BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
[\
NGUYỄN VĂN TOÀN
MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC NẾP SỐNG
CHO SINH VIÊN NỘI TRÚ
TRƯỜNG CAO ĐẲNG GIAO THÔNG VẬN TẢI 3
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC VĂN HÓA GIÁO DỤC
Mã số: 5.07.03
Người hướng dẫn khoa học: PGS-TS. HOÀNG TÂM SƠN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2004
Lời cảm ơn Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Ban quản
lý kí túc xá trường Cao đẳng GTVT3 cùng toàn thể anh
em, bạn bè trong trường đã tạo những điều kiện về vật
GTVT : Giao thông Vận tải
HS-SV : Học sinh-sinh viên
KTX : Kí túc xá
QLGD : Quản lý giáo dục
SV : Sinh viên MỤC LỤC
Trang
2.2.2. Biểu hiện của nếp sống SV trong sinh hoạt tập thể, cá nhân và
lao động
45
2.2.3. Biểu hiện của nếp sống SV trong quan hệ và ứng xử 52
2.3. Thực trạng về công tác quản lý giáo dục nếp sống cho SV 54
2.3.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến nếp sống của SV 54
2.3.2. Ảnh hưởng của chủ thể giáo dục đối với nếp sống SV 59
2.3.3. Tác dụng của hoạt động Đoàn trong việc GD nếp sống SV 61
2.3.4. Hiệu quả của công tác quản lý giáo dục nếp sống SV hiện nay 66
2.3.5. Đánh giá về nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong nếp
sống của SV hiện nay
72
CHƯƠNG 3. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM
CỦNG CỐ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC
QUẢN LÝ GIÁO DỤC NẾP SỐNG CHO SINH VIÊN NỘI
TRÚ TRƯỜNG CĐ GTVT3
78
3.1. Một số căn cứ để đề xuất 78
3.1.1. Quan niệm của Đảng về chiến lược con người trong sự nghiệp
đổi mới đất nước
78
3.1.2. Mục tiêu giáo dục nếp sống mới cho SV trường CĐ GTVT3 79
3.1.3. Đònh hướng nội dung giáo dục nếp sống cho SV trường CĐ
GTVT3
83
3.2. Đề xuất một số biện pháp nhằm củng cố và nâng cao công tác
quản lý giáo dục nếp sống cho SV nội trú trường CĐ GTVT3
86
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thời đại ngày nay nếu kỹ thuật năm trước là hiện đại nhất thì năm
sau đã lạc hậu mất rồi. Ý tưởng đào tạo ra những con người có kiến thức cơ
bản vững chắc và biết sử dụng chúng với phương pháp suy luận đúng đắn
để giải quyết những vấn đề những tình huống mới, cần được khuyến khích.
Bên cạnh đó, xu hướng thực tế hơn do nhòp độ phát triển kinh tế của Việt
Nam yêu cầu nhân lực cho công nghệ mới.
Chúng ta đang bước vào những năm đầu tiên của thế kỉ mới, với vai
trò trí tuệ con người luôn được nhắc đến. Để tiếp tục phấn đấu đến năm
2020, Việt Nam sẽ cơ bản trở thành một nước công nghiệp thì điều kiện
tiên quyết mà Đại hội Đảng toàn quốc đã đề ra là sự cần thiết phải khai
thác nhiều nguồn lực khác nhau, trong đó nguồn lực con người – những lớp
người được giáo dục và đào tạo, có tầm trí tuệ cao, tay nghề thành thạo và
phẩm chất tốt đẹp là vốn quý nhất quyết đònh sự thành công. Cương lónh
xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã chủ
trương là xây dựng một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản
xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu, có nền
văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Con người được giải phóng khỏi
áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc
sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân.
Các dân tộc phát triển bình đẳng, đoàn kết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Có
quan hệ hữu nghò, hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới.
2
Để xây dựng mô hình chủ nghóa xã hội theo các tiêu chí trên, vấn đề
nguồn nhân lực có tầm quan trọng đặc biệt. Vì vậy, Đảng Cộng Sản Việt
Nam luôn coi “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp
của nhà nước và của toàn dân” Nghò quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
quản lý giáo dục nếp sống cho sinh viên nội trú trường Cao đẳng Giao
thông Vận tải 3” làm đề tài nghiên cứu của luận văn tốt nghiệp. Hy vọng
và mong muốn của chúng tôi là đóng góp một phần nhỏ cho việc cải tiến
và nâng cao chất lượng quản lý nếp sống sinh viên nội trú trong nhà trường
mà chúng tôi đang công tác.
2. Đối tượng và khách thể của đề tài nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu: là thực trạng một số biện pháp quản lý giáo
dục nếp sống sinh viên nội trú
b. Khách thể nghiên cứu: là sinh viên đang nội trú trong KTX trường
Cao đẳng Giao thông Vận tải 3.
3. Giới hạn của đề tài
Do thời gian nghiên cứu không nhiều và khả năng của tác giả còn có
những hạn chế nhất đònh, vì thế luận văn chỉ giới hạn tập trung nghiên cứu
thực trạng về hoạt động quản lý giáo dục nếp sống sinh viên lưu trú tại
KTX trường Cao đẳng Giao thông Vận tải 3 và biểu hiện nếp sống của sinh
4
viên qua những hoạt động chủ yếu diễn ra trong phạm vi KTX. Những hoạt
động ngoài KTX trường, đề tài không có điều kiện nghiên cứu.
4. Mục đích của đề tài nghiên cứu
Làm rõ thực trạng một số biện pháp quản lý giáo dục nếp sống cho
sinh viên nội trú trường Cao đẳng Giao thông Vận tải 3 và trên cơ sở đó đề
xuất một số biện pháp tăng cường quản lý nhằm nâng cao hiệu quả giáo
dục nếp sống cho sinh viên.
5. Giả thiết nghiên cứu
Nếp sống của sinh viên nội trú trường Cao đẳng Giao thông Vận tải3
phụ thuộc vào các biện pháp quản lý giáo dục nếp sống sinh viên của
trường Cao đẳng Giao thông Vận tải 3.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1. Làm rõ cơ sở lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu.
nội trú có cơ sở khoa học, phù hợp với đặc điểm của trường Cao đẳng giao
thông vận tải 3 nói riêng, sự nghiệp trồng người nói chung.
- Đề tài còn là một tư liệu tham khảo cho các trường.
10. Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm 3 phần:
6
Phần mở đầu: Giới thiệu khái quát đề tài, đối tượng – khách thể, mục đích,
nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu…
Phần nội dung: Gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Thực trạng về các biện pháp quản lý giáo dục nếp sống
cho sinh viên nội trú trường Cao đẳng Giao thông vận tải 3
Chương 3: Đề xuất một số biện pháp nhằm củng cố và nâng cao hiệu
quả công tác quản lý giáo dục nếp sống cho sinh viên nội trú trường Cao
đẳng Giao thông Vận tải 3
Phần kết luận chung và kiến nghò
Tài liệu tham khảo và phụ lục
trong xã hội, đưa cái đẹp vào đời sống hàng ngày, vào lao động sản xuất”
(Tr. 25)[4] Trong Đại hội V, văn kiện dùng khái niệm lối sống: “Cuộc đấu
tranh giữa hai con đường, giữa cái mới và cái cũ, tiên tiến và lạc hậu, tiến
bộ với phản động, trên lónh vực văn hoá tư tưởng và lối sống đang diễn ra
hàng ngày rất phức tạp.” (Tr. 10)[5] Trong nghò quyết V ban chấp hành
Trung Ương khoá 8, Đảng ta dành riêng để bàn về lónh vực văn hoá. Nội
dung nghò quyết gồm 6 vấn đề quan trọng thì vấn đề giáo dục đạo đức, lối
sống, nếp sống được đặt lên đầu tiên. Trong toàn văn nghò quyết V có
nhiều lần thuật ngữ lối sống, nếp sống được nhắc đến như “tư tưởng đạo
đức và lối sống là những lónh vực then chốt của văn hoá” hay như “lối sống
lành mạnh, nếp sống văn minh” Như vậy, vấn đề nếp sống đã được quan
tâm rất sâu sắc không chỉ các nhà khoa học mà các nhà quản lý xã hội
cũng rất chú trọng tới việc quản lý giáo dục nếp sống.
Trong thời gian gần đây hàng loạt những công trình nghiên cứu về lối
sống, nếp sống đã được thực hiện theo tinh thần đổi mới của ban chấp hành
Trung Ương Đảng do những thay đổi rõ nét về kinh tế, xã hội đang diễn ra
sôi động đưa đến những biến đổi trong lối sống, nếp sống, đònh hướng giá
trò con người Việt Nam nói chung, giới sinh viên học sinh nói riêng. Có thể
kể đến một số công trình nghiên cứu lối sống, nếp sống ở đối tượng sinh
viên đã được công bố như sau:
- “Tổ chức tốt cuộc sống sinh viên ở KTX nhằm giáo dục đạo đức,
lối sống cho họ” (Kỷ yếu hội thảo đònh hướng giá trò giáo dục đạo
đức trong các trường ĐH; Hà Nội 1996) của Nguyễn Thò Kỷ
9
- “Đặc điểm lối sống sinh viên hiện nay và những phương hướng,
biện pháp giáo dục lối sống cho sinh viên” của PGS. PTS Mạc
Văn Trang làm chủ nhiệm đề tài (Năm 1998, mã số B94-38-32)
- “Các biện pháp quản lý giáo dục nếp sống cho sinh viên trường
Cao đẳng Sư Phạm Mẫu giáo Trung Ương 3” của Đặng Văn
lý vận tải đường bộ, phát triển giao thông vận tải hàng không. Động viên
các tổ chức kinh tế tập thể và nhân dân góp sức, góp vốn mở mang đường
giao thông nông thôn, miền núi, phát triển các phương tiện vận tải, nhất là
phương tiện thô sơ, nửa cơ giới, khắc phục sự ách tắc trong vận tải hàng hoá,
cải thiện một bước sự đi lại của nhân dân.” Những thành tựu bước đầu sau
đại hội VI và khảo sát thực tiễn các nước phát triển trên thế giới; Đảng ta
khẳng đònh Giao thông Vận tải phải đi trước một bước, phát triển với tốc độ
cao với trình độ tiên tiến và tiêu chuẩn hiện đại, vì điều đó sẽ tạo động lực
cho nền kinh tế phát triển nhanh, rút ngắn khoảng cách, hội nhập với các
nước trong khu vực và trên thế giới. Đại hội VIII của Đảng chỉ rõ ngành
Giao thông Vận tải phải “phát triển kết cấu hạ tầng, sớm khắc phục tình
trạng xuống cấp, mở rộng và hiện đại hoá có trọng điểm mạng lưới Giao
thông Vận tải.”
11
Giao thông Vận tải là một trong những ngành cơ bản của nền kinh tế
quốc dân; để thực hiện CNH nền kinh tế quốc dân, trước hết phải xây dựng
kết cấu hạ tầng hiện đại đáp ứng kòp nhu cầu phát triển. Nói cách khác
CNH-HĐH, ngành Giao thông Vận tải đi trước một bước sẽ tạo điều kiện
thuận lợi đầu tư CNH-HĐH các ngành nghề khác. Tiền đề của CNH-HĐH
Giao thông vận tải trước hết phải đầu tư cho đào tạo nhân lực, muốn có
nhân lực cần đầu tư cho các cơ sở đào tạo này có đủ điều kiện để đảm
đương sứ mạng lòch sử trước thiên niên kỷ mới.
Từ thực trạng và yêu cầu phát triển kinh tế ngành Giao thông Vận tải
như trên, Nhà nước đã rất nổ lực trong việc đào tạo ra đội ngũ cán bộ kỹ
thuật và công nhân lành nghề, có phẩm chất tốt, năng động, sáng tạo, có
nếp sống khoa học, văn minh, kỉ cương và tinh thần kỉ luật cao. Trường Cao
đẳng Giao thông Vận tải 3 cũng như nhiều trường Công nhân kỹ thuật,
Trung học chuyên nghiệp và Đại học chuyên ngành Giao thông Vận tải đã
đáp ứng phần nào yêu cầu trên.
Internet ở trường học, tạo điều kiện học tập nghiên cứu trên mạng”
(Tr.110)[6] “Đào tạo trình độ cao đẳng giúp sinh viên có kiến thức chuyên
môn và kỹ năng thực hành cơ bản về một ngành nghề, có khả năng giải
quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành đào tạo” (Tr.25)[8]
13
Đảng và nhà nước ta đã luôn coi trọng giáo dục và đào tạo trong
chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Giáo dục và đào tạo luôn
cần phải được đầu tư đúng mức để đảm nhận vai trò cung cấp nguồn nhân
lực chất lượng cao về mọi mặt, gánh vác trọng trách xây dựng đất nước
giàu đẹp, văn minh.
1.4. NHỮNG KHÁI NIỆM CÔNG CỤ
1.4.1. Khái niệm về quản lý
Để tồøn tại và phát triển, con người không thể hành động riêng lẻ mà
cần phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới những mục tiêu chung. Quá
trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần… ngày càng được thực hiện trên
quy mô lớn với tính chất và độ phức tạp ngày càng cao, càng đòi hỏi sự
phân công và hợp tác để liên kết mọi người trong tổ chức. Chính từ sự phân
công, chuyên môn hóa lao động đã xuất hiện một dạng lao động đặc biệt –
lao động quản lý. Hoạt động quản lý cần thiết với mọi lónh vực hoạt động
trong xã hội, trong mỗi quốc gia và trên toàn cầu.
Có nhiều đònh nghóa về các khía cạnh khác nhau của quản lý, nhưng
trong luận văn chỉ nêu một số đònh nghóa tiêu biểu, đó là:
“Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể
quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ
thống để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi
trường” [26]
“Quản lý là quá trình hoàn thành công việc thông qua con người và với con
người” [18]
1.4.2. Khái niệm về quản lý giáo dục
sống đã cho rằng lối sống thể hiện vò trí của các nhóm xã hội. Khái niệm
lối sống được mô tả như kiểu sống của một nhóm xã hội, giai cấp, là một
cộng đồng người cùng chung một vò trí kinh tế.
Dean Cenell thì cho rằng lối sống không phải chỉ biểu hiện trong lónh
vực nghề nghiệp, lao động mà còn cả trong giải trí nữa. Con người trong xã
hội hiện đại không những có nhiều sản phẩm tiêu dùng hơn mà còn có
nhiều thời gian rỗi hơn để giải trí.
Thuật ngữ lối sống có sự biện chứng giữa yếu tố vật chất và yếu tố
tinh thần gắn liền với phương thức sản xuất xã hội, với chế độ chính trò xã
hội, với hình thái kinh tế xã hội.
Ở Liên Xô cũ, một số công trình nghiên cứu lối sống đã đặt vấn đề
nghiên cứu nội hàm khái niệm lối sống với 3 cách tiếp cận tóm lược như
sau:
- Cách tiếp cận thứ 1: xem xét lối sống như một phạm trù có liên
quan bên trong của chủ thể như nếp nghó, nếp hành động, thói
quen mà ít quan tâm đến hoạt động sống và các điều kiện sống.
Mặt hạn chế của cách tiếp can này ở chỗ, theo A. I. Buchenco, nó
đã loại trừ một yếu tố quan trọng của lối sống là hoạt động của
chủ thể và lao động
16
- Cách tiếp cận thứ 2: đònh nghóa lối sống bằng cách liệt kê ra các
hoàn cảnh sống của con người, xã hội do đó lối sống được kiến
giải như một phạm trù xã hội học bao gồm các điều kiện sống,
các hình thức hoạt động sống của con người, các quan hệ xã hội,
các sinh hoạt, các hình thức thoả mãn nhu cầu thế giới quan. Cách
đònh nghóa này quá mở rộng nội hàm lối sống, vì thế bò phê phán
nhiều
- Cách tiếp cận thứ 3: xem lối sống như là một sự thống nhất các
hình thức hoạt động sống và các điều kiện sống của con người, xã
Nó đã là và luôn là văn hoá” [21]
Tác giả Phạm Ngọc Đònh cho rằng lối sống còn là một phạm trù của
duy vật lòch sử. Tác giả dựa vào luận điểm của Marx và Ăngen khi cho
rằng “Phương thức sản xuất phải xét không đơn thuần theo khía cạnh nó là
sự tái sản xuất ra sự tồn tại thể xác của cá nhân và hơn thế nữa nó là một
hình thức hoạt động nhất đònh của những cá nhân ấy, một hình thức nhất
đònh của sự biểu hiện đời sống của họ: những cá nhân biểu hiện đời sống
18
của họ như thế nào thì họ là người như thế ấy. Nó ăn khớp với sản xuất của
họ, với cái mà họ đã sản xuất ra cũng như cách họ sản xuất ra.”
Phạm Ngọc Đònh đã đưa ra đònh nghóa lối sống dưới dạng luận đề
“Lối sống là tổ hợp các phương thức hoạt động sống điển hình của con
người đối với xã hội nhất đònh mà nó được xét thống nhất với các điều kiện
hoạt động. Lối sống bao gồm nhiều hệ thống hành vi ứng xử của con người
trong cuộc sống” [14]
Tác giả Thanh Lê cho rằng “Lối sống là quan niệm sống của con
người, tức là nói đến nhân sinh quan. Nói đến lối sống là nói đến tất cả các
lónh vực hoạt động của con người trong những lónh vực cơ bản của đời sống
xã hội và cá nhân – hoạt động lao động; hoạt động sinh hoạt, gia đình; hoạt
động xã hội, chế độ; hoạt động văn hoá tinh thần. Trong đó, hoạt động lao
động là cơ bản nhất.” [22]
Các đònh nghóa, các cách phân loại lối sống trình bày ở trên giúp cho
nhà quản lý, nhà nghiên cứu có cơ sở đi sâu phân tích đặc điểm của từng
khách thể, từng nhóm xã hội để từ đó xác đònh phương hướng cụ thể xây
dựng lối sống phù hợp.
1.4.4. Khái niệm về nếp sống
Thuật ngữ nếp sống được dùng rất phổ biến. Theo thói quen trong
ngôn ngữ tiếng Việt, trên sách báo hiện nay người ta sử dụng hầu như cả
hai thuật ngữ lối sống và nếp sống với một nội hàm giống nhau. Thật ra, hai
được quy đònh với các giá trò đạo đức. Nói ngắn gọn, nếp sống là những quy
ước được lặp đi lặp lại trở thành một thói quen trong sinh hoạt, phong tục,
tập quán, hành vi đạo đức.” (Báo Sài Gòn Giải phóng 10-5-1998)
* Phân biệt lối sống với nếp sống: có 3 ý kiến khác nhau
- Ý kiến thứ 1 cho rằng nếp sống đồng nghóa với lối sống.
- Ý kiến thứ 2 cho rằng nếp sống có nghóa hẹp hơn lối sống.
- Ý kiến thứ 3 cho rằng nếp sống và lối sống có những mặt khác nhau.
A. P. Buchenco cho rằng: “nếp sống không phải là một phần mà là
một trong những hình thức biểu hiện của sự sống.”
L. V. Cokan cho rằng: “nếp sống của con người được xem như là sự
phản ánh của cá nhân vào xã hội, còn lối sống của con người được xem như
là sự phản ánh của xã hội vào cá nhân.”
Tác giả Thanh Lê cho rằng: “nói đến nếp sống là nói đến một mặt
nào đó trong lối sống và ai nấy đều biết nếp sống có thể thay đổi, trong khi
lối sống vẫn còn tồn tại. Ở đây muốn nói đến cách xử sự của con người,
những giá trò được rút ra từ trong đời sống hiện thực. Những giá trò ấy là sự
điều tiết các xu hướng, quan niệm và hành vi của con người làm cơ sở cho