tình hình sử dụng năng lượng sinh học trên thế giới và ở việt nam - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
VIỆN MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
  
Tiểu luận môn học:
TÌNH HÌNH SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG SINH
HỌC TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
GVGD: GS.TS LÊ CHÍ HIỆP
HVTH: NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO
TP. HCM, 06/2011
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1. KHÁI NIỆM VỀ NĂNG LƯỢNG SINH HỌC 2
2. TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG SINH HỌC 3
3. TỔNG QUAN VỀ NĂNG LƯỢNG SINH HỌC TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT
NAM 4
3.1. Năng lượng sinh học trên thế giới 4
3.2. Phát triển năng lượng sinh học ở Việt Nam 6
4. CÁC NGUỒN NGUYÊN LIỆU CHO NĂNG LƯỢNG SINH HỌC 7
5. NGUYÊN LÝ CHUYỂN HÓA 10
6. NHỮNG LỢI ÍCH CỦA NĂNG LƯỢNG SINH HỌC 15
7. TÌNH HÌNH SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG SINH HỌC TRÊN THẾ GIỚI 17
8. TÌNH HÌNH SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG SINH HỌC Ở VIỆT NAM 21
8.1. Tình hình nghiên cứu và phát triển năng lượng sinh học tại Việt Nam 21
8.2. Những hạn chế trong việc phát triển năng lượng sinh học tại Việt Nam 22
8.3. Đề xuất những biện pháp để tháo bỏ rào cản trong việc khuyến khích sử
dụng năng lượng sinh học ở Việt Nam 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
DANH SÁCH HÌNH
Hình 1-1: Sơ đồ năng lương tái sinh 2
Hình 2-2: Biểu đồ giá dầu thế giới trong khoảng 1006- 2008 3
Hình 3-3: Các dự án nhiên liệu sinh học từ nguyên liệu cellulose trên thế giới đến

nhằm làm giảm các tác động tiêu cực đến môi trường, đồng thời giảm bớt sự phụ thuộc
vào nhiên liệu hóa thạch khi mà nguồn này đang ngày càng cạn kiệt và khan hiếm.
Một trong những nguồn năng lượng tái tạo được quan tâm đó là nguồn năng
lượng sinh học. Nguồn năng lượng sinh học được nhiều quốc gia trên thế giới nghiên
cứu và ứng dụng vì nó là nguồn năng lượng có sẵn trong thiên nhiên và không gây ô
nhiễm môi trường. Việc sử dụng năng lượng sinh học sẽ góp phần làm giảm lượng ô
nhiễm và khí thải từ các hệ thống năng lượng truyền thống, làm giảm hiệu ứng nhà
kính, góp phần vào việc giải quyết vấn đề năng lượng thiếu hụt như hiện nay.
1
1. KHÁI NIỆM VỀ NĂNG LƯỢNG SINH HỌC
Năng lượng tái tạo hay năng lượng tái sinh là năng lượng từ những nguồn liên
tục mà theo chuẩn mực của con người là vô hạn. Nguyên tắc cơ bản của việc sử dụng
năng lượng tái sinh là tách một phần năng lượng từ các quy trình diễn biến liên tục
trong môi trường và đưa vào trong các sử dụng kỹ thuật. Các quy trình này thường
được thúc đẩy đặc biệt là từ Mặt Trời.
Phân tích theo Sơ đồ năng lượng phía dưới, mọi nguồn năng lượng đều xuất
phát từ năng lượng mặt trời, sự phụ thuộc vào nguồn năng lượng này – năng lượng vô
hạn – thì được xem là nguồn năng lượng tái tạo hay năng lượng tái sinh. Năng lượng
sinh học chiếm ở nhánh thứ 3 – Photosynthesis- trong sơ đồ.
Như vậy, năng lượng sinh học có thể hiểu nôm na là nguồn năng lượng được
hình thành từ nguyên liệu tự nhiên thông qua các chuyển biến sinh học nhờ các tác
nhân sinh học.
Hình 1-1: Sơ đồ năng lương tái sinh
2
2. TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG SINH HỌC
Con người đang ngày càng tìm các nguồn năng lượng thay thế, trong đó có năng lượng
sinh học vì các lý do sau:
- Năng lượng hóa thạch là nguồn năng lượng có hạn và đang dần cạn kiệt
Sử dụng năng lượng là nhu cầu không thể thiếu của tất cả các ngành công
nghiệp, dịch vụ và hoạt động dân sinh. Hệ thống kinh tế hiện tại của chúng ta đang dựa

yếm khí sẽ cho ra 40-45m3 khí mê-tan, 5kg bùn và nước thải có chứa 10-20kg COD.
Ở Nhật Bản, Chính phủ đã ban hành Chiến lược năng lượng sinh khối (Nippon
Biomas Strategy) từ năm 2003 và hiện nay đang tích cực thực hiện Dự án phát triển
các đô thị sinh khối (biomass town) và đã có 208 đô thị đạt danh hiệu này, mục tiêu
đến 2010 sẽ đạt 300 thành phố/đô thị.
Ở Đức, Luật Năng lượng tái tạo có hiệu lực từ năm 2000, đã đưa ra cơ chế
khuyến khích ưu tiên phát lên lưới điện quốc gia những nguồn điện từ năng lượng tái
tạo (mặt trời, gió, thuỷ điện, sinh khối và địa nhiệt). Sản xuất điện từ bioga từ sinh khối
hiện nay đang rất phát triển với số lượng nhà máy đã đạt tới 4600 nhà máy với tổng
công suất 1700MW năm 2009, và dự kiến sẽ tăng lên 5400 nhà máy năm 2015.
Tương tự, ở Trung Quốc đã có Luật năng lượng tái tạo và hiện nay đã có hơn 80
nhà máy điện sản xuất từ sinh khối với công suất đến 50MW/nhà máy. Tiềm năng là
có thể đạt được 30GW điện từ loại hình năng lượng này và Chính phủ hiện đang thúc
đẩy hợp tác, mời gọi đầu tư. Việc nghiên cứu phát triển bioga để chạy máy phát điện từ
bùn thải từ các trạm xử lý nước thải cũng đang được thực hiện. Đây là một hoạt động
rất có tiềm năng vì hiện nay trên toàn Trung Quốc đã có đến 1521 nhà máy xử lý nước
4
thải được xây dựng tính đến năm 2008 và sẽ tiếp tục tăng, với tỷ lệ nước thải được xử
lý là 28% (1999), 63% (2008) và 70% (dự kiến 2010).
Ở Canada, trường đại học Lakehead hiện đang nghiên cứu chế tạo dầu sinh học
thông qua việc hoá lỏng các loại sinh khối, chất thải trong nông nghiệp như phần thải
từ cây lúa mì, ngô, v.v Theo đó, qua một quá trình thuỷ phân dưới điều kiện nhiệt độ
và áp suất cao từ các loại sinh khối này sẽ thu được dầu sinh học (bio-crude oil) có thể
dùng để phát triển biodiesel sau này. Một hướng nghiên cứu khác là thay thế ethanol
bằng butanol sinh học bởi nó cung cấp nhiều năng lượng hơn khi cùng một đơn vị thể
tích. Một số trường đại học, viện nghiên cứu ở Mỹ và Hàn Quốc đã nghiên cứu để chế
tạo butanol sinh học từ các loại sinh khối.
Chính phủ Thái Lan đề ra mục tiêu năng lượng tái tạo đạt 20% trên tổng năng
lượng tiêu thụ vào năm 2022. Thái Lan đã bãi bỏ việc sử dụng dầu diesel 100% từ
2008, thay vào đó là B2 và dự kiến đến năm 2011 sẽ chuyển sang B5. Biodiesel chủ

phát triển loại hình năng lượng này.
Về nhiên liệu sinh học, nước ta hiện nay mới đang ở giai đoạn đầu của sự phát
triển, cụ thể là mới chỉ dừng ở hoạt động nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm. Trên thị
trường Hà Nội và TP HCM hiện đang phân phối thí điểm loại xăng gasohol E5. Một số
cơ sở đã sản xuất ethanol sinh học để phục vụ việc chế tạo xăng sinh học song quy mô
còn nhỏ. Mới đây 2 nhà máy sản xuất ethanol sinh học ở Phú Thọ và Dung Quất, công
suất 100.000 tấn ethanol/năm đã được Petro Việt Nam (PVN) xây dựng, dự kiến sẽ đi
vào sản xuất từ năm 2010. PVN cũng đang xây dựng dự án nhà máy thứ 3, liên doanh
với công ty Itochu (Nhật Bản), dự kiến sẽ được khởi công xây dựng năm 2010 tại tỉnh
Bình Thuận.
Về chính sách pháp luật, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình phát
triển nhiên liệu sinh học đến 2015, tầm nhìn đến 2025 theo Quyết định số
177/2007/QĐ-TTg, theo đó: đến 2010 sẽ sản xuất được 100.000 tấn xăng E5, 50.000
tấn B5, đạt 0,4% nhu cầu; đến 2015 đạt 5 triệu tấn E5 và B5, đạt 1%; năm 2025 tổng
xăng và dầu sinh học sẽ đạt 5% nhu cầu xăng dầu cả nước. Thực hiện Quyết định này
hiện nay Bộ Công Thương đang trực tiếp thực hiện những đề tài, dự án cụ thể nhằm
thúc đẩy công nghệ nhiên liệu sinh học. Bộ NN&PTNT cũng đã xây dựng đề án phát
triển cây cọc rào (jatropha) để làm nguyên liệu cho phát triển nhiên liệu sinh học. Nhìn
ra các nước trong khu vực, nói chung, chúng ta đang đi sau với khoảng cách khá xa về
lĩnh vực này.
4. CÁC NGUỒN NGUYÊN LIỆU CHO NĂNG LƯỢNG SINH HỌC
Năng lượng sinh học có thể lấy nguồn nguyên liệu từ nguồn thải từ các hoạt động
sản xuất công nghiệp nói chung trên thế giới như:
- Whey có thành phần gồm đường đôi và protein (từ công nghiệp chế biến sữa)
- Mật rỉ đường, bã mía có thành phần là các đường đôi và polysaccharides (từ
công nghiệp mía đường)
7
- Mùn gỗ, bùn thải có thành phần là các loại cellulose, lignocellulose và lignin
(từ công nghiệp giấy và chế biến gỗ)
- Rơm rạ và các nguồn thải khác chứa disaccharides, Polysaccharides, lipid (từ

- Bã mía: hiện nay mỗi năm có khoảng 1,3 triệu tấn đường được sản xuất (quy
mô công nghiệp và dân tự chế biến), ứng với 3 triệu tấn bã mía thải/năm. Đây
là nguồn nguyên liệu rất tiềm năng cho sản xuất năng lượng sinh học.
- Rơm rạ: Việt Nam tiêu thụ hàng năm khoảng 18 triệu tấn gạo, tương ứng với 18
triệu tấn rơm rạ/năm.
- Các nguồn biomass còn lại như trấu các loại nguồn thải có hàm lượng
cellulose còn chiếm một số lượng lớn
- Ngoài ra, VN cũng là một nước xuất khẩu thủy sản, nhất là các loại phile cá
tra, basa đặc thù loại hình này thải ra một lượng lớn mỡ thải gây ảnh hưởng
trong các hệ thống xử lý nước thải. Việc tận dụng nguồn thải này để sản xuất
năng lượng sinh học như Biodiesel là điều hợp lý và nên làm, đem lại giá trị
kinh tế và môi trường cao.
9
5. NGUYÊN LÝ CHUYỂN HÓA
Hình 5-5: Sơ đồ chuyển hóa nguồn thải từ hoạt động sản xuất thành các dạng năng
lượng sinh học
5.1. Sản xuất ethanol từ các nguồn biomass khác nhau
Dưới đây là quy trình chung để sản xuất ethanol từ nguồn nguyên liệu chứa
cellulose. Vì bản chất thực vật hệ thống lignocelluloses liên kết chặt chẽ với nhau tạo
thành lớp vỏ của tế bào thực vật. Việc chúng ta chỉ tận dùng nguồn cellulose yêu cầu
một quá trình tiền xử lý hiệu quả.
10
Hình 5-6: Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất ethanol từ các nguồn chứa cellulose
Thuyết minh quy trình:
Thành phần hữu ích nhất của nguyên liệu đối với mục đích sinh học là
cellulose. Hiệu quả của các quá trình thủy phân cellulose phụ thuộc nhiều vào độ mẫn
cảm của nó đối với tác nhân thủy phân. Trong tự nhiên cellulose rất khó phân hủy vì
phân tử của nó rất
11
Nguồn chứa

Sau khi xử lý sơ bộ lignin ta tiến hành
bổ sung chế phẩm vi sinh cellulase để
thủy phân cellulose, việc cắt nhỏ cellulose sẽ tạo ra sản phẩm chính là glucose, và đó
chính là nguồn cơ chất để vi sinh vật tiếp tục lên men tạo thành ethanol ở dạng thô.
Tiếp tục chưng cất ta sẽ thu được ethanol tinh.
5.2. Sản xuất biodiesel từ các nguồn mỡ cá
Biodiesel được sản xuất trên quy mô công nghiệp ở nhiều nước trên thế giới,
trong đó, một số nhà sản xuất quan tâm và thu hồi những sản phẩm phụ có ích trong
nước thải như glycerine, methanol dư, và muối. Nhìn chung, một quy trình công nghệ
sản xuất Biodiesel được mô tả như trong hình 5.3.
12
Hình 5-7: Quy trình công nghệ sản xuất Biodiesel
Thuyết minh:
- Dầu mỡ ĐTV được làm nóng dần lên đến 60
0
C, cho vào lò phản ứng. Alcohol
và xúc tác được trộn với nhau theo 1 tỷ lệ xác định (tính theo % lượng dầu mỡ
phản ứng), sau đó cho vào lò phản ứng.
- Tại lò phản ứng, hỗn hợp dầu mỡ, alcohol và xúc tác được khuấy trộn để phản
ứng chuyển hóa ester xảy ra, thời gian khuấy là 30 phút, sau đó để lắng trong
thời gian 1 – 2 ngày, để quá trình tách 2 pha ester và glycerine diễn ra, thời gian
lắng càng lâu càng cho sản phẩn ester có chất lượng tốt. Hoặc có thể bơm dung
dịch sau phản ứng sang 1 bể lắng khác, kết hợp với thiết bị ly tâm để tăng tốc
quá trình tách pha ester và glycerine.
- Sau khi tách, pha ester được trung hòa, rửa nước và chưng cất để loại bỏ alcohol
dư, glycerine lẫn và một số thành phần khác trong pha ester (nếu có). Cuối cùng
ester được làm khô thu được sản phẩm cuối cùng có tính chất tương tự dầu
Diesel và có thể sử dụng như một loại nhiên liệu thay cho dầu Diesel, gọi là
Biodiesel.
- Pha glycerine được phản ứng để thu hồi alcohol dư cấp lại cho quá trình phản

sau:
 Theo phản ứng chuyển hóa ester trình bày ở hình 1.1, tỉ lệ Mole các
chất tham gia phản ứng là:
1Trigryceride + 3Methanol  3Ester + 1Glycerine
14
 Tuy nhiên, để đảm bảo phản ứng xảy ra hoàn toàn, Methanol được lấy
dư so với lượng cần phản ứng, thường là gấp đôi, nghĩa là
Triglyceride:Methanol là 1:6.
 Đối với xúc tác:
- Xúc tác thường dùng là kiềm NaOH hoặc KOH, tuy nhiên KOH có tính xúc
tác mạnh hơn NaOH. Xét trường hợp nước thải được tận dụng để thu hồi các
sản phẩm phụ có ích thì lượng muối Kali thu được có thể dùng làm phân
bón.
- Lượng xúc tác cần cho vào phản ứng được tính bằng 0,3 – 1,5% khối lượng
dầu mỡ nguyên liệu.
6. NHỮNG LỢI ÍCH CỦA NĂNG LƯỢNG SINH HỌC
Các lợi ích khi phát triển năng lượng sinh học có thể tóm tắt như sau:
- Giảm thiểu ô nhiễm và khí nhà kính: Hiện nay, hàng năm toàn thế giới phát thải
khoảng 25 tỷ tấn khí độc hại và khí nhà kính. Nồng độ khí CO
2
, loại khí nhà
kính chủ yếu, tăng trên 30% so với thời kỳ tiền công nghiệp (từ 280 ppm tăng
lên 360 ppm), nhiệt độ trái đất tăng 0,2-0, 4
o
C. Nếu không có giải pháp tích cực,
nồng độ khí nhà kính có thể tăng đến 400 ppm vào năm 2050 và 500 ppm vào
cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trái đất nóng thêm 2-4
o
C, gây ra hậu quả khôn lường về
môi trường sống. Sử dụng năng lượng sinh học giảm được 70% khí CO

mô nhỏ (hộ gia đình) đến quy mô lớn.
Tiêu hao nhiên liệu, công suất động cơ tương tự như dùng xăng dầu khoáng.
Nhiều công trình nghiên cứu về cân bằng năng lượng đã cho thấy: Từ 1 đơn vị
năng lượng dầu mỏ sản xuất được 0, 87 đơn vị năng lượng xăng, hoặc 1, 02 đơn
vị năng lượng ETBE, hoặc 2, 05 đơn vị năng lượng ethanol. Từ 1 đơn vị năng
lượng dầu mỏ (dùng để cày bừa, trồng trọt, chăm sóc, vận chuyển đến chế biến)
sẽ tạo ra 1, 2 đơn vị năng lượng nhiên liệu sinh học. Nếu kể thêm các sản phẩm
phụ (bã thải, sản phẩm phụ) thì tạo ra 2-3 đơn vị năng lượng sinh học. Như vậy,
cân bằng năng lượng đầu ra so với đầu vào là dương.
Hiện tại, giá nhiên liệu sinh học còn cao do sản xuất nhỏ, giá nguyên liệu cao. Khi
sản xuất quy mô lớn với công nghệ mới sẽ giảm giá thành. Nếu xăng dầu không bù giá
thì nhiên liệu sinh học có giá thành thấp hơn.
16
7. TÌNH HÌNH SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG SINH HỌC TRÊN THẾ GIỚI
Hiện nay có khoảng 50 nước ở khắp các châu lục khai thác và sử dụng năng
lượng sinh học ở các mức độ khác nhau. năng lượng sinh học được hiểu là nhiên liệu
tái tạo (Renewable Fuel) được sản xuất từ nguyên liệu sinh học - sinh khối. năng lượng
sinh học dùng làm nhiêu liệu cho ngành giao thông bao gồm: Dầu thực vật sạch,
ethanol, diesel sinh học, dimetyl ether (DME), ethyl tertiary butyl ether (ETBE) và các
sản phẩm từ chúng. Năm 2006, toàn thế giới đã sản xuất khoảng 50 tỷ lít ethanol (75%
dùng làm nhiên liệu) so với năm 2003 là 38 tỷ lít, dự kiến năm 2012 là khoảng 80 tỷ
lít; năm 2005 sản xuất 4 triệu tấn diesel sinh học (B100), năm 2010 sẽ tăng lên khoảng
trên 20 triệu tấn.
Brasil là quốc gia
đầu tiên sử dụng ethanol
làm nhiên liệu ở quy mô
công nghiệp từ năm 1970.
Tất cả các loại xăng ở
quốc gia này đều pha
khoảng 25% ethanol

Trung Quốc đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá thân
thiện môi trường.
Ấn Độ hiện tiêu
thụ khoảng 2 triệu thùng
dầu mỏ /ngày nhưng có
tới 70% phải nhập khẩu.
Chính phủ đã có kế
hoạch đầu tư 4 tỷ USD
cho phát triển nhiên liệu
tái tạo, mỗi năm sản
xuất khoảng 3 tỷ lít
ethanol. Từ tháng
1.2003, 9 bang và 4 tiểu
vùng đã sử dụng xăng E5, thời gian tới sẽ sử dụng ở các bang còn lại, sau đó sử dụng
trong cả nước. Để phát triển diesel sinh học dùng cho giao thông công cộng, Chính phủ
có kế hoạch trồng các cây có dầu, đặc biệt là dự án trồng 13 triệu hécta cây Jatropha
18
curcas /physic nut (cây cọc rào, cây dầu mè) để năm 2010 thay thế khoảng 10% diesel
dầu mỏ.
Từ năm 1985, Thái Lan đã huy động hàng chục cơ quan khoa học đầu ngành để
thực thi dự án Hoàng gia phát triển công nghệ hiệu quả sản xuất ethanol và diesel sinh
học từ dầu cọ. Năm 2001, nước này đã thành lập ủy ban ethanol nhiên liệu quốc gia
(NEC) do Bộ trưởng Công nghiệp phụ trách để điều hành chương trình phát triển năng
lượng sinh học. Năm 2003, đã có hàng chục trạm phân phối xăng E10 ở Băngcốc và
vùng phụ cận. Chính phủ khẳng định E10 và B10 sẽ được sử dụng trong cả nước vào
đầu thập kỷ tới.
Ủy ban dầu cọ Malayxia (MPOB) cho biết, từ nay đến năm 2015 sẽ có 5 nhà
máy sản xuất diesel sinh học từ dầu cọ, với tổng công suất gần 1 triệu tấn để sử dụng
trong nước và xuất khẩu sang EU. Inđônêxia phấn đấu đến năm 2015 sẽ sử dụng B5
đại trà trong cả nước. Ngoài dầu cọ, sẽ đầu tư trồng 10 triệu ha cây J.Curcas lấy dầu

Trong khoảng thời gian tháng 04/2007 – tháng 12/2009, PGS.TS Vũ Nguyên
Thành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu công nghệ và hệ thống thiết bị sản xuất
bioethanol nhiên liệu từ phế phụ phẩm nông nghiệp (biomass)” với mục tiêu thiết kế
được quy trình công nghệ sản xuất bioethanol nhiên liệu từ phế phụ phẩm nông nghiệp
(rơm rạ, lõi ngô, thân gỗ, bã mía…) và mô hình hệ thống thiết bị sản xuất bioethanol
nhiên liệu từ phế phụ phẩm nông nghiệp nhằm triển khai áp dụng tại các cơ sở sản
xuất.
Nhà máy sản xuất bioethanol đang xây dựng tại tỉnh Bình Phước với công suất
hàng năm khoảng 100,000 m
3
. Nguồn nguyên liệu sản xuất từ sắn lát và tinh bột. Sản
phẩm thu được với độ tinh khiết 99.8% (thể tích). Nhà máy được đầu tư bởi liên doanh
giữa PVOil và ITOCHU, hình thành Công ty TNHH Nhiên liệu Sinh học Phương
Đông (OBF). Hiện tại, nhà đầu tư đang tiến hành nghiên cứu tính khả thi của dự án.
Nhà máy sản xuất bioethanol tại khu kinh tế Dung Quất sẽ được đầu tư xây dựng
bởi Tổng công ty dịch vụ dầu khí (Petrosetco), BSR, PVFC hình thành Công ty cổ
phần Nhiên liệu sinh học Dầu khí Việt Nam (PCB). Nhà máy được xây dựng trên diện
tích từ 30 – 50 ha, sản xuất bioethanol 99.8% (thể tích), công suất 100,000 m
3
/năm với
nguồn nguyên liệu sắn lát. Nhà máy dự kiến xây dựng vào cuối năm 2010.
21
PVB (Công ty Cổ phần Hóa dầu và Nhiên liệu sinh học Dầu khí) đã đầu tư xây
dựng nhà máy sản xuất bioethanol tại tỉnh Phú Thọ (cách Hà Nội khoảng 80 Km).
Tổng vốn đầu tư khoảng 80 triệu USD. Công suất nhà máy khoảng 100,000 m
3
bioethanol/năm. Nguồn nguyên liệu nhà máy chủ yếu là từ sắn lát và cây mía. Dự án
mong chờ đi vào hoạt động khoảng giữa năm 2011
Công ty cổ phần Đồng Xanh (GFC) đã đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất
bioethanol tại xã Đại Tân, huyện Đại Lộc, Quảng Nam từ nguồn nguyên liệu chủ yếu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status