa kể đến hàng loạt yếu tố khác như
sức ép của các hộ sản xuất nhỏ là chi phí sản xuất thường lớn hơn các trang
trại lớn, được đầu tư mạnh (vốn có nhiều ở các vùng ven đô) khiến lợi thế
cạnh tranh giảm. Các loại hình tổ chức kinh tế từ những hình thức đơn giản,
mang tính tương trợ, phi lợi nhuận như tổ hợp tác, nhóm nông dân… tới
những hình thức phát triển hợp tác cao hơn như hợp tác xã với qui mô sản
xuất lớn, tổ chức theo chuỗi ngành hàng, liên kết với các đối tác bằng các hợp
đồng nông sản đang được coi là giải pháp lựa chọn khả thi hiện nay nhằm
tăng hiệu quả của sản xuất, tăng giá trị hàng hóa nông sản, phản ứng kịp với
những đòi hỏi của thị trường luôn biến động (Phil Simmons, 2006).
Paul, M. và các cộng sự (2006) cho biết một hội thảo quốc tế vừa được
tổ chức ở Việt nam bởi UMR MOISA nhằm mục đích xác định phương thức
tổ chức các hộ sản xuất nhỏ trước trạng thái luôn biến động của thị trường,
nông thôn. Liên kết dọc theo ngành hàng đang bắt đầu diễn ra ở nhiều vùng
khác nhau, cho nhiều ngành hàng nông sản khác nhau. Liên kết ngang cũng
đang được hình thành, nhưng chủ yếu ở cấp độ các doanh nghiệp chế biến
xuất khẩu. Liên kết ngang giữa các nông hộ vẫn còn yếu kém, do nhiều lý do
khác nhau.
Từ các kết quả nghiên cứu và tình hình thực tiễn trên, có thể thấy, liên
kết nông dân nhỏ trong sản xuất – kinh doanh vẫn là một vấn đề hết sức căn
bản trong tổ chức sản xuất nông nghiệp Việt Nam trong tình hình hội nhập
kinh tế toàn cầu, nhưng vẫn chưa được giải quyết rốt ráo.
Ở các tỉnh Nam Bộ, vấn đề liên kết sản xuất – kinh doanh nông sản
giữa nông hộ và doanh nghiệp vẫn là vấn đề bức xúc, nhất là khi quá trình hội
11
nhập kinh tế đòi hỏi phải tổ chức lại cơ bản nền sản xuất hàng hóa phục vụ
tiêu thụ nội địa và xuất khẩu để đồng thời thỏa mãn yêu cầu về số lượng và
chất lượng của người tiêu dùng. Ngoài ra, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh
mẽ ở vùng nông thôn ven các thành phố lớn lại đặt cho nông nghiệp ven đô
nhiều thách thức lớn. Từ đó, hình thành nhu cầu phát triển nông nghiệp đô thị
với những đặc thù riêng biệt, khác với các vùng nông nghiệp truyền thống,
không chỉ thỏa mãn nhu cầu lương thực, thực phẩm cao cấp mà còn là nhu
cầu nghỉ dưỡng, thưởng ngoạn của cư dân đô thị.
Nông dân ngày nay, đặc biệt là nông dân các vùng sâu, vùng xa không
phải chỉ sản xuất nông nghiệp phục vụ tiêu dùng của hộ mà chủ yếu là hàng
hóa. Đặc điểm sản xuất hàng hóa nảy sinh một số yêu cầu lớn:
- Sản xuất hàng hóa đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao hơn để giảm chi phí
sản xuất, do vậy họ bắt buộc phải có các liên kết với các tổ chức cung cấp
dịch vụ đầu vào cũng như đầu ra trong sản xuất (các tổ chức cung cấp vốn;
các đơn vị cung ứng vật tư sản xuất; các đơn vị chịu trách nhiệm xây dựng chỉ
dẫn địa lý, xuất xứ hàng hóa cho sản phẩm và kiểm soát chất lượng nông sản;
các hệ thống kho chứa điều tiết hàng hóa, các đơn vị vận chuyển, giao hàng )
đặc biệt là các tổ chức giúp giải quyết các mối quan hệ với bên ngoài như tiếp
- Làm rõ tính tất yếu của mối liên kết giữa nhà nông – nhà nước – nhà
doanh nghiệp – nhà khoa học (bốn nhà).
- Thực trạng về liên kết trong sản xuất nông nghiệp tỉnh Trà Vinh.
- Đề xuất mô hình liên kết “ bốn nhà” và giải pháp nâng cao hiệu quả
các mối liên kết “ giữa các nhà” trong sản xuất nông nghiệp tỉnh Trà Vinh.
1.4. Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu:
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu
Vấn đề liên kết bốn nhà trong phát triển nông nghiệp ở tỉnh Trà Vinh.
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: nghiên cứu tính tất yếu của mối liên kết giữa nhà nông –
nhà nước – nhà doanh nghiệp – nhà khoa học (bốn nhà); thực trạng của mối
liên kết đó trong phát triển nông nghiệp tỉnh Trà Vinh.
13
Về thời gian: đề tài giới hạn từ khi nước ta tiến hành đổi mới đến nay
và trong những năm tới.
Liên kết “bốn nhà” trong nông nghiệp, nông thôn từ khi có quyết định
80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ trở lại đây.
1.5. Nội dung nghiên cứu
- Hệ thống hóa lý luận về các mối quan hệ liên kết trong sản xuất nông
nghiệp.
- Vai trò của “bốn nhà” trong phát triển kinh tế - xã hội nông nghiệp,
nông thôn
- Các mô hình liên kết đã được triển khai và những kinh nghiệm khi
thực hiện các mô hình liên kết.
- Phân tích hiện trạng liên kết “bốn nhà” trong nông nghiệp ở tỉnh Trà
Vinh.
- Những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành liên kết trong sản
xuất nông nghiệp tỉnh Trà Vinh.
- Những kiến nghị nhằm phát huy sức mạnh của “bốn nhà”; xây dựng
mô hình liên kết bốn nhà trong nông nghiệp có hiệu quả và phù hợp với sự
15
Đề tài: “Nghiên cứu mối liên kết “bốn nhà” trong sản xuất nông nghiệp
tỉnh Trà Vinh” nghiên cứu dựa trên các mối liên kết đa chiều giữa Nhà nước,
Nhà Khoa học, Nhà Nông, Nhà doanh nghiệp, với sự ảnh hưởng của; môi
trường kinh tế quốc tế, phát triển bền vững nông nghiệp, công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiêp nông thôn, thị trường đầu vào – đầu ra.
16