BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
_________________ Mai Thị Thủy Tiên THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ
NGUYỄN DUY
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số : 60 22 32 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. PHÙNG QUÝ NHÂM
Thành phố Hồ Chí Minh - 2009
đời còn rất trẻ. Như nhiều thanh niên thời bấy giờ, theo tiếng gọi của Tổ quốc, họ lên
đường nhập ngũ. Trong số đó có Nguyễn Duy. Ông tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ,
sinh năm 1948 tại Đông Vệ, Thanh Hóa. Nguyễn Duy từng tham gia chiến đấu nhiều
năm trên các chiến trường Khe Sanh, Đường Chín,
Nam Lào, rồi sau này là mặt trận
phía Nam, mặt trận phía Bắc (1979). Nguyễn Duy làm thơ khá sớm nhưng đến năm
1973, ông mới được độc giả biết đến với chùm thơ đoạt giải nhất cuộc thi thơ của
tuần báo Văn nghệ: “Tre Việt Nam, Bầu trời vuông, Hơi ấm ổ rơm”. Từ đó Nguyễn
Duy đã xuất bản nhiều tập thơ sáng giá trong tiến t
rình thơ đương đại Việt Nam: Cát
trắng (1973), Phóng sự 30-4-1975 (1981), Ánh trăng (1984) ...đã đưa ông lên vị trí là
một trong những nhà thơ “đem lại vinh quang cho cả thế hệ thơ trẻ thời kỳ chống
Mỹ” (Trần Đăng Suyền) [117, tr.92], góp phần “in đậm dấu ấn của thời đại” (Lưu
Khánh Thơ) [5, tr.4].
Sau 1975, thơ Việt Nam trải qua một giai đoạn chững lại, tìm
đường. Trong
hoàn cảnh đó, Nguyễn Duy vẫn “bền bỉ kiên trì trong quá trình sáng tạo, cố gắng đi
sâu vào mọi khía cạnh của hiện thực đời sống, hiện thực tâm trạng” (Lưu Khánh
Thơ)[5, tr.4]. Với các tập thơ: Mẹ và em (1987), Đãi cát tìm vàng(1987), Đường xa
(1989), Quà tặng (1990), Về (1994), Vợ ơi (1995)... cùng tuyển tập Thơ Nguyễn Duy
Sáu & Tám, Nguyễn Duy đã thuộc “lực lượng đi ti
ên phong” (Trần Nhuận Minh) [4,
tr.4] trong thời kì Đổi Mới với nhiều “chuyển đổi trong phương thức chiếm lĩnh hiện
thực, trong các quan niệm mới về nghệ thuật, trong thế giới nghệ thuật có phần mới
mẻ, khác lạ về con người, trong ý thức mới đối với tư cách chủ thể của nhà
văn”(Phong Lê) [71, tr.344].
Thơ Nguyễn Duy đã được chọn đưa vào chương trình giảng văn ở bậc phổ
thông, giới thiệu ra nước ngoài, đã được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học
đánh giá, công bố trên các báo
chuyên ngành, được công chúng yêu thơ đọc và bình
(1994), Vợ ơi (1995), Bụi (1997), Tuyển tập thơ Nguyễn Duy (bản thảo do tác giả
cung cấp).
Bên cạnh việc khảo sát các t
ác phẩm trên, chúng tôi còn tiếp thu một cách chọn
lọc những nhận định đánh giá của các công trình nghiên cứu đã có và những ý kiến
của chính tác giả để đảm bảo tính khoa học, tính khách quan cho luận văn.
3. Lịch sử vấn đề
Xuất hiện trên thi đàn Việt Nam từ những năm bảy mươi, Nguyễn Duy đã tạo
ấn tượng nơi người đọc về một giọng thơ nhiều triển vọng. Có thể nói người có công
phát hiện và giới thiệu thơ Nguyễn Duy đầu tiên là Hoài Thanh. Trải qua hơn một
phần tư thế kỷ, đã có nhiều nhà phê bình, nghiên cứu nhận xét, đánh giá thơ Nguyễn
Duy, có thể chia làm bốn nhóm: Một là loại bài tìm hiểu những bài thơ, tập thơ tiêu
biểu. Hai là, loại bài nghiên cứu khái quát thơ Nguyễn Duy. Ba là, những bài
phát
biểu, trả lời phỏng vấn của chính nhà thơ về tác phẩm của mình. Bốn là, một số luận
văn cử nhân nghiên cứu về thơ Nguyễn Duy. Nhìn chung, các bài nghiên cứu đã đi
vào tìm hiểu nội dung và nghệ thuật thơ Nguyễn Duy ở những phương diện và mức
độ khác nhau. Trong phạm vi giới hạn của đề tài, chúng tôi sẽ hệ thống những ý kiến
nổi bật, những nhận định qua
n trọng liên quan đến cảm hứng chủ đạo và đặc điểm
nghệ thuật thơ Nguyễn Duy.
Để hình dung cụ thể, trong phần lịch sử vấn đề, chúng tôi phân chia ra các
nhóm ý kiến sau: 3.1. Hướng tiếp cận về nội dung
Trong những bài nghiên cứu đánh giá, thẩm bình về thơ Nguyễn Duy, nhiều
tác giả đã có những phát hiện về nét riêng độc đáo đối với từng tác phẩm của ông. Cụ
thể trong Hơi ấm ổ rơm, Vũ Quần Phương cho là “tấm lòng thơm thảo, nhường cơm
ngày một hay hơn về những người chiến sĩ” [58, tr.156]. Trên cơ sở đó, Lê Quang
Hưng rút ra sự hấp dẫn của tập thơ: “Ánh trăng được nhiều bạn đọc yêu thích trước
hết vì nó thực sự là một phần của một cuộc đời, là tiếng nói của một cây bút có trách
nhiệm trước cuộc sống xây dựng và chiến đấu sôi động trên đất nước ta những năm
qua” [58, tr.158]
.
Tế Hanh cũng thể hiện sự trân trọng của
mình khi nhận xét về tập thơ Ánh
trăng của Nguyễn Duy. Trong bài “Hoa trên đá và Ánh trăng” đăng trên báo Văn
nghệ số 15/1986, ông viết: “Đọc thơ Nguyễn Duy trước hết ta thấy anh là một người
lính đã chiến đấu ở nhiều mặt trận. Hiện nay anh không phải là quân nhân nhưng
những câu thơ anh viết về bộ đội, về cuộc đời quân nhân vẫn l
à những câu thơ thấm
thía nhất” [40, tr.3]. Dù mỗi người nhìn nhận, đánh giá tập thơ này ở những góc độ
khác nhau, nhưng nhìn chung các ý kiến trên đều thống nhất ở một điểm: cảm hứng
để Nguyễn Duy viết là từ những tâm sự và trải nghiệm của chính bản thân nhà thơ-
một người lính đã từng trải qua những địa
danh trận mạc cũng là những địa danh của
thi ca, một công dân có trách nhiệm sâu sắc đối với cuộc đời.
Trong các bài nghiên cứu khái quát thơ Nguyễn Duy của Hoài Thanh, Lại
Nguyên Ân, Nguyễn Thụy Kha, Vương Trí Nhàn, Nguyễn Quang Sáng, Chu Văn
Sơn, Vũ Văn Sỹ, Nguyễn Trọng Tạo, Đỗ Minh Tuấn, Phạm Thu Yến, các tác giả đều
có khuynh hướng đi sâu tìm hiểu những nội dung cơ bản trong thơ Nguyễn Duy. Các
bài viết này đã khẳng định thế giới nghệ thuật trong thơ Nguyễn Duy ngay từ khi mới
xuất hiện là những cảnh vật, sự việc, con người bình thường t
rong cuộc sống, gần gũi
với nhà thơ và với mọi người. Có thể nói, bài phê bình sớm nhất về thơ Nguyễn Duy
là “Đọc một số bài thơ của Nguyễn Duy” của Hoài Thanh, đăng trên Báo Văn nghệ
tr.97]. Còn nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn đưa ra một nhận xét có ý nghĩa khái
quát: “Bao dung nên giàu có” [83, tr.280]. Nhìn chung các ý kiến đánh giá trên đã chỉ
ra được nét riêng và độc đáo của thơ Nguyễn Duy là ông thường cảm xúc - suy nghĩ
về những điều bình dị, cụ thể của đời thường. Đặc điểm
này thể hiện trong thơ ông
như một mạch thống nhất, xuyên suốt cả trong hoàn cảnh chiến tranh và hòa bình.
Cùng tìm hiểu về nội dung thơ Nguyễn Duy, năm 2008, trong luận văn tốt
nghiệp, sinh viên Nguyễn Thị Thu Hiền với đề tài “Cái tôi nội cảm tìm về cội nguồn
trong thơ trữ tình Nguyễn Duy” đã đi sâu làm rõ một trong những khía cạnh nổi bật
của thơ trữ tình Nguyễn Duy:
cảm xúc về quê hương xứ sở, điệu hồn của dân tộc, về
đạo đức truyền thống và những giá trị thiêng liêng cùng nghệ thuật thể hiện cái tôi trữ
tình. Tuy nhiên những vấn đề trên chưa được nghiên cứu sâu.
3.2. Hướng tiếp cận về nghệ thuật
Phương diện được các tác giả quan tâm nhiều nhất và có ý kiến tương đối
thống nhất là thể loại.
Bài “Tre Việt Nam” được nhiều nhà phê bình phân tích, đánh
giá; có thể xem đây là một trong những bài thơ lục bát tiêu biểu của Nguyễn Duy.
Văn Giá trong “Một lục bát về tre” nhận xét: “ Lựa chọn thể thơ 6-8, một thể thơ
thuần chất Việt Nam, tác giả xử lý thật nhuần nhuyễn, trôi chảy, trau chuốt, không
non ép, gượng gạo, vấp váp một chỗ nào. Trong toàn bộ sáng tác của nhà thơ, phần
các bài viết theo thể lục bát không phải là nhiều nhất n
hưng anh vẫn được coi là một
trong những nhà thơ hiện đại viết lục bát thành công nhất. Với tất cả những gì đạt
được, anh đã góp phần đem lại một sắc điệu hiện đại cho thể thơ lục bát của dân
tộc” [9, tr.93]. Và chính Nguyễn Duy, khi trả lời phỏng vấn trên báo Đại đoàn kết đã
bộc bạch: “Những bài thơ lục
bát là phần quý giá nhất của mình” [12, tr.14]. Lê
Quang Trang khẳng định “Anh vốn là người sở trường về sử dụng thơ lục bát” [141,
tr.200]. Nguyễn Quang Sáng cũng cùng ý kiến đó khi cho rằng: “Nguyễn Duy vốn có
Sáng: “Thơ Nguyễn Duy đượm tính dân tộc và nhuần nhuyễn ngôn ngữ dân gian.”
[111, tr.96], Phạm Thu Yến lại có ý kiến khác: thơ Nguyễn Duy là sự kết hợp giữa
“ngôn ngữ đời thường” và ngôn ngữ “đậm màu sắc hiện đại” [152, tr.79 ]. Còn với
Vương Trí
Nhàn, thơ Nguyễn Duy là “bản hợp xướng của những chữ lạ” [83, tr.283].
Hồ Văn Hải thì khẳng định: “Sáng tạo từ láy là điểm nổi bật nhất trong lục bát
Nguyễn Duy” [44, tr.6 ].
Phương diện được nhiều nhà nhiên cứu, phê bình quan tâm là giọng điệu. Khi
bình bài “Tre Việt Nam”, GS.Lê Trí Viễn cho rằng: “Giọng điệu bài thơ là kể chuyện
như kể chuyện cổ tích” [147, tr.289]. Năm 1986, trong bài viết “Tìm giọng mới thích
hợp với người thời mình”, Lại Nguyên Ân tập trung tìm hiểu sự cách tân giọng điệu
trong thơ Nguyễn Duy: “Thật ra thơ Nguyễn Duy nhìn chung vẫn nằm trong điệu trữ
tình...Thơ Nguyễn Duy gần đây thường có thêm sắc giọng thủng thẳng, hơi ngang
ngạnh và ương bướng”. Với Lại Nguyên Ân, giọng điệu đó làm cho thơ tình “bớt đi
cái tha thiết héo ruột héo gan vốn thường có ở những khí chất yếu, những tâm trạng
u sầu lối cũ” “tăng thêm cái khoẻ khoắn mạnh mẽ vốn là đặc điểm của con người
thời nay”[2, tr.11]
. Ngô Thị Kim Cúc khi đọc tập thơ “Bụi” của Nguyễn Duy đã
nhận xét: “Từ bài đầu đến bài cuối hầu hết vẫn giống nhau ở một cách viết, vẫn cái
giọng cà tửng cà khịa khiến người ta lúc đầu bật cười rồi sau đó thấm thêm một tí lại
trào nước mắt” [13, tr.5]. Phạm
Thu Yến thì cho rằng: khuynh hướng hài hước, trào
lộng là một trong những biểu hiện của thi pháp ca dao và đã nhẹ nhàng phê bình
Nguyễn Duy đôi khi “quá đà”, khiến người đọc phải “ái ngại” [152, tr.76-82].
Trong các bài phê bình nghiên cứu về thơ Nguyễn Duy, thì bài viết “Nguyễn
Duy - thi sĩ thảo dân” của Chu Văn Sơn là một bài viết công phu, cung cấp cho
người đọc một cái nhìn tương đối rõ về con đường sáng tác của Nguyễn Duy. Ông
gọi thế giới thơ Ng
4.2. Phương pháp cấu trúc- hệ thống
Quan niệm thế giới nghệ thuật là một chỉnh thể, xuất phát từ đặc điểm riêng
của thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Duy, luận văn chú trọng việc tì
m ra những thành
tố tạo nên chỉnh thể này và qui luật cấu trúc nên nó. Mọi đối tượng, mọi vấn đề khảo
sát được chúng tôi đặt trong tương quan hệ thống, trong qui luật cấu trúc này.
4.3. Phương pháp so sánh
Mục đích của việc sử dụng phương pháp so sánh là để khẳng định nét độc đáo,
đặc sắc của phong cách thơ Nguyễn Duy trong mối tương quan so sánh với các tác
giả, tác phẩm khác ở cả hai chiều lịch đại v
à đồng đại. Với việc sử dụng phương pháp
này chúng tôi có cơ sở để tìm hiểu, lí giải và xác định rõ những giá trị cũng như đóng
góp của thơ Nguyễn Duy trên nhiều bình diện khác nhau.
4.4. Phương pháp phân loại, thống kê
Đối với từng thành tố trong chỉnh thể, đối với các yếu tố thuộc phương thức,
phương tiện trữ tình t
rong thơ Nguyễn Duy, khi cần thiết luận văn thực hiện phân loại
và thống kê qua các con số cụ thể.
5. Đóng góp của luận văn
Luận văn đã tìm hiểu thơ Nguyễn Duy trên bình diện của thế giới nghệ thuật.
Trong quá trình tiếp cận “Thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Duy”, người viết xem đó
như một chỉnh thể nghệ thuật bao gồm
nhiều phương diện có mối quan hệ gắn bó
biện chứng với nhau. Với đề tài này, người viết mong muốn đóng góp thêm một
hướng tiếp cận, nhằm tìm hiểu tương đối đầy đủ về sự nghiệp sáng tác thơ ca của
nhà thơ Nguyễn Duy, thông qua việc nghiên cứu những vấn đề nổi bật như: Hành
trình sáng tạo, cảm hứng chủ đạo và những đặc điểm nghệ thuật thơ ông, để từ đó
khẳng định bản sắc riêng độc đáo của ngòi bút Nguyễn Duy và vị thế của ông trong
tiến trình vận động và phát triển của thơ Việt Nam hiện đại.
bao gồm nhân vật, cốt truyện và các chi tiết được mô tả, không gian, thời gian nghệ
thuật...Nghiên cứu thế giới nghệ thuật của tác phẩm, khám phá được tính chỉnh thể ấy
có ý nghĩa quan trọng đối với việc tìm hiểu cách cảm nhận thế giới cũng như quan
niệm tư tưởng của nhà văn” [140, tr.141]. Lê Tiến Dũng cho rằng: “Qua văn bản
ngôn từ người đọc bắt gặp “bức tranh đời sống”, một thế giới như ta đã gặp đâu đó
trong đời, lại như chưa gặp bao giờ...Người ta gọi lớp này là lớp thế giới nghệ thuật
hay là lớp hình tượng”. “Mỗi nhà văn, mỗi thời đại văn học
sáng tạo ra một thế giới
nghệ thuật riêng. Tiếp nhận được thế giới này là cơ sở để hiểu tư tưởng - nghệ thuật
của tác phẩm, cảm nhận được những gì nhà văn miêu tả, kí thác cũng như cái nhìn,
quan niệm của nhà văn về con người, cuộc sống” [15, tr.11]
.
Những quan niệm trên về thế giới nghệ thuật thiên về tác phẩm văn xuôi và nội
dung được phản ánh trong tác phẩm. Từ góc độ thi pháp học chúng tôi quan niệm
“hình thức mang tính nội dung và nội dung là một nội dung được xác định trong hình
thức” [118, tr.9]. Nói cách khác thế giới nghệ thuật không đơn thuần là vấn đề hình
thức mà trong tính chỉnh thể của nó, hình thức thẩm mĩ đó luôn được thẩm thấu,
chuyển hóa trong một nội dung thích hợp. Thông qua thế giới nghệ thuật của một nh
à
thơ ta có thể phân biệt được chỗ sâu sắc, tư tưởng nghệ thuật độc đáo của nhà thơ ấy
với nhà thơ khác. Vậy “Thế giới nghệ thuật” vừa là thế giới được tạo thành trong thơ
qua cách cảm n
hận riêng của tác giả vừa là hình thức biểu hiện của thế giới ấy, một
hình thức thích hợp duy nhất để nội dung được biểu hiện trọn vẹn và đầy đủ.
Với “Thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Duy”, chúng tôi tập trung nghiên cứu
cảm hứng sáng tác và phương thức biểu hiện trong thơ như: thể thơ, ngôn ngữ, giọng
điệu... Từ đó thấy được phong cách nghệ thuật thơ Nguyễn Duy vừa m
ang nét riêng
cá nhân vừa phản ánh trình độ nghệ thuật của một giai đoạn lịch sử, một thời đại.
Nguyễn Duy trước và sau những năm t
ám mươi chỉ là sự chuyển biến mang tính tiếp
nối, không phải là những bước ngoặt đưa thơ ông rẽ sang những hướng đi khác, bởi
về cơ bản, các sáng tác của ông luôn nhất quán dưới sự chi phối mạnh mẽ của triết lí
nhân sinh: “Ta là dân- vậy thì ta tồn tại”. Nếu như Chế Lan Viên tuyên bố hùng hồn
về cuộc chiến tranh giữ nước: Ta đánh Mỹ vậy ta tồn tại, Lưu Quang Vũ ngây ngất
trong t
ình yêu: Anh yêu em vậy anh tồn tại, còn Nguyễn Duy trong bất kỳ hoàn cảnh
nào cũng nói lên cái “triết lí thảo dân” (Chu Văn Sơn) kia của mình. Thông thường,
có được một quan niệm riêng đúng đắn, xem như có một hoa tiêu tin cậy cho hành
trình sáng tạo rồi. Dẫu biết rằng quan niệm của người nghệ sĩ không phải nhất thành
bất biến, song ở Nguyễn Duy cái quan niệm buổi chập chững đã là một kim la bàn
khá chuẩn, càng về cuối càng sắc nét hơn và được hiện thực hóa trong suốt hành trình
sáng tạo của ông.
1.1. Hành trình qua nhiều miền Tổ quốc
Trước hết, hành trình nghệ thuật của Nguyễn Duy là cuộc hành trình qua
những miền đất, hay nói cách khác, đó là cuộc hành trình đầy ắp chất liệu thực tế do
nhà thơ gặt hái được từ những c
huyến đi, “Duy đi hầu khắp đất nước, đi qua bão, qua
lụt, qua đạn, qua bom, đi “xẻ dọc Trường Sơn”[111, tr.91]. Chỉ nhìn vào tựa đề các
bài thơ và thời điểm sáng tác, ta thấy ông đã đặt chân lên hầu hết mọi miền quê trên
đất nước mình: từ các tỉnh miền Bắc như Lạng Sơn, Hà Nội, Hà Nam đến dải đất
miền Trung với Huế, Quảng Bình, Quảng Trị; từ đồng bằng sông Cửu Long qua Tiền
Giang, Hậu giang, Đồng Tháp và đến tận Mũi Cà Mau. Ở đâu, Nguyễn Duy cũng tìm
được cho mình nguồn cảm hứng sáng tác và có những bài thơ hay. Nguyễn Quang
Sáng đã yêu mến ví “Nguyễn Duy như một con ngựa sung sức, nếu không được
buông vó trên đường dài thì ở trong tàu lúc nào cũng nghe cái gõ lộp cộp của nó, nó
đòi đi.” [103, tr.88]. Và trong cuộc hành trình này, Nguyễn Duy không phải trong vai
ta trở lại gốc si già...và làm lại
làm thơ tình tặng những lứa đang yêu...”
( Một góc chiều Hà Nội )
Và cũng hàm
súc biết bao những câu thơ ông viết về ruộng đồng miền Bắc có
cái gì rất đặc trưng:
“Vỏ ốc trắng những luống cày phơi ải
bờ ruộng bùn lấm tấm dấu chân cua”
( Tuổi thơ )
hay “Giọt sương muối co ro đầu nhảnh mạ
nhức nhối bàn chân phì phọp t
hở trong bùn”
( Lời ấm áp nói từ trong gió lạnh )
Về “thần hồn” của một vùng quê xưa: “chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng - mùi
huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm - điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng...” (Đò
Lèn). Có thể thấy Nguyễn Duy viết rất hay về đồng bằng Bắc Bộ đặc biệt là quê
hương Thanh Hóa, điều đó không có gì
lạ vì đây là nơi “chôn nhau cắt rốn” của nhà
thơ. Nhưng khi đến Huế, nhà thơ lại cho ra đời những bài thơ tuyệt vời đưa người đọc
đến với dòng sông Hương nước êm đềm trong vắt có cầu Tràng Tiền mềm mại bắc
qua sông, thấp thoáng tà áo người thiếu nữ, đẹp đến ngẩn ngơ lòng:
“Vừa xa mà đã nghe lâu
hỏi thăm áo tím qua cầu gió bay
ớt Đông Ba có còn cay
gạo de An Cựu độ này còn thơm?
Hỏi thăm hoa phượng bên đường
sông Hương mấy bữa mưa nguồn còn trong
quán cơm Âm Phủ còn không
“Trăng ảo ảnh lập lờ trong sương trắng
ngọn gió nhà ai thấp thoáng bên đồi
tiếng móng ngựa gõ ròn dốc vắng
nghe mơ hồ một chiếc lá thông rơi...”
Khi bàn chân nhà thơ đặt chân đến vùng đất tận cùng của Tổ Quốc, ông lại
rung cảm với cuộc sống sông nước của những người nông dân ở đây. Lời ru từ mũi
Cà Mau khắc ghi nguyên vẹn nét hoang sơ của mảnh đất địa đầu Tổ quốc, Xuồng đầy
lưu giữ vẻ như thực như mơ của sông nước Cửu Long, Ông gi
à sông Hậu thể hiện sự
hồn nhiên phóng khoáng mà hồn hậu của người nông dân Nam Bộ:
“Qua ngẫm chán, sống nghĩa là xả láng
ăn hết nhiều ở hết bao nhiêu
nhà cửa tà tà che lá dừa lá mía
nón áo khỏi lo nhưng nhậu phải đều đều
Ai nghèo thiếu qua nhường cơm xẻ áo
bụng người sôi cũng sôi giống bụng t
a
ki cóp một thân làm chi cho cực
giàu ở lòng còn đẹp ở thịt da...
Chủ giục khách nhậu đi đừng hỏi nữa
việc bán lúa dư đăng báo chi cho phiền
dư ít nuôi làng, dư nhiều nuôi nước
thành tích có gì mà phải nêu tên...”
(Ông già Nam Bộ)
Những bài thơ Nguyễn Duy viết về Nam Bộ có thể khiến cho nhiều thi sĩ sinh
ra trên mảnh đất này phải chạnh lòng, vì: “Nguyễn Duy làm thơ về Nam Bộ chưa
nhiều hơn một vài nhà thơ gốc người Nam Bộ, nhưng lại chiếm tỉ lệ khá cao trong số
gõ), là “thành phố trong rừng/ rừng trong thành phố” (Rừng và phố), là nghĩa trang
mà “Chủ tịch nước đầu tiên nằm cạnh bác đánh cờ/ người thợ dệt kề bên nhà nghệ
sĩ” (Thăm nghĩa trang Ta-Lin)...Nhưng tỉ lệ thuận với hành trình trải rộng theo không
gian và trải dài theo thời gian đó, “chất sống” (chữ của Xuân Diệu) [14, tr.56] trong
ông càng đầy đặn hơn, sâu sắc hơn, đó thực sự là một hành trình “bao dung” nên
“giàu có” (Vương Trí Nhàn) [83, tr.280] bởi “thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta cuộc
sống đã thật đầy” (Tố Hữu) [54, tr.36-37].
1
.2. Hành trình kiên trì vượt lên mọi hoàn cảnh để khẳng định mình
Hành trình nghệ thuật của Nguyễn Duy còn là một hành trình kiên trì bền bỉ,
đó là kết quả của sự nỗ lực vượt lên hoàn cảnh để khẳng định mình. Trong chiến
tranh, thơ ông luôn có mặt ở những nơi địa đầu tuyến lửa: Thành cổ Quảng Trị, Khe
Sanh, địa đạo Vĩnh Linh, ngã ba Đồng Lộc, Đầu Mầu... Dù “Bom đạn thi nhau vằm
mặt đất” nhưng “sâu trong lòng đất” Nguyễn Duy vẫn làm thơ (Bên hàng rào Ái
Tử), vẫn ca khúc hát “bài hát của cây”, “bài hát của trời”, “bài hát của sông”, “bài
hát của ta” (Lời ru trong bão)...Ngay những bài thơ đầu tay đăng trên báo Văn nghệ
năm 1972, Nguyễn Duy đã tỏ ra có ý thức tìm tòi một cách nói cho thơ mình. Bài
“Tre Việt Nam” của ông đã làm một cách tân nho nhỏ nhưng rất có tác dụng mà hồi
ấy chưa có ai làm: ngắt câu lục thành hai và ba dòng. Câu đầu:
Tre xanh,
Xanh tự bao giờ?
và câu cuối: Mai sau,
Mai sau,
Mai sau...
Câu bát cuối cùng của bài thơ:
Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh
là một câu thơ có thể ngắt theo nhiều cách khác nhau nhất trong thơ Việt Nam hiện
Nhưng chuyển sang thời bình, nhà thơ lại phải đối mặt với một thử thách khác:
sự ngổn ngang, bề bộn, phức tạp của cuộc sống đời thường. Những câu thơ của
Nguyễn Duy đã ghi lại được phần nào những “ngày gian khổ” ấy:
“Lương tháng thoảng qua một chút hương trời
đồng nhuận bút hiếm hoi gió lọt
vào nhà trống
vợ chồng ngủ với nhau đắn đo như vụng trộm
không có cái sợ nào bằng cái sợ sinh con”
(Bán vàng)
Trong tùy bút “Nỗi nhớ thời khó thở”, nhà thơ tâm
sự: cái thời hậu chiến gian
khổ, kéo dài hơn một thập kỷ sau 1975 ( khoảng 1975- 1985). Đó là thời của “...bạt
ngàn lính giải ngũ, trở lại xóm làng xơ xác sau chiến tranh. Triệt để hợp tác hóa ở
nông thôn. Đánh tư sản, triệt nhà giàu ở thành thị. Kẻ vào trại học tập cải tạo, không
bản án, không thời hạn. Người ra biển vượt biên không hẹn ngày về, phó mặc sinh
mạng cho sóng gió và ma quỉ. Đất nước liền một dải mà lắm n
hà lại lâm cảnh ly tán.
Mà cõi lòng lại đau nỗi cắt chia mới. Lương thực viện trợ của nước ngoài như hồi
chiến tranh không còn nữa. Nạn đói hoành hành khắp nước. Đột ngột lính Pol Pot
tràn sang, thảm sát dã man dân lành suốt một dải biên giới Tây Nam. Lại đột ngột
súng nổ, lại chết người, lại cháy nhà, suốt toàn tuyến biên giới phía Bắc...Nền kinh tế
quốc gia “tuột dốc theo chiều rơi thẳng đứng” (Tố Hữu). Lại thiếu gạo. Lại đứt bữa.
Lại thấy người ăn mày đầy đường. Lại ăn độn cả sắn, ngô, khoai, bo bo, mì sợi, mì
bột, mì hột...” [153]. Trong hoàn cảnh đó, nhiều nhà thơ “hoặc là ngại nói thực hoặc
là vẫn triền miên theo quán tính tư duy thời trước đó”, nghĩa là “im lặng” hoặc “ngợi
ca”[131, tr.360]. Có thể thấy cả sự ngợi ca lẫn im lặng của các nhà thơ lúc này đều
thật tàn nhẫn, đều thể hiện “sự không làm
tròn nhiệm vụ chính trị”[131, tr.360] của
nên, giọng điệu chân thành của nhà thơ đã khiến những bài thơ chưa đạt về kỹ thuật,
chưa chuẩn về hình thức, vẫn còn là những “dòng chữ nặng nề và chậm chạp” như
lời tự nhận xét của tác giả đi thẳng vào nơi sâu nhất trong tâm hồn người đọc.
Sau năm 1986, phương châm: “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật,
nói rõ sự thật” của Đại hội VI Đảng Cộng Sản Việt N
am đã tạo nên sự chuyển động
mới của văn học: “Văn học có dấu hiệu chuyển lên một đường ray mới, có lúc ngập
ngừng rụt rè, có lúc bạo dạn sấn sổ, dẫu thế nào mặc lòng, nó không còn chấp nhận
sự bình ổn, bình yên kiểu cũ” (Phong Lê) [71, tr.344]. Trong điều kiện mới ấy, thơ
Nguyễn Duy lại càng là “cây chổi” không mệt mỏi. Bài thơ Nhìn từ xa...Tổ quốc của
ông t
hực sự là những “câu thơ tuẫn tiết” vì đã tháo tung mọi ràng buộc, để sự thật
đắng cay trần trụi phơi bày trước mắt mọi người:
“Xứ sở phì nhiêu sao thật lắm ăn mày...
Xứ sở nhân tình
sao thật lắm thương binh đi kiếm ăn đủ kiểu
nạng gỗ khua rỗ mặt đường làng...
Xứ sở từ bi sao thật lắm thứ ma
ma quái- ma cô- ma tà- ma mãnh...
Xứ sở linh thiêng
sao thật lắm đình chùa làm kho hợp tác
đánh quả tù mù trấn lột cả thần linh ..
Xứ sở thông minh
sao thật lắm trẻ con thất học
Lắm ngôi trường xơ xác đến tang thương
Tuổi thơ oằn vai mồ hôi nước mắt
tuổi thơ còng lưng xuống chiếc bom xe đạp
tuổi thơ bay như lá ngã tư đường...”
nhưng trong đáy sâu tâm hồn vẫn luôn chất chứa một nỗi nhớ, niềm thương tha thiết
đối với quê hương mình. Chẳng thế mà những câu ca dao quen thuộc nhất, đọng lại
trong kí ức của con người biết bao đời nay là những dòng viết về quê hương xứ sở
thân yêu:
“Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương
Nhớ ai dãi nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao”
Và hành trình nghệ th
uật của Nguyễn Duy cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Hành trình nghệ thuật trong thơ ông bắt nguồn từ “xó bếp” ra “thế giới”- hành trình
của “giọt nước lìa nguồn ra biển” (Dòng sông mẹ) và cũng là hành trình từ xứ lạ trở
về với quê nhà - hành trình của “dòng nước trôi đi giọt nước lại rơi về” (Sông Thao).
Vương Trí Nhàn gọi đây là: “Cuộc trở về không ảo tưởng”- “trở lại với những giá t
rị
cội nguồn” [83, tr.286]. Chu Văn Sơn thì căn cứ vào tên tập thơ đầu tiên: Cát trắng in
năm 1973 và tập thơ cuối cùng (vì Nguyễn Duy tuyên bố sẽ không làm thơ nữa) Bụi
in năm 1997 để mã hóa hành trình nghệ thuật của Nguyễn Duy là: “từ hạt Cát đến hạt
Bụi” [114,tr.40] cũng với hàm nghĩa là sự trở về nơi xuất phát ban đầu.
Vào những năm cuối thập kỉ sáu mươi của thế kỉ XX, khi còn là một anh bộ
đội mới qua tuổi bắt chim, bắt bướm ở làng quê ông đã nhận ra và tâm
niệm: sống và
sáng tạo phải gắn bó với nhân dân, từ nhân dân và vì nhân dân:
“Một đời không thể nào quên
Lòng dân- chiếc mộc vững bền che ta”
( Hầm chữ A )
Cho nên có thể nói trong tập thơ đầu tay Cát trắng, những bài thơ hay nhất của
ông là những bài thể hiện lối sống gần gũi, chan hòa với dâ
n, vừa cụ thể sinh động,