ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HÀ THỊ YẾN
NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH TRUYỀN
THỐNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH
HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HÀ THỊ YẾN
1
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU 4
1. Lý do chọn đề tài. 4
2. Tình hình nghiên cứu. 5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu. 7
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu. 7
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. 8
6. Đóng góp mới của luận văn. 8
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn. 9
8. Kết cấu: 9
B/ NỘI DUNG 10
Chương 1 ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG VÀ NHỮNG TÁC
ĐỘNG CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA ĐẾN SỰ BIẾN ĐỔI CỦA ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH TRUYỀN
THỐNG 10
1.1.Đạo đức gia đình truyền thống 10
1.1.1. Khái niệm gia đình truyền thống 10
1.1.2. Khái niệm đạo đức gia đình truyền thống 13
1.1.3. Những chuẩn mực đạo đức cơ bản của đạo đức gia đình truyền
2.2.2. Kế thừa và phát huy có chọn lọc những chuẩn mực đạo đức tích
cực của gia đình truyền thống và tiếp thu những tiến bộ của gia đình hiện
đại trong xây dựng gia đình mới ở Việt Nam hiện nay 68
2.2.3. Xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững. 73
2.2.4. Tăng cường kết hợp vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội
trong giáo dục đạo đức gia đình truyền thống 75
Kết luận chương 2 79
C/ KẾT LUẬN 80
D/ DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
3
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Từ viết tắt
Chữ viết tắt
1
CNH
Công nghiệp hoá
2
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
3
HĐH
Hiện đại hoá
4
KTTT
Kinh tế thị trường
5
TBCN
Tư bản chủ nghĩa
đang tiếp thu có chọn lọc nhiều giá trị của gia đình hiện đại như: tôn trọng tự
do cá nhân, tôn trọng quan niệm và sự lựa chọn của mỗi thành viên trong gia
đình; tôn trọng lợi ích cá nhân, bình đẳng nam nữ, vợ chồng … Mặt khác, gia
đình Việt Nam cũng đang đừng trước rất nhiều thách thức, biến động, bất
trắc, có nguy cơ xâm hại và làm xói mòn những giá trị tốt đẹp của đạo đức gia
đình truyền thống. Trên thực tế ở nhiều nơi, nhất là ở những khu đô thị lớn,
gia đình đang có những dấu hiệu của sự khủng hoảng. Những giá trị đạo đức
của gia đình truyền thống đang bị lấn át bởi những quan hệ thực dụng, lối
5
sống lai căng, thiếu văn hóa, tình trạng ly hôn có xu hướng tăng cao, sống
chung không kết hôn, tình trạng trẻ em nghiên hút, tệ nạn mại dâm, tình dục
đồng giới, bạo lực gia đình… đang tấn công vào gia đình từ nhiều phương
diện khác nhau.
Để phát huy những giá trị tích cực và hạn chế những ảnh hưởng tiêu
cực của xu hướng biến đổi đạo đức gia đình truyền thống trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN, tôi chọn đề tài “Những biến đổi của đạo đức gia
đình truyền thống trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta hiện nay” làm luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu.
Trong thập niên cuối thế kỷ 20 và thập niên đầu thế kỳ 21, vấn đề gia
đình trở thành vấn đề thời sự nóng bỏng ở các nước khu vực Châu Á, trong đó
có Việt Nam, nơi vốn có truyền thống đề cao gia đình, đặc biệt là đạo đức gia
đình trong sự hình thành nhân cách của con người, sự tồn tại và phát triển xã
hội. Vì thế, có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về gia đình dưới
nhiều góc độ và quy mô khác nhau. Liên quan đến đề tài, có thể phân loại các
công trình này thành các nhóm cơ bản sau:
Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến đạo đức gia đình truyền
thống có một số công trình tiêu biểu như: “Từ đạo hiếu truyền thống, nghĩ về
đạo hiếu ngày nay” của Nguyễn Thị Thọ, tạp chí Triết học số 6 năm 2007;
ở nước ta. Đồng thời, các tác giả còn đề cập đến sự biến đổi về quy mô, cấu
trúc, chức năng của gia đình trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.
Như vậy, cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về gia
đình, về đạo đức gia đình nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về những
7
biến đổi của đạo đức gia đình truyền thống trong nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN. Do đó việc lựa chọn đề tài này làm luận văn thạc sỹ sẽ góp
một phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu về vấn đề gia đình Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở làm rõ thực trạng những biến đổi tích cực và tiêu cực của
đạo đức gia đình, luận văn đề xuất những giải pháp khắc phục những lệch lạc
của xu hướng biến đổi đạo đức gia đình truyền thống trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay.
Nhiệm vụ:
- Làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến gia đình truyền thống, đạo
đức gia đình truyền thống, về kinh tế thị trường và kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở Việt Nam.
- Chỉ ra một số xu hướng biến đổi cơ bản của đạo đức gia đình truyền
thống trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN hiện nay.
- Chỉ ra một số giải pháp nhằm khắc phục những lệch lạc của xu hướng
biến đổi đạo đức gia đình truyền thống trong nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
Cơ sở lý luận.
Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối
và chính sách của Đảng và Nhà nước ta về gia đình và đạo đức gia đình.
8
- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể dùng tài liệu tham khảo cho nghiên
cứu, giảng dạy, phục vụ học tập.
8. Kết cấu:
Ngoài phần mở đầu, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 2 chương, 4 tiết.
10
B/ NỘI DUNG
Chương 1
ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG
CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
ĐẾN SỰ BIẾN ĐỔI CỦA ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG
1.1. Đạo đức gia đình truyền thống
1.1.1. Khái niệm gia đình truyền thống
- Khái niệm về gia đình
Trong cuộc đời mỗi người, gia đình luôn là điểm tựa, là cội nguồn, là
cái nôi của sự yên bình, là yếu tố vô cùng cần thiết cho mỗi người và xã hội.
Trong lịch sử phát triển của xã hội, gia đình có vị trí đặc biệt, bởi nó là tế bào
của xã hội, nó là gốc của một quốc gia. Chính vì vậy, gia đình và những vấn
đề liên quan đến gia đình được nhiều người quan tâm nghiên cứu, bàn luận.
Nhưng khái niệm “gia đình” không ngừng thay đổi cùng với sự vận động,
biến đổi của xã hội. Mỗi giai đoạn lịch sử có quan niệm khác nhau về gia đình.
Theo quan điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen: “Hàng ngày tái tạo ra
đời sống của bản thân mình, con người còn tái tạo ra những người khác, sinh
sôi nảy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia
đình” [33, tr. 41]. Với quan niệm này, khái niệm “gia đình” được thể hiện ở
hai nội dung: Thứ nhất, gia đình ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại
của xã hội loài người, cùng với quá trình tái tạo ra chính bản thân con người;
thứ hai, gia đình được tạo ra chủ yếu bởi hai mối quan hệ: quan hệ hôn nhân
(chồng – vợ) và quan hệ huyết thống (cha, mẹ - con cái). Như vậy, gia đình là
Ở Việt Nam, gia đình truyền thống là một khái niệm mang nhiều hàm
nghĩa khác nhau. Người ta cũng có thể hiểu gia đình truyền thống là gia đình
12
Nho giáo hoặc là gia đình phong kiến. Một số khác muốn nhấn mạnh tinh
thần dân tộc, muốn gạt bỏ yếu tố “Nho giáo” hoặc “phong kiến” ra khỏi khái
niệm gia đình truyền thống để đồng nhất gia đình truyền thống với hình thái
gia đình Việt Nam cổ, trước khi Nho giáo xâm nhập. Khi ấy gia đình được coi
là tổ ấm của mỗi người, trong đó sự thuỷ chung, lòng thương yêu và ý thức
trách nhiệm là những giá trị cơ bản.
Có người lại coi gia đình truyền thống chỉ là một kiểu, loại gia đình
bên cạnh những loại gia đình khác. Đó là kiểu “gia đình bình dân” trong xã
hội phong kiến.
Trong dân gian, gia đình truyền thống được coi là đại gia đình mà các
thành viên liên kết với nhau bằng chuỗi quan hệ huyết thống. Trong gia đình
này có thể cùng chung sống từ 3 thế hệ trở lên: ông bà – cha mẹ – con cái mà
người ta quen gọi là "tam, tứ, ngũ đại đồng đường". Kiểu gia đình này khá
phổ biến và tập trung nhiều nhất ở nông thôn Bắc Bộ. Nền kinh tế tiểu nông là
cơ sở phát sinh và tồn tại của nó. Về mặt tâm lý, người Việt Nam luôn có xu
hướng quần tụ con cái xung quanh mình. Bởi thế, các đại gia đình cùng sống
dưới một mái nhà hoặc vài nhà kế nhau cũng là hình thức tổ chức gia đình
phổ biến ở đô thị [55].
Trong những năm gần đây, có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về
gia đình truyền thống Việt Nam để tìm ra các đặc điểm, giá trị … của nó.
Trong nhiều cách định nghĩa thì chúng tôi nhất trí với khái niệm gia đình
truyền thống của giáo sư Đỗ Thái Đồng. Ông cho rằng: "Gia đình truyền
thống chắc hẳn là gia đình ở nông thôn, là gia đình ở những xã hội nông
nghiệp Á Đông đã tồn tại lâu đời và gần như bất biến trên nhiều khía cạnh.
Như vậy, đó cũng là kiểu gia đình nông nghiệp, là một định chế gắn liền với
nền nông nghiệp cổ truyền" [9, tr.9].
thể khái quát: “Đạo đức gia đình chính là tổng thể những nguyên tắc, những
chuẩn mực đạo đức điều chỉnh hành vi và quan hệ của các thành viên trong
gia đình nhằm đảm bảo sự ổn định và phát triển của gia đình phù hợp với yêu
cầu của xã hội” [54, tr.27 – 28].
Trong đời sống gia đình, nhất là trong đời sống gia đình truyền thống,
các quan hệ giữa cha mẹ và con cái, giữa vợ và chồng, giữa anh chị em, giữa
mỗi gia đình với họ hàng, làng nước là những mối quan hệ căn bản, ổn định
và bền vững. Trong mối quan hệ như vậy có những chuẩn mực căn bản, đặc
trưng nhất mà các chủ thể của quan hệ phải thực hiện để khẳng định nhân
cách đạo đức của mình. Việc thực hiện các chuẩn mực này một mặt là sự thực
hiện yêu cầu của xã hội, mặt khác là do yêu cầu nội tại của sự ổn định gia
đình như một chỉnh thể, một thiết chế xã hội.
Như vậy, theo chúng tôi, đạo đức gia đình truyền thống là những
nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực về ứng xử, giao tiếp của các thành viên trong
gia đình được xã hội chấp nhận và có tác dụng điều chỉnh hành vi xã hội của
cá nhân hay của nhóm người trong xã hội cũ.
1.1.3. Những chuẩn mực đạo đức cơ bản của đạo đức gia đình truyền
thống Việt Nam
Với tư cách là hình thái ý thức xã hội, giống như các hình thái ý thức
xã hội khác, ý thức đạo đức phản ánh tồn tại xã hội. Tuy nhiên tính đặc thù
của ý thức đạo đức là ở chỗ nó không phản ánh trực tiếp tồn tại xã hội mà
phản ánh gián tiếp thông qua khâu lợi ích. Lợi ích của xã hội được thể hiện
dưới hình thức các yêu cầu của xã hội đối với con người một khi được hình
thành những khuôn mẫu điều chỉnh, định hướng cho hành vi, hoạt động của
con người thì trở thành chuẩn mực đạo đức.
15
Chuẩn mực đạo đức là một hệ thống các nguyên tắc có ảnh hưởng chi
phối hành vi đạo đức được chấp nhận bởi xã hội. Chúng là hệ thống các
phương pháp, cách thức thực hiện một việc gì đó theo một quy tắc chính thức
thay đổi. Như vậy, khái niệm chung thuỷ là một khái niệm rộng. Trong quan
hệ vợ chồng, chung thuỷ được hiểu là vợ chồng phải luôn chung tình, gắn bó
tình cảm yêu thương chỉ với nhau mà thôi.
Có thể nói, giá trị nổi bật trong gia đình truyền thống trong quan hệ vợ
chồng là lòng chung thuỷ, nó được coi là nền tảng để xây dựng gia đình êm
ấm, hạnh phúc. Tuy nhiên, lòng chung thuỷ được đề cập trong quan hệ vợ
chồng chủ yếu chỉ đặt ra với người vợ. Người chồng có thể nhiều thê thiếp
nhưng người vợ chính chuyên chỉ có một chồng. Phụ nữ nói chung, người vợ
nói riêng, trinh tiết và đức hạnh là những tiêu chuẩn đầu tiên, những phụ nữ
một lòng một dạ với chồng chẳng may chồng chết phải ở vậy nuôi con, thờ
chồng thì được coi là người có đức hạnh, nhà vua sẽ ban “Tiết hạnh khả
phong” cho người phụ nữ ấy để làm gương cho mọi người. Ngược lại, nếu
không chồng mà chửa hoang hoặc ngoại tình thì bị khinh rẻ, xa lánh, kỳ thị
thậm chí còn phải chịu những hình phạt nặng nề.
Trong gia đình, quan hệ vợ chồng là quan hệ căn bản, đầu tiên để hình
thành một gia đình. Quan hệ này, về bản chất là không vụ lợi, sẵn sàng chia
sẻ và hi sinh vì nhau, là quan hệ nền tảng để xây dựng một gia đình hạnh
phúc. Gìn giữ và nuôi dưỡng mối quan hệ này trong quá trình chung sống là
điều kiện tiên quyết để đảm bảo cho quan hệ hôn nhân bền vững. Mặc dù,
trong các xã hội trước, hôn nhân phần lớn không xuất phát từ tình yêu mà là
17
do sự sắp đặt của gia đình nhưng không vì thế mà trong quan hệ vợ chồng lại
không tồn tại tình yêu, tình cảm. Trừ một số ít trường hợp, còn lại là khi
người ta chung sống với nhau như vợ chồng thì cùng với thời gian, tình cảm
sẽ nảy sinh. Bởi đã là vợ chồng thì sẽ có chung tài sản, chung trách nhiệm với
hai bên gia đình và chung trách nhiệm chăm sóc, dạy dỗ con cháu. Chính những
tác nhân ấy tạo nên tình nghĩa vợ chồng. Tình nghĩa vợ chồng cũng đòi hỏi vợ
chồng phải có trách nhiệm với nhau, nó là cơ sở tạo nên nội dung của hạnh phúc
gia đình, là động lực để thực hiện các trách nhiệm trong quan hệ gia đình.
đắm đuối vì con”… vì thế, khi khôn lớn, mỗi người không thể quên công ơn
dưỡng dục của cha mẹ.
Tình thương yêu của cha mẹ dành cho con không chỉ thể hiện khi con
còn thơ bé mà ngay cả khi con đã khôn lớn nên người, tình thương đó của cha
mẹ dành cho con vẫn không hề thay đổi. Con dù tóc đã pha sương, cha mẹ già
vẫn quan tâm lo lắng, trông chờ mỗi lúc con đi đâu, thăm hỏi khi con xa vắng.
Có những người cha người mẹ phải làm những việc mà xã hội cho là thấp hèn
để nuôi con khôn lớn. Nhiều đứa con ăn học thành tài nhờ sự gian khổ, tận
tụy hy sinh của cha mẹ vốn là những người lao động nghèo. Những đứa con
ấy như hoa sen mọc lên từ bùn, nhờ bùn lầy nước đọng mà đóa hoa ấy trở nên
thơm tho đẹp đẽ, góp phần làm đẹp cuộc đời. Nếu không có bùn thì không có
những đóa sen như thế.
Tình thương và trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái có cội nguồn
từ quan hệ huyết thống, nhưng nó còn chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo,
19
Phật giáo. Cả Nho giáo, Phật giáo đều đòi hỏi những người làm cha, làm mẹ
phải biết thương yêu và chăm lo cho con cái. Chẳng hạn, nói về tình thương
của cha mẹ đối với con cái, Phật giáo sử dụng chữ “Từ” với nghĩa là tình
thương vô lượng, vô biên. Nho giáo cũng sử dụng chữ “Từ” khi nhấn mạnh
tình yêu rộng lớn đó, nhưng chữ “Từ” này thường cho người mẹ. Từ mẫu
không chỉ là người mẹ hết lòng vì con mà còn là người mẹ có khả năng giáo
dục con thông qua sự cảm hoá bằng tình yêu rộng lớn. Mặc dù cũng dùng chữ
“Từ” cho người cha (cha từ, con hiếu), nhưng Nho giáo còn dùng chữ
Nghiêm để chỉ tính cách của người cha. Nghiêm phụ là từ để chỉ những người
cha biết yêu thương con cái một cách sáng suốt, biết kiên định, nghiêm túc và
mẫu mực trong việc giáo dục con cái theo luân thường đạo lý. Như vậy, cha
thương con không như mẹ, hai thái cực khác nhau nhưng đều có chung một
tình thương vô bờ. Tình thương của người cha nghiêm nghị, khô khan, không
mềm mại, nhu mì nên con cái ít cảm nhận được như tình thương của người
nuôi nấng, phụng dưỡng cha mẹ, ông bà; thuốc men khi ốm đau, tống táng
chu đáo và luôn ghi nhớ công ơn khi đã khuất. Ngoài ra chữ “Hiếu” ở Việt
Nam còn có nghĩa là biết khuyên can cha mẹ tránh những việc làm sai trái.
Đây là điểm khác biệt so với chữ “Hiếu” của Nho giáo (Hiếu theo quy định
của Nho giáo là con cái phải phục tùng cha mẹ một cách cứng nhắc).
Người xưa xem Hiếu là của báu, có cha mẹ sống để báo Hiếu là niềm
hạnh phúc lớn lao. Vì vậy, cha mẹ ngoài niềm vui được con cái biết vâng lời,
còn có niềm vui được con cái sống cùng cha mẹ để sớm hôm phụng dưỡng và
đỡ đần những khó khăn vất vả, thậm chí sẵn sàng hy sinh tính mạng để cứu
cha mẹ. Điều khiến cha mẹ đẹp lòng và tự hào nhất là khi con cái biết tìm
cách lập thân hoặc tạo dựng nên sự nghiệp mang lại lợi ích cho gia đình và xã
21
hội, làm cha mẹ được vẻ vang. Vì vậy, học hành chăm chỉ để đỗ đạt là biểu
hiện cao nhất của đạo Hiếu. Đó là kết quả của sự vâng lời, lòng kính yêu cha
mẹ, là biểu hiện cụ thể của lòng biết ơn cha mẹ của con cái.
Bên cạnh hiếu thì sự cung kính đối với cha mẹ là điều không thể thiếu
ở con cái. Điều này thể hiện trước hết ở việc giữ gìn phép tắc của gia đình”
kính trên, nhường dưới”. Con cái phải biết cách phụng dưỡng cha mẹ. Trong
giao tiếp thì kính cẩn, nhẹ nhàng, lễ phép, chu đáo. Nếu cha mẹ có gì sai trái
không được tỏ thái độ thiếu tôn kính, mà phải lựa dịp thuận lợi mà giãi bày,
“cha mẹ nói sai ngày mai thưa lại”. Sự cung kính còn thể hiện ở chỗ con cái
phải vâng lời cha mẹ, không sa vào tệ nạn hư hỏng, làm ảnh hưởng đến tương
lai, gây nhiều tiếng xấu cho cha mẹ. Có thể nói sự cung kính của con cái đối
với cha mẹ cũng chính là một nội dung của chữ Hiếu.
Như vậy, Hiếu với cha mẹ không chỉ thể hiện ở việc vâng lời cha mẹ,
kính yêu, chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ mà còn phải hết lòng quan tâm cha
mẹ về mặt tinh thần, chăm lo đời sống tâm linh của cha mẹ, chỉ như thế mới
có thể báo hiếu một cách trọn vẹn. Ngoài việc lo cho cha mẹ từng miếng ăn,
giấc ngủ và làm cho cha mẹ sống vui vẻ, hạnh phúc, con cái cần hướng cha
đỡ lẫn nhau giữa anh chị em là niềm hạnh phúc lớn nhất và cũng là niềm vui,
niềm tự hào của cha mẹ.
Tuy nhiên, trong gia đình truyền thống do yêu cầu thờ cúng tổ tiên nên
con trai được coi trọng hơn con gái, con trưởng có quyền hơn con thứ, do đó
quan hệ giữa anh chị em cũng là quan hệ bất bình đẳng. Trong gia đình, người
con trai cả có vị trí đặc biệt cao, chỉ đứng sau cha, khi cha mất thì anh thay
cha quyết định mọi việc “quyền huynh thế phụ”. Nhưng khi uy quyền được
trao vào tay người anh thì cũng là lúc anh phải gánh vác trách nhiệm thay cha
khuyên bảo, dạy dỗ, nuôi dưỡng em khôn lớn thành người. Ngược lại, người
em phải biết kính trọng, yêu thương, vâng lời anh. Chính sự gắn bó, trách
nhiệm và tình thương yêu đùm bọc đã gắn kết anh chị em trong gia đình thành
một khối. Nếu loại bỏ yếu tố gia trưởng, trọng nam khinh nữ dẫn đến sự bất