Phương pháp dạy học chữa lỗi từ ngữ, ngữ pháp cho học sinh THPT dân tộc Khmer - Pdf 28


1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN QUANG MINH

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CHỮA LỖI TỪ
NGỮ, NGỮ PHÁP CHO HỌC SINH THPT
DÂN TỘC KHMER
(TRÊN CỨ LIỆU TRƯỜNG THPT DÂN TỘC NỘI TRÚ AN
GIANG)

Chuyên ngành : Lý luận và và phương pháp dạy học môn Văn
Mã số : 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

KHMER
2.1. Khái niệm về lỗi từ ngữ....................................................................... 51
3
2.2. Nguyên nhân mắc lỗi từ ngữ ............................................................... 53
2.3. Cách chữa lỗi từ ngữ ............................................................................ 55
2.3.1. Lỗi lựa chọn từ ngữ.................................................................... 55
2.3.2. Lỗi kết hợp từ ngữ...................................................................... 64
2.4. Phương pháp dạy học chữa lỗi từ ngữ tiếng Việt .............................. 73
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CHỮA LỖI NGỮ PHÁP
TIẾNG VIỆTCHO HỌC THPT DÂN TỘC KHMER
3.1. Khái niệm về lỗi ngữ pháp .................................................................. 79
3.2. Nguyên nhân mắc lỗi ngữ pháp........................................................... 80
3.3. Cách chữa lỗi ngữ pháp........................................................................ 82
3.3.1. Câu sai do cấu trúc không hoàn chỉnh........................................ 82
3.3.2. Câu sai do vi phạm qui tắc kết hợp............................................. 96
3.4. Phương pháp dạy học chữa lỗi ngữ pháp tiếng Việt......................... 103
KẾT LUẬN............................................................................................... 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................... 114
PHỤ LỤC................................................................................................. 119
4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
-------------

- DTNTAG : Dân tộc nội trú An Giang

Bảng 2.6: Kết quả mắc lỗi dùng từ ngữ chưa chính xác của HS trong
các bài kiểm tra thi học kỳ....................................................... 58
Bảng 2.7: Kết quả về việc mắc lỗi liên kết từ của HS trong các bài
kiểm tra thi học kỳ.................................................................... 66
Bảng 2.8: Kết quả lỗi đặt câu thiếu chủ ngữ của HS trong các bài kiểm
tra thi học kỳ ............................................................................. 83
Bảng 2.9: Kết quả lỗi đặt câu thiếu vò ngữ của HS trong các bài kiểm
tra thi học kỳ ............................................................................. 87
Bảng 2.10: Kết quả lỗi đặt câu thiếu kết cấu C – V nòng cốt trong các
bài kiểm tra thi học kỳ I ......................................................... 90
Bảng 2.11: Kết quả lỗi đặt câu rối cấu trúc của HS trong các bài kiểm
tra thi học kỳ ......................................................................... 100
6
MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Tiếng Việt là tiếng phổ thông, là ngôn ngữ chung của cộng đồng dân
tộc Việt Nam. Năm 1969, Quyết đònh 153 – CP của thủ tướng chính phủ đã
cụ thể hóa vai trò TV trong đời sống đồng bào dân tộc thiểu số: “Tất cả các
dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam đều cần học và dùng tiếng, chữ phổ thông là
ngôn ngữ chung của cả nước. Nhà nước cần ra sức giúp đỡ các dân tộc thiểu
số học biết nhanh tiếng, chữ phổ thông”. Và Quyết đònh 53 – CP của Hội
đồng chính phủ (1980) nêu rõ: “Tiếng và chữ phổ thông là ngôn ngữ chung
của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Nó là phương tiện giao lưu không thể
thiếu được giữa các đòa phương và các dân tộc trong cả nước, giúp cho các
đòa phương và các dân tộc có thể phát triển đồng đều các mặt kinh tế, văn
hóa, khoa học kỹ thuật… Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân và thực

việc mắc lỗi TV và góp phần thực thi đổi mới PPDH trong nhà trường THPT
hiện nay.
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Viết sai chuẩn mực TV là hiện tượng khá phổ biến trong HS các bậc
hiện nay, nhất là học HS dân tộc thiểu số. Hiện tượng viết sai chuẩn mực
cũng không hiếm trên sách báo in ấn. Thế nhưng, nhìn chung, việc nghiên
cứu lỗi hành văn ở các bình diện, các cấp độ lại chưa có một bề dày đáng
kể. Chủ yếu chỉ có một số bài viết ngắn về một số loại lỗi chính tả, lỗi dùng
từ, lỗi ngữ pháp… đăng rải rác trên các tạp chí, báo chí. Một vài loại lỗi
8
vừa nêu cũng được trình bày trong một vài quyển sách giáo khoa, một số
công trình nghiên cứu TV. Rất ít có quyển sách viết về lỗi hành văn một
cách toàn diện, có hệ thống. Nhất là những quyển sách viết về lỗi sử dụng
TV của HS dân tộc Khmer.
Những bài viết và một vài quyển sách về lỗi được in ấn, xuất bản từ
năm 1974 đến nay cũng không nhiều:
Nguyễn Minh Thuyết, trên “Ngôn ngữ” số 3, năm 1974, nêu lên một
số kiểu lỗi ngữ pháp và cách sửa chữa trong bài “Mấy gợi ý về việc phân
tích sửa chữa lỗi ngữ pháp cho học sinh”. Trong bài viết này, tác giả đưa ra
các kiểu lỗi sai như: “lỗi vi phạm về qui tắc cấu tạo từ”, tức là lỗi cấu tạo
cụm từ sai qui tắc ngữ pháp; “lỗi vi phạm về qui tắc cấu tạo câu” (bao gồm
“lỗi thừa chủ ngữ”, “lỗi thiếu chủ ngữ”, “lỗi thiếu vò ngữ”); và cách sửa chữa
từng kiểu lỗi.
Nguyễn Xuân Khoa, trên “Ngôn ngữ” số 1, năm 1975, trình bày một
số lỗi về qui tắc cấu tạo câu trong bài “Lỗi ngữ pháp của học sinh – nguyên
nhân và cách sửa chữa”. Theo Nguyễn Xuân Khoa, lỗi cấu tạo câu gồm:
“Câu thiếu thành phần hạt nhân” (bao gồm “câu thiếu chủ ngữ”, “câu thiếu

kiểu: “câu mới chỉ có kết cấu giới từ hặc cụm danh từ chỉ thời gian, vò trí”,
“câu chỉ mới có cụm danh từ”, “câu thiếu chủ ngữ”, “câu thiếu vế”, “câu sai
quan hệ lôgich”, “câu có kết cấu rối nát” và “câu không đảm bảo sự phát
triển liên tục của ý trong đoạn văn”. Còn lỗi dùng từ sai, gồm các kiểu:
“dùng từ sai vỏ âm thanh”, “dùng từ sai do không hiểu nghóa của từ”, “dùng
10
từ không phù hợp với đối tượng nói năng, với sắc thái tình cảm, thái độ cần
phải có”, “dùng từ không đúng với phong cách văn bản”, và “dùng từ không
đảm bảo tính thẩm mỹ”. Cùng với các kiểu lỗi câu sai và lỗi dùng từ, các tác
giả còn đưa ra “phương hướng sửa chữa câu sai” và “các thao tác chữa lỗi về
từ”. Nhìn chung, các tác giả trình bày các kiểu lỗi câu sai và lỗi dùng từ sai
khá cụ thể, có giá trò gợi ý phát hiện lỗi hành văn. Tuy nhiên, việc phân chia
các lỗi câu sai và lỗi dùng từ của tác giả chưa có hệ thống và tính chặt chẽ;
các kiểu lỗi sai chưa được phân tích một cách cặn kẽ, thấu đáo. Và các tác
giả chưa đưa ra cách thức sửa chữa cụ thể đối với từng kiểu sai. “Phương
hướng sửa chữa câu sai” và “các thao tác chữa lỗi về từ” được đưa ra còn sơ
lược.
Nguyễn Đức Dân và Trần Thò Ngọc Lang, trong “Câu sai và câu mơ
hồ” (1993), đưa ra cách lý giải khá mới mẻ về câu sai. Trong công trình
nghiên cứu này, các tác giả đi sâu vào phân tích, lý giải hiện tượng câu sai
và hiện tượng câu mơ hồ. Các tác giả muốn góp thêm một tiếng nói mới về
câu sai và muốn nhấn mạnh tới nguyên nhân tâm lý trong quá trình hình
thành một câu sai, mà hiện tượng sai do “chập cấu trúc”. Đối với mỗi câu
sai, cần phân tích kỹ để phát hiện các nguyên nhân gây ra cái sai của nó, từ
đó đề ra cách chữa có hiệu quả. Xuất phát từ quan niệm ấy, các tác giả
không đưa ra những sơ đồ cứng nhắc làm khuôn mẫu khi chữa những câu sai
mà chỉ nêu những phương pháp chung nhất để phân tích và chữa lỗi câu dựa

nhau; không phân đònh rõ mối quan hệ giữa các vế câu hoặc giữa câu với
12
câu). Các bài tập đa dạng phong phú nhưng trích dẫn dẫn chứng lại xa rời
SGK, không nằm trong chương trình. HS khó cảm nhận và nhận biếtđ ể tìm
ra những lỗi dùng từ đặt câu. Đây là bài viết khá kỹ, tương đối trọn vẹn.
“Lỗi từ vựng và cách khắc phục” với nhóm Hồ Lê, Trần Thò Ngọc
Lang, Tô Đình Nghóa thực hiện. Và quyển thứ hai, đó là “Lỗi ngữ pháp và
cách khắc phục” do nhóm Cao Xuân Hạo, Lý Tùng Hiếu, Nguyễn Kiên
Trường, Võ Xuân Trang, Trần Thò Tuyết Mai điều tra và biên soạn. Các tác
giả sử dụng phương pháp thực nghiệm. Xuất phát từ việc điều tra lỗi chính
tả, từ vựng, ngữ pháp qua 5.000 bài viết của HSSV và những bài trên các
báo “Sài Gòn giải phóng”, “Tuổi trẻ”, “Thanh niên”, “Phụ nữ”, “Công an”,
“Kiến thức ngày nay”… tìm hiểu nguyên nhân, phân loại lỗi, phân tích từng
loại lỗi rồi đưa ra các bài tập có đáp án để người viết sử dụng rèn luyện và
khắc phục.
Bên cạnh đó, ta thấy hàng loạt quyển sách “ Tiếng Việt thực hành”
của những tác giả như Nguyễn Minh Thuyết, Đặng Ngọc Lệ, Nguyễn Kiên
Trường, Hữu Đạt, Nguyễn Đức Dân… đưa ra những cơ sở lý luận về lý
thuyết TV để vận dụng vào các bài tập thực hành là chính yếu dành cho
HSSV. Các dạng bài tập đa dạng, phong phú.
Điểm qua các bài viết, các công trình nghiên cứu, ta thấy các tác giả
đã có những đóng góp đáng trân trọng trong việc tiếp cận, nghiên cứu, lý
giải các lỗi sai về chính tả, từ vựng, ngữ pháp… trên các bình diện, các cấp
độ, ở mức độ này hay mức độ khác. Nhưng có một điều, các nhà ngôn ngữ
học chưa nghiên cứu các lỗi sai về từ vựng, ngữ pháp đối với đối tượng HS
người dân tộc thiểu số khi học TV. Bởi vì hiện nay, đối tượng này cũng


14
dạy và học tiếng Việt cho HS Khmer THPT ở trường phổ thông, từ đó, chúng
tôi đề xuất một số phương pháp chữa lỗi dùng từ đặt câu TV cho HS THPT
dân tộc Khmer mang tính đặc thù, khả thi.
4. ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này chính là HS THPT dân tộc
Khmer trường THPT Dân tộc nội trú An Giang đang học môn Ngữ văn
chương trình giáo dục THPT với việc mắc các lỗi từ ngữ, ngữ pháp TV trong
các bài viết kiểm tra, bài thi.
5. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu các lỗi sai cơ bản từ ngữ, ngữ pháp và phương pháp dạy
học chữa các lỗi này trong chương trình giảng dạy, SGK môn “Ngữ văn” cấp
THPT, tài liệu chủ đề tự chọn cấp THPT và qua các tiết dạy TV của GV
trường THPT DTNT AG. Nhất là tập trung vào các bài kiểm tra thi học kỳ
của HS THPT dân tộc Khmer ở trường THPT DTNT AG.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp tổng hợp lý luận và thực tiễn: Tổng hợp những công
trình, chuyên luận về các lỗi từ ngữ, ngữ pháp, các giáo trình đổi mới PPDH
TV… để nghiên cứu, phát hiện những luận điểm làm tiền đề lý luận trực
tiếp, gián tiếp cho việc phương pháp chữa các lỗi sai về từ ngữ, ngữ pháp
vốn tồn tại trong quá trình dạy học TV trường phổ thông.
- Phương pháp khảo sát: Chúng tôi tiến hành phương pháp khảo sát để
nắm bắt các lỗi sai về việc dùng từ đặt câu của HS THPT dân tộc Khmer.
Việc khảo sát của chúng tôi dựa trên các bài kiểm tra thi học kỳ I, II của HS
khối 10, 11, 12 ở trường THPT DTNT AG, năm học 2006 – 2007, với tổng số
15
lượng bài thi: 594. Từ đó tìm ra những lỗi cơ bản nhất để làm cơ sở cho

17
CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ DẠY HỌC TIẾNG VIỆT CHO HỌC
SINH THPT DÂN TỘC KHMER
1.1. Những đặc điểm riêng trong dạy học TV cho HS THPT dân tộc
Khmer
1.1.1. Nguyên tắc dạy học TV cho HS THPT dân tộc Khmer
Khi sống chung một cộng đồng các dân tộc Việt Nam, cùng sử dụng
TV như một công cụ giao tiếp chủ yếu trọng mọi lónh vực, lại hấp thụ chung
một nền giáo dục thì dù là HS người Kinh hay HS dân tộc Khmer, tất cả
cũng cần được dạy học trên những cơ sở nguyên tắc chung. Ta có thể chú ý
đến một số nguyên tắc đặc thù của dạy học TV.
1.1.1.1. Nguyên tắc hệ thống và phát triển
Để học tốt TV, HS dân tộc Khmer phải tiếp xúc và làm quen với TV
theo từng cấp độ khác nhau. Từ cấp Tiểu học, THCS đến THPT, HS dân tộc
Khmer đã có sự tích luỹ vốn từ ngữ TV kha khá. Lúc này TV được hình
thành một cách lô – gíc và có hệ thống. HS THPT dân tộc Khmer có thể hệ
thống ý nghóa các từ ngữ thành câu, liên kết câu thành đoạn văn, nối kết các
đoạn thành một văn bản hoàn chỉnh.
Nguyên tắc yêu cầu GV trình bày theo thứ tự hợp lý và nêu được mối
quan hệ giữa chúng. Nó đòi hỏi các hiểu biết về lý thuyết được trình bày
theo mối quan hệ liên tưởng và rèn luyện kỹ năng sử dụng TV cũng phải
tuân thủ như thế. Ví dụ như hiện tượng nhiều nghóa cần liên hệ với hiện
tượng đồng âm hoặc hiện tượng đồng nghóa, hiện tượng trái nghóa cần liên
hệ với hiện tượng trái nghóa….

- Vận dụng các tri thức TV vào hoạt động giao tiếp: lónh hội, phân
tích, đánh các sản phẩm của hoạt động giao tiếp; tạo lập các sản phẩm giao
tiếp… Nó nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ, mục đích giao tiếp trong những
hoàn cảnh giao tiếp nhất đònh. GV đặt ra hệ thống bài tập phù hợp với ngữ
cảnh mà HS thường xuyên giao tiếp.
- Huy động các kinh nghiệm vốn có của HS trong hoạt động giao tiếp
vào việc hình thành các kiến thức lý thuyết TV, vào việc củng cố và điều
chỉnh kiến thức.
1.1.1.3. Nguyên tắc gắn lý thuyết với thực hành
Cũng như trong các lónh vực dạy học khác, việc thực hiện nguyên tắc
này ở lónh vực dạy học TV có tác dụng tích cực đến việc thực hiện hai mục
tiêu chính: trang bò kiến thức và rèn luyện kỹ năng. Điều này rất quan trọng
đối với HS người Kinh nói chung, HS dân tộc Khmer nói riêng khi học TV.
Nguyên tắc này không chỉ thực hiện trong việc dạy thực hành mà cả
trong lý thuyết. Người GV có thể trình bày một khái niệm, qui tắc TV theo
trình tự diễn dòch hay quy nạp. Tức là GV cung cấp kiến thức, sau đó cho
thực hành minh hoạ. Ngược lại, GV cung cấp các dữ liệu để HS phân tích,
đánh giá, từ đóù rút ra khái niệm, qui tắc chung. Đối với việc triển khai từ
phân tích, tìm hiểu ngữ liệu cụ thể đến nhận đònh khái quát (thực hành đến
lý thuyết) là nguyên tắc phù hợp với HS dân tộc Khmer. Vì đi từ cái cụ thể
để khái quát hình thành cái chung, cái trừu tượng phù hợp với khả năng tư
duy của các em. Và hoạt động thực hành chủ yếu làm sáng tỏ thêm lý
20
thuyết, củng cố các kiến thức lý thuyết, đồng thời rèn luyện được bốn kỹ
năng nói, nghe, đọc, viết. Ở đây, giảng dạy theo hướng phát triển tư duy của
HS, GV vận dụng nhuần nhuyễn giữa lý thuyết và thực hành, có thể trong lý
thuyết có thực hành, và trong thực hành luôn luôn có lý thuyết (GV củng

Nguyên tắc tích hợp thể hiện sự phối hợp giữa các phần Tiếng Việt,
văn học, Làm văn. Trên cơ sở những ngữ liệu văn bản văn học giúp HS phân
tích rút ra những nhận xét, kết luận về các hiện tượng ngôn ngữ. HS lại vận
dụng những hiểu biết đó để đọc – hiểu văn bản và ứng dụng vào viết văn
trong môn Làm văn. Kết quả của quá trình dạy học theo nguyên tắc tích hợp
là tạo ra kiến thức và kỹ năng tổng hợp của HS. Chẳng hạn cấu trúc của
phần TV trong chương trình Ngữ văn 11 chú ý đến nguyên tắc tích hợp với
các phần Văn học và Làm văn. Các bài TV được bố trí xen kẽ với các bài
Văn học và Làm văn vào những vò trí tạo nên sự tích hợp tốt nhất. Cụ thể
như bài “Thực hành về thành ngữ, điển cố” được bố trí ở sau một số văn bản
văn học trung đại, nơi sử dụng nhiều thành ngữ và điển cố…
Và trong dạy học TV không được tách rời các phân môn TV. Việc dạy
tách các phân môn TV sẽ không tìm thấy mối liên hệ bản chất của các hiện
tượng ngôn ngữ làm cho việc dạy học từng phân môn vừa có sự trùng lặp với
phân môn khác lại vừa có sự thiếu sót, chưa chu đáo.
TV là một hệ thống khoa học. Trong phạm vi chương trình học tập, TV
không chỉ là một hệ thống khoa học mà còn là một hệ thống sư phạm. Mối
22
liên hệ mang tính khoa học giữa các phân môn TV hết sức phong phú. Về
ngữ âm, không chỉ để dạy chính âm mà đối với TV còn để dạy chính tả. Câu
là đơn vò hoàn chỉnh, có ý nghóa, có cấu trúc, có ngữ điệu. Không hiểu ngữ
âm không thể học tốt ngữ pháp, phong cách tu từ. Từ vựng được hiểu ở nghóa
trung hoà và nghóa trong văn cảnh, tức là trong câu, trong đoạn. Học ngữ
pháp không thể tách rời với học dấu câu, với ngữ điệu câu. Phong cách tu từ
học là khoa học về cách dùng từ đặt câu, đọc, nói một cách truyền cảm. Ngữ
pháp văn bản vượt lên trên đơn vò câu những không thể không dựa vào ngữ
âm, từ vựng, ngữ pháp như các vật liệu cơ sở của phát ngôn.

Khmer có thể có một số vốn từ ngữ TV phong phú không thua kém HS người
Kinh. Từ đó, GV có sự quan sát, theo dõi kỹ và vận dụng các cách dạy phù
hợp cho từng đối tượng. Và GV chú ý đến vốn từ ngữ ở các lónh vực chính
trò, xã hội và khoa học kỹ thuật… còn xa lạ đối với HS dân tộc Khmer. Vì
đây là vốn từ mà ngôn ngữ Khmer hoàn toàn vay mượn của TV. Đồng thời
cũng quan tâm đến việc thực hành sử dụng vốn từ ngữ ấy trong các hoạt
động giao tiếp ở nhà trường, ở các môi trường trong xã hội… Hoặc về ngữ
pháp, GV cho HS thực hành một cách tích cực việc phân tích và tạo các kiểu
câu, nói chung là các cách diễn đạt bằng TV, theo yêu cầu của chương trình.
Có như vậy mới tránh được hiện tượng giao thoa do HS vận dụng cấu tạo
cụm từ, cấu tạo câu của ngôn ngữ Khmer vào TV.
Trong việc sửa lỗi cho HS khi thực hành luyện tập TV hoặc giảng dạy
“Những lỗi thường gặp trong tiếng Việt; thực hành sửa lỗi” trong chương
24
trình “Tự chọn môn Ngữ văn 10”, cần thấy rằng những lỗi có thể có ở HS
dân tộc Khmer không chỉ do ý thức và năng lực của HS mà còn do sự tiếp
xúc ngôn ngữ, một hiện tượng vốn được coi là tự nhiên, ở đây là hiện tượng
giao thoa trong tiếng Khmer với TV.
Tóm lại, đối với việc dạy học TV cho HS dân tộc Khmer, cần tìm tòi
và vận dụng thêm một số PP dạy học TV thích ứng với đối tượng HS. Chẳng
hạn như sử dụng tiếng dân tộc Khmer trong dạy từ ngữ, dùng tiếng Khmer
để đối chiếu với TV khi có hiện tượng giao thoa ngôn ngữ…
1.1.2.1. Đối chiếu, so sánh trong dạy học từ ngữ
Đối chiếu và so sánh là thao tác tư duy để phân biệt hiện tượng, khái
niệm với các hiện tượng, khái niệm khác. Đối chiếu và so sánh là thủ pháp
quan trọng, thường thấy dùng trong tất cả các PP dạy học TV. PP đối chiếu
và so sánh trong dạy học TV cho HS THPT dân tộc Khmer là PPDH thực

trong đời sống sinh hoạt hàng ngày. Nhưng cũng có khi GV cũng không thể
dùng chính TV để giải thích, lý giải ý nghóa của từ để giúp HS nắm được
nghóa của từ, vì HS không đủ trình độ TV và ít giao tiếp với TV thường
xuyên trong cuộc sống để hiểu lời giảng giải của GV. Trong trường hợp này,
việc dòch các từ đó sang tiếng dân tộc là hữu hiệu hơn cả. Tuy nhiên cách
dòch cũng tuỳ thuộc vào trình độ ngôn ngữ Khmer của mỗi GV và sự tương
ứng về ý nghóa của các từ được dòch. Ví dụ, với các từ như “chăm chỉ”, “đồ
đạc”… có thể chuyển dòch từ TV sang tiếng Khmer như “sóong vát”, “ây

Trích đoạn Phương pháp dáy hĩc chữa loêi từ ngữ tiêng Vieơt Nguyeđn nhađn maĩc loêi ngữ pháp Cađu sai do câu trúc khođng hoàn chưnh Cađu sai do vi phám qui taĩc kêt hợp Phương pháp dáy hĩc chữa loêi ngữ pháp tiêng Vieơt
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status