Quản lý khai thác di sản văn hóa quan họ bắc ninh trong hoạt động du lịch - Pdf 28


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ BÍCH VƯỢNG
QUẢN LÝ KHAI THÁC DI SẢN VĂN HÓA QUAN HỌ BẮC NINH
TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ : 60.34.01.02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN QUỐC CHỈNH
HÀ NỘI – 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page i


Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các phòng, ban, ngành của
tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh đã tạo điều kiện giúp đỡ
tôi trong quá trình nghiên cứu và thu thập tài liệu phục vụ cho luận văn.
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình và bạn bè đã
giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Bích Vượng Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page iii

MỤC LỤC Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục từ viết tắt vii
Danh mục bảng viii
Danh mục hình, sơ đồ ix
1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

3.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 31
3.2.1 Các di tích lịch sử văn hoá 32
3.2.2 Lễ hội 34
3.2.3 Ca múa nhạc 35
3.2.4 Làng nghề truyền thống 35
3.3 Cơ sở hạ tầng du lịch 35
3.4 Phương pháp nghiên cứu 36
3.4.1 Phương pháp thu thập 36
3.4.2 Phương pháp xử lý số liệu 37
3.4.3 Phương pháp phân tích 37
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39
4.1 Khái quát về di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh 39
4.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Quan họ Bắc Ninh 39
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page v

4.1.5 Những yếu tố văn hóa khác góp phần hình thành môi trường tồn
tại của văn hóa Quan họ Bắc Ninh 47
4.2 Quản lý khai thác di sản văn hóa Quan họ trong hoạt động du lịch 52
4.2.1 Xây dựng ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý khai
thác di sản văn hóa quan họ 52
4.2.2 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về quản lý khai thác di sản
văn hóa 53
4.2.3 Đánh giá tài nguyên khai thác di sản văn hóa quan họ trong hoạt
động du lịch 55
4.2.4 Bảo tồn, tôn tạo di sản văn hóa 58
4.2.5 Tổ chức các hoạt động du lịch di sản văn hóa 60
4.2.6 Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực về quản lý khai thác
di sản văn hóa trong hoạt động du lịch 70
4.2.7 Tuyên truyền quảng bá di sản văn hóa quan họ trong hoạt động
du lịch 73

NSTW Ngân sách Trung ương
NXB, XB Nhà xuất bản, Xuất bản
QLNN Quản lý Nhà nước
UBND Uỷ ban nhân dân
UNESCO Tổ chức Giáo dục khoa học và Văn hoá liên hợp quốc
VHNT&DL Văn hoá Nghệ thuật và Du lịch
VHTT&DL Văn hoá Thể thao và Du lịch
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page viii

DANH MỤC BẢNG

STT Tên bảng Trang

3.1 Các di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu đã được xếp hạng cấp quốc
gia và cấp tỉnh 33
3.2 Dung lượng mẫu điều tra 37


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 1

1. MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Chiến lược phát triển du lịch và Quy hoạch phát triển du lịch Việt Nam
đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đều xác định ưu tiên phát triển loại
hình du lịch văn hóa; đặc biệt là yếu tố văn hóa truyền thống dân tộc để phát
triển du lịch có chất lượng, hiệu quả, bền vững và có sức cạnh tranh. Đây
cũng là hướng đi phù hợp với xu thế phát triển du lịch trên thế giới khi mà
cùng với cuộc sống hiện đại, con người càng ngày càng có nhu cầu thưởng
thức giá trị văn hóa, nâng cao hiểu biết về bản sắc văn hóa của dân tộc mình
và tìm hiểu các dân tộc khác.
Để du lịch Việt Nam hấp dẫn du khách thì điều quan trọng chính là việc
chúng ta phải biết tận dụng phát huy “những nét khác biệt” văn hóa, bản sắc
dân tộc để khai thác xây dựng các loại hình du lịch, các sản phẩm du lịch đặc
trưng, độc đáo. Đây có thể coi là yếu tố cơ bản quyết định sức cạnh tranh du
lịch của mỗi quốc gia.
Bắc Ninh một vùng văn hóa đặc trưng rất nổi tiếng của thi ca, nhạc họa
mà sinh hoạt văn hóa dân ca Quan họ Bắc Ninh là một điển hình. Dân ca

thống hóa các giá trị văn hóa của Quan họ Bắc Ninh như một tài nguyên du
lịch, xác định vị trí các làng Quan họ gốc đồng thời đánh giá thực trạng hoạt
động du lịch gắn với giá trị Quan họ Bắc Ninh, đề xuất các giải pháp nhằm
khai thác hiệu quả giá trị di sản văn hóa Quan họ trong hoạt động du lịch.
Du lịch gắn với các giá trị di sản văn hóa Quan họ chính là điểm khác biệt, là
thế mạnh nổi bật của Bắc Ninh. Nếu được quan tâm đúng mức và đầu tư bài bản
cho hoạt động du lịch, chắc chắn hình ảnh du lịch gắn với Quan họ sẽ là thương
hiệu hấp dẫn của điểm đến Bắc Ninh nói riêng và của Việt Nam nói chung.
Với mong muốn di sản Quan họ Bắc Ninh được bảo tồn thông qua
hoạt động du lịch, làm đa dạng hóa các sản phẩm, loại hình du lịch của
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 3

Bắc Ninh góp phần tăng cường năng lực cạnh tranh cho Du lịch Việt
Nam, thu hút đông thêm lượng khách đi du lịch cả đối tượng là khách nội
địa và khách quốc tế trong giai đoạn đầy cạnh tranh của du lịch thế giới
hiện nay, do đó Tôi đã chọn đề tài “Quản lý khai thác di sản văn hóa
Quan họ Bắc Ninh trong hoạt động du lịch”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng quản lý khai thác di sản văn hóa Quan họ,
đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về di
sản văn hóa Quan họ, tạo điều kiện phát triển du lịch góp phần bảo tồn di sản văn
hóa Quan họ Bắc Ninh.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý khai thác
di sản văn hóa trong hoạt động du lịch;
- Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý khai thác di sản văn hóa Quan
họ Bắc Ninh trong hoạt động du lịch;
- Đề xuất giải pháp tăng cường quản lý khai thác di sản văn hóa Quan họ
Bắc Ninh để phát triển du lịch góp phần bảo tồn di sản văn hóa Quan họ.

2.1. Cơ sở lý luận về quản lý khai thác di sản văn hoá
2.1.1. Cơ sở lý luận về di sản văn hóa
2.1.1.1. Các khái niệm về di sản văn hoá
- Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Di sản là cái của thời trước để lại. Di
sản văn hoá theo nghĩa Hán Việt là những tài sản văn hóa có giá trị của quá
khứ còn tồn tại trong cuộc sống đương đại và tương lai. Di là để lại, còn lại,
dịch chuyển, chuyển lại. Sản là tài sản, là những gì quý giá, có giá trị. Di sản
văn hóa được hiểu bằng sự tổng hợp của các ý nghĩa nói trên.
- Năm 1983, Hội nghị Di sản toàn quốc của Vương quốc Anh đã định
nghĩa: “di sản là những gì thuộc về thế hệ trước giữ gìn và chuyển giao cho
thế hệ hiện nay và những gì mà một nhóm người quan trọng trong xã hội hiện
nay mong muốn chuyển giao cho thế hệ tương lai”.
- Luật Di sản văn hoá của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
xác định: “di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn
hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa
học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã
hội chủ nghĩa Việt Nam”.
- Đại hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp
quốc, gọi tắt là UNESCO họp phiên thứ 32 tại Paris từ 29-9 đến 17-10-2003
đã bàn thảo và ra Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể. Công ước đã
ghi nhận: Các quá trình toàn cầu hóa và chuyển đổi cơ cấu xã hội cùng với
các điều kiện khác đã tạo nhiều cơ hội đối thoại mới giữa các cộng đồng,
đồng thời cũng làm nảy sinh những mối đe dọa về sự suy thoái biến mất và
hủy hoại các di sản văn hóa phi vật thể.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 6

Luật Di sản văn hóa năm 2001 cùng với các văn bản hướng dẫn đi kèm
đã trở thành cơ sở pháp lý quan trọng, nhằm tăng cường nhận thức và hành
động cho toàn xã hội, tăng cường sự hiểu biết về di sản và quá trình bảo vệ,

khoa học, bao gồm các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật,
cổ vật, bảo vật quốc gia ( ) Giá trị đặc biệt quý hiếm của bảo vật quốc gia
được thể hiện bằng các tiêu chí sau đây:
- Hiện vật nguyên gốc, độc bản.
- Hình thức độc đáo.
- Có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học thể hiện:
+ Là vật chứng của một sự kiện lớn hoặc gắn bó với cuộc sống, sự
nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân kiệt xuất.
+ Là tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng về giá trị tư tưởng - nhân văn, giá trị
thẩm mỹ và hình thức thể hiện tiêu biểu cho một khuynh hướng, một phong
cách, một thời đại.
+ Là sản phẩm được phát minh, sáng chế tiêu biểu có giá trị thực tiễn
cao, có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển ở một giai đoạn lịch sử nhất định.
- Được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận sau khi có ý kiến
của thẩm định của “Hội đồng Di sản văn hóa Quốc gia”
* Đặc điểm của di sản văn hoá phi vật thể:
+ Di sản “Văn hóa phi vật thể” (intangible culture) là dạng thức tồn tại
của văn hóa không phải chủ yếu dưới dạng vật thể có hình khối trong không
gian và thời gian, mà nó tiềm ẩn trong trí nhớ, ký ức cộng đồng, tập tính, hành
vi ứng xử của con người và thông qua các hoạt động sống của con người
trong sản xuất, giao tiếp xã hội mà thể hiện ra. Từ đó người ta có thể nhận biết
được sự tồn tại của “văn hóa phi vật thể”.
+ Đặc trưng rõ nhất của “văn hóa phi vật thể” là nó luôn tiềm ẩn trong
tâm thức của một cộng đồng xã hội và chỉ bộc lộ ra qua hành vi và hoạt động
của con người. “Văn hóa phi vật thể” được lưu giữ trong thế giới tinh thần của
con người và thông qua các hình thức diễn xướng, nó được bộc lộ sinh động
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 8

trong tư cách một hiện tượng văn hóa.
+ “Di sản “văn hóa phi vật thể” (intangible culture) được hiểu là các

chế tôn giáo, tín ngưỡng.
2.1.1.3. Vai trò của di sản văn hóa
- Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc
Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn
trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta.
- Di sản văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, đồng thời là mục tiêu
của sự phát triển. Văn hóa là động lực của sự phát triển, bởi lẽ mọi sự phát
triển đều do con người quyết định chi phối.
- Di sản văn hóa khơi dậy và nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của con
người, huy động sức mạnh nội sinh to lớn trong con người đóng góp vào sự
phát triển xã hội.
- Di sản văn hóa là hệ điều tiết của sự phát triển. Bởi lẽ, văn hóa phát
huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của các nhân tố khách quan và chủ
quan, của các điều kiện bên trong và bên ngoài, bảo đảm cho sự phát triển
được hài hòa, cân đối, lâu bền.
- Trong nền kinh tế thị trường, một mặt di sản văn hóa dựa vào chuẩn
mực của nó là chân, thiện, mỹ (cái đúng, cái tốt, cái đẹp) để hướng dẫn và
thúc đẩy người lao động không ngừng phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật,
nâng cao tay nghề, sản xuất hàng hóa với số lượng ngày càng nhiều với chất
lượng ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu không ngừng tăng lên của xã hội
- Mặt khác, di sản văn hóa sử dụng sức mạnh của các giá trị truyền
thống, của đạo lý, dân tộc để hạn chế xu hướng sùng bái hàng hóa, sùng bái
tiền tệ, nghĩa là hạn chế xu hướng tiêu cực của hàng hóa và đồng tiền “xuất
hiện với tính cách là lực lượng có khả năng xuyên tạc bản chất con người,
cũng như những mối liên hệ khác”. Hạn chế những tiêu cực này chỉ có thể là
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 10

văn hóa và chủ yếu bằng văn hóa.
Đối với mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, di sản văn hóa được xem là báu vật
thiêng liêng mà mỗi thế hệ phải có trách nhiệm phát huy và bảo tồn cho các

hiện cụ thể qua việc, lập kế hoạch hoạt động, đảm bảo tổ chức, điều phối,
kiểm tra, kiểm soát. Hướng được sự chú ý của con người vào một hoạt động
nào đó; điều tiết được nguồn nhân lực, phối hợp được các hoạt động bộ phận.
- Quản lý là thiết lập, khai thông các quan hệ cụ thể để hoạt động đông
người được hình thành, tiến hành trôi chảy, đạt hiệu quả cao bền lâu và không
ngừng phát triển. Chẳng thế mà người Nhật khẳng định rằng: " Biết cái gì,
biết làm gì là quan trọng nhưng quan trọng hơn là biết quan hệ ". Người Mỹ
cho rằng: "Chi phí cho thiết lập, khai thông các quan hệ thường chiếm 25%
đến 50% toàn bộ chi phí cho hoạt động ".
- Quản lý là tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý một
cách gián tiếp và trực tiếp nhằm thu được nhưng diễn biến, thay đổi tích cực.
- Về cơ bản có thể định nghĩa: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng
đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra.
 Quản lý khai thác di sản văn hóa
- Quản lý khai thác di sản văn hoá là việc áp dụng các chức năng quản lý
trong khai thác di sản văn hóa nhằm làm cho quá trình khai thác, phát huy các di
sản văn hóa (trong du lịch) ngày càng trở thành là quá trình tự giác, có ý thức và
có phương pháp theo hướng phấn đấu biến mọi giá trị lịch sử - văn hóa của các
di sản hiện có trở thành cái “thần”, cái “hồn” độc đáo nhằm tạo ra những “đặc
sản” du lịch có quy mô đầu tư ngày càng lớn, có sức thu hút ngày càng mạnh.
+ Nội dung, biện pháp quản lý ấy gồm có: các cơ sở pháp lý, các chế độ
chính sách, vấn đề quy hoạch và kế hoạch v.v…
+ Mục tiêu cụ thể của quá trình quản lý ấy là nhằm làm cho các địa
phương trong vùng không phải chỉ khác nhau về tên gọi mà còn tỏa sáng
những cái riêng đặc sắc cả về thiên nhiên đất trời lẫn về văn hóa - lịch sử, con
người tại chỗ dựa trên nền tảng vừa khai thác vừa giữ gìn tốt được mọi nguồn
tiềm năng tài nguyên du lịch của các địa phương, đơn vị đặc biệt là những thế
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 12

mạnh về các vốn di sản văn hóa, qua đó góp phần phát huy được mọi thế

2.1.3. Nội dung của quản lý khai thác di sản văn hóa
Theo mục 4 điều 11 của Luật du lịch năm 2005, các qui định hiện hành
của Nhà nước và tình hình thực tiễn của quản lý nhà nước về du lịch cấp tỉnh

nội dung chủ yếu của quản lý khai thác di sản văn hóa bao gồm:
2.1.3.1. Xây dựng ban hành văn bản quy phạm pháp luật về Quản lý khai thác
di sản văn hoá trong hoạt động du lịch
Để chính sách, pháp luật đi vào cuộc sống các cơ quan nhà nước nói
chung, chính quyền cấp tỉnh nói riêng phải tổ chức xây dựng ban hành văn
bản quy phạm pháp luật về quản lý khai thác di sản văn hoá trong hoạt động
du lịch một cách tốt nhất.
Để phát triển du lịch trên cơ sở khai thác tiềm năng của di sản văn
hoá, chính quyền cấp tỉnh phải tích cực nghiên cứu và ban hành các cơ chế,
chính sách thuộc thẩm quyền mang tính đặc thù ở địa phương như chính
sách khuyến khích đầu tư, chính sách ưu đãi tiền thuê đất, thời hạn thuê đất,
chính sách ưu đãi tín dụng, nhằm tạo điều kiện thuận lợi, tạo sự an tâm, tin
tưởng cho các tổ chức, cá nhân (kể cả trong nước và ngoài nước) khi bỏ vốn
đầu tư kinh doanh du lịch.
Việc ban hành các cơ chế, chính sách của địa phương vừa phải bảo đảm
theo đúng các quy định của pháp luật và quy định của cơ quan nhà nước cấp
trên, vừa phải thông thoáng trên cơ sở sử dụng nguồn lực của địa phương để
khuyến khích phát triển, đồng thời cũng phải đảm bảo tính ổn định và bình
đẳng, tính nghiêm minh trong quá trình thực thi. Bên cạnh đó, chính quyền
cấp tỉnh cần tiếp tục thực hiện cải cách hành chính ở địa phương theo hướng
chuyên nghiệp và hiệu quả. Tiếp tục thực hiện mô hình một cửa trong đăng ký
đầu tư, đăng ký kinh doanh Thực hiện chuẩn hóa các thủ tục hành chính
theo tinh thần triệt để tuân thủ pháp luật, công khai, minh bạch, thuận tiện.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 14

2.1.3.2. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về quản lý khai thác di sản văn hoá

những di sản văn hóa phi vật thể. Không ít sản phẩm văn hóa do chạy theo mục
tiêu lợi nhuận, mục tiêu kinh tế đã bóp méo, cải biên di sản, phản ánh không
chân thực giá trị của truyền thống, làm sai lệch hình ảnh văn hóa dân tộc.
Do vậy, việc khai thác, phát huy di sản văn hóa phải gắn liền với việc
giữ gìn, bảo tồn. Bảo vệ di sản văn hóa chính là một trong 3 tiêu chí để đảm
bảo phát triển du lịch bền vững: bền vững về kinh tế; bền vững về tài nguyên
môi trường và bền vững về văn hóa - xã hội.
Vì vậy, khi khai thác di sản phục vụ du lịch, việc xử lý hài hòa mối
quan hệ giữa bảo tồn và phát triển là một bài toán khó cho ngành du lịch, bảo
tồn không cản trở sự phát triển; phát triển không làm tổn hại đến bảo tồn.
2.1.3.5. Tổ chức các hoạt động du lịch di sản văn hóa
- Dịch vụ lưu trú
+ Đối với cơ sở lưu trú như khách sạn, nhà nghỉ… đủ điều kiện kinh
doanh theo NĐ 92/CP của Chính phủ do ngành du lịch cấp quyết định công
nhận loại, hạng cơ sở lưu trú du lịch, hàng năm ngành du lịch đều tổ chức
đoàn kiểm tra liện ngành để hướng dẫn và xử lý các vi phạm.
- Dịch vụ ăn uống
Phải được kiểm định an toàn thực phẩm. Tuy nhiên ở đây, các nhà hàng,
quán ăn đủ tiêu chuẩn có rất ít, chủ yếu là các quán ăn do hộ gia đình mở ra
theo tính mùa vụ. Chính vì vậy vấn đề an toàn vệ sinh chưa đảm bảo, rác vứt
bừa bãi, nước để rửa và nấu ăn không được kiểm soát. Trước thực trạng này,
hàng năm, trung tâm y tế của huyện kết hợp với xã tiến hành kiểm tra định kỳ
đặc biệt là trong dịp lễ hội.
- Dịch vụ vé tham quan
Việc quản lý bán vé thắng cảnh do Ban quản lý di tích đảm nhiệm. Vào
mùa lễ hội, tỉnh và huyện đều thành lập Ban chỉ đạo của mình, thành lập ban
tổ chức để giám sát, đôn đốc, bảo đảm trật tự an toàn cho khách.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status