Giáo dục đạo đức môi trường cho sinh viên Trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường miền Trung hiện nay - Pdf 28



ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
TRƯờNG ĐạI HọC KHOA HọC Xã HộI Và NHÂN VĂN

MAI THị THU HằNG GIáO DụC ĐạO ĐứC MÔI TRƯờNG
CHO SINH VIÊN TRƯờNG CAO ĐẳNG TàI NGUYÊN
Và MÔI TRƯờNG MIềN TRUNG HIệN NAY

Luận văn Thạc sĩ
Chuyên ngành Triết học

Hà Nội - 2014 ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI


MỞ ĐẦU 1
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẠO ĐỨC MÔI
TRƯỜNG VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC MÔI TRƯỜNG CHO SINH
VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
MIỀN TRUNG HIỆN NAY 9
1.1. Đạo đức môi trường 9
1.1.1. Thực chất của đạo đức môi trường 9
1.1.2. Những chuẩn mực cơ bản của đạo đức môi trường 13
1.2. Sự cần thiết phải giáo dục đạo đức môi trường cho sinh viên
trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường miền Trung hiện nay 17
1.2.1. Giáo dục đạo đức môi trường là một phương diện, một nhiệm
vụ của giáo dục, đào tạo tại trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi
trường miền Trung 17
1.2.2. Giáo dục đạo đức môi trường góp phần hoàn thiện đạo đức,
nhân cách người sinh viên 20
1.2.3. Giáo dục đạo đức môi trường góp phần xây dựng nền tảng
đạo đức cho người cán bộ quản lý môi trường trong tương lai 21
1.3. Nội dung và phương pháp giáo dục đạo đức môi trường cho
sinh viên trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường miền Trung 23
1.3.1. Nội dung giáo dục 23
1.3.2. Phương pháp giáo dục 28
Tiểu kết chương 1 29 Chương 2. THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC MÔI
TRƯỜNG CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG TÀI
NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG MIỀN TRUNG 31
2.1. Thực trạng giáo dục đạo đức môi trường cho sinh viên trường

tại và sự tồn vong của xã hội loài người trong tương lai.
Ở Việt Nam, vấn đề môi trường cũng đang đứng trước những thách
thức nghiêm trọng đòi hỏi cần phải có sự hợp tác rộng rãi trên nhiều phương
diện của tất cả các tổ chức, cá nhân và của cả cộng đồng để bảo vệ môi trường
– cái nôi sinh thành của nhân loại. Từ đó có thể đảm bảo cho sự phát triển bền
vững, nghĩa là thỏa mãn những nhu cầu trong hiện tại mà không xâm phạm
đến khả năng thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ tương lai.
Từ hàng chục năm nay, người ta bằng cách này hay cách khác, bằng
con đường nay hay con đường khác, đã cố gắng bảo vệ môi trường, song kết
quả còn nhiều hạn chế. Có lẽ, chính thực trạng hiện nay buộc chúng ta phải có
nhiều cách làm mới, nghĩa là chúng ta không thể chỉ dừng lại ở mức độ bảo
vệ môi trường về mặt kỹ thuật mà phải đặt ra vấn đề đạo lí, ý thức trách
nhiệm và tình cảm vì môi trường, bởi vì ý thức và tình cảm vì môi trường sẽ
giúp con người tự giác, tích cực bảo vệ môi trường bằng mọi cách, coi đó là
đạo lí, là lương tâm của mình. Để đạt được điều này, chúng ta phải thực hiện
hàng loạt các biện pháp phức tạp, trong đó, giáo dục đạo đức môi trường.
Điều quan trọng hơn, giáo dục đạo đức môi trường thúc đẩy mạnh mẽ những 2
sự thay đổi trong hành vi, giúp con người biết quyết định, biết tham gia bảo
vệ môi trường một cách tự giác và tích cực.
Giáo dục đạo đức môi trường có thể được tiến hành thông qua nhiều
cấp học khác nhau song giáo dục đạo đức môi trường ở trường đại học, cao
đẳng chiếm vị trí đặc biệt bởi vì đây là nơi đào tạo thế hệ trẻ, những chủ nhân
tương lai của đất nước. Giáo dục đạo đức môi trường cho sinh viên vừa đạt
lợi ích trước mắt vừa có lợi ích lâu dài và vì vậy mà việc này được xem là có
tác dụng lớn, sâu sắc và lâu bền nhất.
Trường cao đẳng Tài nguyên và Môi trường miền Trung là cơ sở đào
tạo cán bộ làm công tác quản lí tài nguyên, môi trường. Vì thế, bên cạnh việc

trường nói chung mà còn cho thấy, đạo đức môi trường và công tác giáo dục
đạo đức môi trường chưa được nhận thức và quan tâm giáo dục đúng mức.
Cùng với các báo cáo thường niên của Bộ Tài nguyên và Môi trường,
trong thời gian qua đã có nhiều nghiên cứu về đạo đức môi trường và giáo
dục đạo đức môi trường, sau đây là những công trình tiêu biểu:
Phạm Thị Ngọc Trầm, "Đạo đức sinh thái: Từ lý luận đến thực tiễn",
Triết học, số 2/1999; Phạm Thị Ngọc Trầm, “Vấn đề xây dựng đạo đức sinh
thái trong điều kiện kinh tế thị trường”, Triết học, số 3/ 2002; Phạm Thị Ngọc
Trầm (Chủ biên), Quản lý nhà nước đối với tài nguyên và môi trường vì sự
phát triển bền vững dưới góc nhìn xã hội – nhân văn, Nxb. Khoa học xã hội,
Hà Nội, 2006; Hồ Sỹ Quý, “Về đạo đức môi trường”, Triết học, số 9/2005;
Nguyễn Văn Phúc, “Bảo vệ môi trường nhìn từ góc độ đạo đức”, Triết học,
số 4/2010; “Bảo vệ môi trường cần ý thức trong mỗi cá nhân”, Báo
Vietnamnet ngày 12/08/2008; Dự án điều tra cơ bản “Đánh giá đạo đức môi
trường ở nước ta hiện nay”, do Viện Khoa học xã hội Việt Nam thực hiện
(2009 – 2010); Hội thảo quốc gia “Giáo dục môi trường trong các trường 4
học”, Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường cùng Đại học quốc gia
Hà Nội phối hợp thực hiện
Trong những công trình trên, sự cần thiết phải giáo dục đạo đức môi
trường đã được luận chứng. Theo đó, việc giáo dục đạo đức môi trường là
nhằm góp phần khắc phục tình trạng khai thác tự nhiên quá mức và là một
trong những giải pháp gìn giữ mối quan hệ hài hòa giữa con người và tự
nhiên, đảm bảo cho phát triển bền vững. Đạo đức môi trường được thể hiện
trong tất cả các phương diện, các lĩnh vực hoạt động của xã hội và con người
từ sản xuất, du lịch, giải trí đến sinh hoạt hàng ngày. Điều đó đòi hỏi phải
giáo dục về đạo đức môi trường cho tất cả mọi người không phân biệt địa vị
xã hội, tuổi tác. Những xuống cấp trong đạo đức môi trường không chỉ biểu

Trong các công trình trên, các tác giả cũng đánh giá thực trạng, phân
tích những thành tựu, những hạn chế trong công tác giáo dục đạo đức môi
trường ở nước ta hiện nay. Bằng những dẫn chứng về tình trạng xuống cấp
môi trường nghiêm trọng ở nhiều khu đô thị, thành phố, làng nghề, những
dòng sông và vùng ven biển, các tác giả đã cho thấy những yếu kém trong bảo
vệ môi trường và trong việc giáo dục đạo đức môi trường. Các giải pháp giáo
dục đạo đức môi trường được các tác giả đề xuất là khá toàn diện và khả thi;
chúng dựa trên những nghiên cứu lí luận tương đối tập trung, dựa trên những
đánh giá khá toàn diện và những tham khảo kinh nghiệm quốc tế
Những thành tựu nghiên cứu về đạo đức môi trường và giáo dục đạo
đức môi trường được nêu trên có phạm vi nghiêm cứu ở cấp độ xã hội, cấp độ
quốc gia. Chỉ trong một số trường hợp cụ thể nhất định, đạo đức môi trường
trong trường học và giáo dục đạo đức môi trường trong trường học mới được
đề cập như ví dụ minh họa. Hiện tại, chưa có một công trình nào nghiên cứu
trực tiếp và cụ thể về giáo dục đạo đức cho sinh viên trường Cao đẳng Tài
nguyên và Môi trường miền Trung. Tuy vậy, những thành tựu trên chính là 6
những căn cứ, những gợi ý để chúng tôi vận dụng trong việc nghiên cứu vấn
đề giáo dục đạo đức môi trường cho sinh viên trường Cao đẳng Tài nguyên và
Môi trường miền Trung. Những điều mà các công trình trên không đề cập (do
chúng không đặt ra mục đích đề cập), sẽ được chúng tôi thực hiện trong luận
văn này; đó là: Làm rõ tầm quan trọng, những nội dung, chuẩn mực chủ yếu
của giáo dục đạo đức môi trường cho sinh viên; đánh giá thực trạng và đề
xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả của giáo dục đạo đức
môi trường cho sinh viên trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường miền
Trung hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu

trường học.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,
luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: lịch sử và logic,
phân tích và tổng hợp, so sánh, đối chiếu, khái quát hóa, điều tra xã hội học
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Giáo dục đạo đức môi trường cho sinh viên trường Cao đẳng Tài
nguyên và Môi trường miền Trung hiện nay.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Các hoạt động giáo dục đạo đức môi trường ở trường Cao đẳng Tài
nguyên và Môi trường miền Trung từ đổi mới đến nay. 8
6. Đóng góp mới của luận văn
- Làm rõ một số chuẩn mực và vai trò của giáo dục đạo đức môi trường
cho sinh viên trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường miền Trung
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của giáo dục đạo
đức môi trường cho sinh viên trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường
miền Trung.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Luận văn góp phần làm rõ về mặt lý luận một lĩnh vực cần thiết nhưng
còn ít được quan tâm, đó là giáo dục đạo đức môi trường cho sinh viên.
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho học sinh, sinh
viên các trường trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học về giáo dục
đạo đức môi trường; luận văn cũng có ý nghĩa khuyến nghị đối với công
tác giáo dục đạo đức môi trường cho sinh viên Trường Cao đẳng Tài
nguyên và Môi trường miền Trung.
8. Kết cấu của luận văn

mình. Có thể nói con người ngày nay đã và đang ý thức về tầm quan trọng và 10
giá trị của môi trường một cách sâu sắc. Chúng ta nhận thấy rằng các quốc gia
cần thay đổi chính sách và mô hình phát triển kinh tế để đảm bảo sự cân bằng
giữa con người, xã hội và tự nhiên.
Nhận thức mới về môi trường là cơ sở để ra đời lĩnh vực mới, một
cách ứng xử mới đối với môi trường - Lĩnh vực đạo đức môi trường. Về
khái niệm đạo đức môi trường có một số quan niệm khác nhau của các tác
giả nước ngoài:
Bách khoa thư triết học Stanford cho rằng, đạo đức môi trường là lĩnh
vực nghiên cứu mối quan hệ đạo đức của con người với các giá trị và chuẩn
mực đạo đức đối với môi trường.
Trong cuốn sách Giới thiệu về đạo đức môi trường của Ernest
Partridge, Trường Đại học tổng hợp California, Mỹ (2008), đạo đức môi
trường được hiểu là, sự thể hiện trách nhiệm của con người đối với việc tôn
trọng đất đai, thực vật, tài nguyên, sinh vật không phải là con người.
Theo Baird Callicort (2008), đạo đức môi trường là lĩnh vực nghiên
cứu những phạm trù, những quan điểm đạo đức liên quan đến sự phát triển
dân số, sự tiêu dùng tài nguyên, đảm bảo các quyền của động vật, sinh vật
sống [1, tr. 25].
Trong một số công trình ở Việt Nam, đạo đức môi trường đôi khi được
gọi là đạo đức sinh thái. Chẳng hạn, trong công trình “Văn hóa sinh thái nhân
văn” do Trần Lê Bảo chủ biên, các tác giả đã sử dụng thuật ngữ đạo đức sinh
thái để chỉ đạo đức môi trường và định nghĩa: “Đạo đức sinh thái là quan
niệm và cách ứng xử của con người và xã hội loài người đối với giới tự nhiên
nhằm đảo bảo sự cùng tồn tại và phát triển của tự nhiên và xã hội”[1, tr.161].
Trong công trình “Đạo đức môi trường”, tác giả Nguyễn Văn Phúc định
nghĩa: “Đạo đức môi trường là một hệ thống các chuẩn mực đạo đức điều


12
trường là trách nhiệm, nghĩa vụ và lương tâm của mọi cá nhân và tổ chức xã
hội. Bảo vệ rừng đầu nguồn không chỉ để bảo vệ lợi ích trực tiếp của những
người sống trực tiếp trong khu vực đó (làm cho đất không bị trôi màu, giữ
không khí, môi trường sinh thái trong lành, chống lở đất, lũ quét ), mà còn
bảo vệ môi trường sinh thái của các khu vực khác (đảm bảo không khí trong
lành, giảm lũ lụt cho miền xuôi, góp phần phát triển bền vững của khu vực và
đất nước ).
Nó mang tính tự giác vì ở đây khi cá nhân và cộng đồng thực hiện các
qui tắc và chuẩn mực đối với môi trường do bị thôi thúc của lương tâm, do tự
ý thức được trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với môi trường. Họ nhận
thức được sự cần thiết phải bảo vệ môi trường vì cuộc sống của mình, của
cộng đồng và xã hội. Đây là sự khác biệt của đạo đức môi trường với các
hành vi đối với môi trường do yêu cầu của các qui chuẩn pháp luật - những
hành vi đối với môi trường mang tính bắt buộc.
Nguyên tắc cơ bản của đạo đức môi trường là xây dựng mối quan hệ
lành mạnh giữa con người và thế giới tự nhiên.
Sự khai thác tự nhiên của con người để tồn tại và phát triển phải tuân
theo nguyên tắc hoạt động của chu trình sinh học hay chu trình trao đổi vật
chất, năng lượng và thông tin giữa xã hội với tự nhiên. Bởi vì, cơ chế hoạt
động của chu trình sinh học là cơ sở để đảm bảo sự thống nhất, tính toàn vẹn
của toàn bộ sinh quyển.
Với tư cách là thực thể duy nhất hoạt động có ý thức, con người phải tự
giác điều chỉnh hành vi của mình trong mối quan hệ giữa con người với tự
nhiên, nhằm mục đích tạo ra sự hài hòa thật sự với tự nhiên. Trong hoạt động
thực tiễn khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi
trường, con người phải biết bù đắp lại, cũng như không được làm tổn hại đến
sự tồn tại và phát triển của các khách thể tự nhiên.



14
những mức độ cụ thể khác nhau. Cơ sở khách quan của chuẩn mực này chính
là quá trình hình thành, quá trình tiến hoá một cách tự nhiên của bản thân hệ
thống con người - xã hội - tự nhiên.
Chuẩn mực này đòi hỏi con người phải nhận thức được sự hài hoà của
hệ thống là điều kiện tất yếu đối với sự tồn tại và sinh trưởng của cả tự nhiên,
cả con người; phải nhận thức được những mối liên hệ, những tính quy định
tạo nên sự hài hoà đó. Cùng với nhận thức, con người phải có những hành
động thực tiễn nhằm bảo đảm sự hài hoà của hệ thống con người- xã hội- tự
nhiên. Bằng lí trí và bằng thực tiễn, con người sẽ nhận ra rằng, tôn trọng và
bảo vệ sự hài hoà của hệ thống con người- xã hội- tự nhiên là một yêu cầu,
một chuẩn mực đạo đức.
Thái độ và tình cảm tôn trọng, bảo vệ sự hài hoà của hệ thống con
người- xă hội- tự nhiên cũng đồng thời định hướng cho chúng ta tự giác và tự
nguyện giải quyết một cách tối ưu những vấn đề của con người, của xã hội.
Bởi lẽ, những vấn đề của môi trường không thể độc lập giải quyết mà không
giải quyết những vấn đề của con người, xã hội. Ngược lại, những vấn đề của
xã hội, con người cũng chỉ có thể giải quyết được triệt để khi giải quyết được
các vấn đề của môi trường, của tự nhiên. Tôn trọng và bảo vệ sự hài hoà của
hệ thống con người-xã hội- tự nhiên chính là chuẩn mực đạo đức phổ quát,
đồng thời là sự phản ánh về mặt đạo đức của bản thân quá trình phát triển bền
vững lấy kinh tế, xã hội, môi trường làm mục tiêu cùng hướng tới.
1.1.2.2. Sử dụng tài nguyên tiết kiệm và có hiệu quả.
Với sự phát triển của xã hội, quy mô sản xuất ngày càng được mở rộng.
Vì thế, nhu cầu khai thác tài nguyên ngày một gia tăng. Đến nay, nhân loại đã
khai thác hết 40% nguồn tài nguyên không tái tạo được. Tuy vậy, sự gia tăng
dân số và cùng với nó là yêu cầu của phát triển sản xuất vẫn đòi hỏi phải tiếp
tục, thậm chí là đẩy mạnh hơn nữa việc khai thác tài nguyên. Vấn đề là ở chỗ



16
1.1.2.4. Nâng cao tinh thần tương trợ và phối hợp hành động giải quyết
các sự cố môi trường.
Các sự cố môi trường, đặc biệt là các sự cố nghiêm trọng đã từng gây
ra những tổn thất vô cùng to lớn về tính mạng con người, tài sản và môi
trường. Di hại của những sự cố đó có thể kéo dài nhiều năm, qua nhiều thế hệ.
Chẳng hạn, gần đây nhất, thảm họa kép động đất, sóng thần và sự cố lò phản
ứng hạt nhân ở Nhật Bản đã làm thiệt mạng 15.846 người và 3.317 người vẫn
đang mất tích. Thiệt hại về vật chất ước tính là 300 tỉ USD. Việc giải quyết sự
cố môi trường ở Nhật Bản đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều quốc gia và
hàng trăm tổ chức từ thiện. Nhưng những di hại của nó thì chưa biết bao giờ
có thể giải quyêt dứt điểm được.
Yêu cầu giảm thiểu tối đa những thiệt hại về tính mạng con người, tài
sản và tác hại đối với môi trường đòi hỏi sự tương trợ, sự phối hợp hành động
giải quyết các sự cố môi trường. Một sự cố môi trường nào đó xảy ra có thể
chỉ thuộc phạm vi trách nhiệm trực tiếp của một tổ chức, một quốc gia nhất
định, những việc khắc phục hậu quả của nó đòi hỏi sự tham gia của tất cả
những quốc gia, những tổ chức, những đơn vị có khă năng. Vì thế, nâng cao
tinh thần tương trợ và phối hợp hành động giải quyết các sự cố môi trường là
một trong những yêu cầu, một trong những chuẩn mực hàng đầu của đạo đức
môi trường.
1.1.2.5.Giữ gìn môi trường sống xanh, sạch, đẹp trong đời sống
thường nhật.
Chuẩn mực này nhấn mạnh trách nhiệm của con người trong đời sống
thường nhật, liên quan đến thói quen sinh hoạt. Thói quen sinh hoạt là một
phương diện, một hình thức biểu hiện của lối sống. Mặc dù bị quy định bởi
các điều kiện sinh sống, nhưng một khi đã định hình, các thói quen sinh hoạt
có tính độc lập nhất định và tác động ngược trở lại cơ sở kinh tế, xã hội đã sản


18
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo trực tiếp, có hiệu quả của các
Tổng cục và các Bộ chủ quản, sự quan tâm giúp đỡ tạo điều kiện nhiều mặt
của đảng bộ, chính quyền và nhân dân các địa phương, các cấp, các ngành và
các đơn vị bạn, nhà trường luôn bám sát nhiệm vụ chính trị của mình, khắc
phục mọi khó khăn, bền bỉ phấn đấu xây dựng cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ,
giáo viên và chương trình đào tạo, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi
giai đoạn phát triển. Quy mô, chất lượng và hiệu quả đào tạo từng bước được
nâng lên, đáp ứng yêu cầu của ngành và của xã hội.
Trường có chức năng đào tạo nguồn nhân lực cho ngành tài nguyên và
môi trường nói chung và đặc biệt là cho các tỉnh miền Trung từ Thanh Hóa
đến Bình Thuận. Hiện tại, nhà trường đào tạo 7 ngành: Quản lí đất đai, Trắc
địa, Biên chế bản đồ, Quản lí nhà đất, Lưu trữ thông tin tư liệu địa chính,
Quản lí môi trường, Kĩ thuật môi trường.
Tính từ khi thành lập, với 39 khóa chính quy và nhiều lớp tại chức, đã
có hơn 10.000 học sinh, sinh viên tốt nghiệp và công tác ở tất cả các đơn vị
thuộc 64 tỉnh thành trong cả nước. Ở nhiều địa phương, số cán bộ trong ngành
tài nguyên và môi trường đã học tại trường chiếm trên 60%, ở nhiều huyện là
100%. Nhiều người có năng lực và phẩm chất cao đã vươn lên và được giao
những trọng trách trong ngành như: giám đốc, phó giám đốc sở, trưởng, phó
phòng cấp sở, cấp huyện, bí thư, chủ tịch cấp xã.
Để thực hiện nhiệm vụ chính trị và đạt được kết quả như vậy, công tác
giáo dục chuyên môn và giáo dục đạo đức trong đó có đạo đức môi trường đã
được nhà trường luôn đặc biệt quan tâm.
Việc giáo dục đạo đức môi trường cho sinh viên có ý rất quan trọng và
là một phương diện, một nhiệm vụ của giáo dục, đào tạo tại trường Cao đẳng
Tài nguyên và Môi trường Miền trung. Bởi lẽ, các sinh viên tốt nghiệp ra
trường sẽ trở thành các nhà quản lý, những người ra quyết định, những nhà kỹ
20
viên đều có ý thức bảo vệ môi trường, tham gia các hoạt động của nhà
trường về giữ gìn môi trường xanh – sạch – đẹp thì vẫn có một bộ phận sinh
viên chưa nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề môi trường đối với đời
sống của con người, không tham gia sinh hoạt ngoại khóa, vẫn còn thói ỷ lại,
trông chờ vào người khác làm thay cho mình,…Việc cải thiện và bảo vệ môi
trường không chỉ là vấn đề kỹ thuật và pháp luật mà đòi hỏi sự tham gia của
những người đang sống trong môi trường ấy, vì các cá nhân, cộng đồng là
những tác nhân có ảnh hưởng đến môi trường, tích cực hoặc tiêu cực tùy
theo nhận thức, thái độ, hành vi của những tác nhân ấy. Do vậy, việc đẩy
mạnh giáo dục đạo đức môi trường cho sinh viên là vô cùng cần thiết, là
phương diện, nhiệm vụ của giáo dục, đào tạo tại trường Cao đẳng Tài
nguyên và Môi trường miền Trung.
1.2.2. Giáo dục đạo đức môi trường góp phần hoàn thiện đạo đức,
nhân cách người sinh viên
Đạo đức là một hiện tượng xã hội phản ánh các mối quan hệ hiện thực
bắt nguồn từ bản thân cuộc sống của con người. Trong đời sống xã hội, đòi
hỏi tất yếu mỗi người phải ý thức được ý nghĩa, mục đích hoạt động của mình
trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Những hoạt động đó bao giờ cũng có sự
chi phối của những quan hệ giữa các cá nhân, cá nhân và xã hội. Những mối
quan hệ đó quy định giới hạn nhất định nhằm đảm bảo lợi ích của cộng đồng
và xã hội. Những quy định này tự giác tạo thành động lực cho phát triển xã
hội. Đó là các quy tắc, chuẩn mực hoàn toàn tự giác trong hành động của mỗi
cá nhân trong tất cả các quan hệ xã hội. Nói cách khác, đó chính là đạo đức
của con người trong xã hội.
Nhân cách là yếu tố quan trọng quyết định chất lượng mối quan hệ giữa
con người với con người từ những chuyện bình thường, mối quan hệ gia đình,
kết giao đến mối quan hệ xã hội, vấn đề môi trường.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status