Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN VĂN NAM
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN NỘI TRÚ
TRƢỜNG CAO ĐẲNG HÀNG HẢI I
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2013
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
viên, sinh viên của trường Cao đẳng Hàng hải I. Công trình nghiên cứu của
riêng tôi, chưa được công bố trên bất kỳ phương tiện thông tin nào. Các thông
tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc. Tác giả Nguyễn Văn Nam Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, lời đầu tiên tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc tới Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, khoa Sau đại học, khoa Tâm lý
- Giáo dục, các thầy giáo, cô giáo GS, PGS, TSKH, TS giảng dạy lớp Cao học
quản lý giáo dục K19 đã quan tâm, tận tình giảng dạy, tạo điều kiện thuận lợi
và giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu tại Trường.
Đặc biệt, tác giả xin được tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Cô giáo Tiến sỹ
Nguyễn Thị Thu Hằng - người trực tiếp hướng dẫn tác giả làm luận văn về sự
hướng dẫn tận tình và có hiệu quả.
Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Cao đẳng Hàng hải I, các
đồng chí lãnh đạo các đơn vị trong trường, các thầy giáo, cô giáo và các em
HSSV đã quan tâm, tạo điều kiện, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn.
Mặc dù đã nỗ lực, cố gắng khắc phục mọi khó khăn, nhưng vì điều kiện
công tác, học tập, và khả năng có hạn nên luận văn không tránh khỏi các thiếu
sót. Kính mong sự đóng góp, chỉ bảo của các thầy giáo, cô giáo, sự góp ý của
các bạn đồng nghiệp và đông đảo bạn đọc để luận văn được hoàn thiện hơn.
1.2. Một số khái niệm công cụ 8
1.2.1. Tự học 8
1.2.2. Quản lý 10
1.2.3. Quản lý giáo dục 13
1.2.4. Quản lý nhà trường 14
1.2.4.1. Nhà trường 14
1.2.4.2. Quản lý nhà trường 15
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
iv
1.2.5. Quản lý hoạt động tự học 16
1.2.5.1. Khái niệm 16
1.2.5.2. Mục tiêu của quản lý hoạt động tự học của sinh viên 17
1.2.5.3. Nội dung quản lý hoạt động tự học 17
1.3. Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú 20
1.3.1. Bản chất quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú 20
1.3.2. Mục tiêu quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú 21
1.3.3. Nội dung quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú 21
1.3.3.1. Quản lý kế hoạch tự học 21
1.3.3.2. Quản lý nội dung tự học 22
1.3.3.3. Quản lý phương pháp tự học 23
1.3.3.4. Quản lý các điều kiện phục vụ cho hoạt động tự học 23
1.3.3.5. Quản lý việc kiểm tra đánh giá hoạt động tự học 23
1.3.4. Các lực lượng tham gia quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú . 24
1.3.4.1. Phòng Công tác HSSV 24
1.3.4.2. Các khoa 28
1.3.4.3. Giáo viên chủ nhiệm lớp 28
1.3.4.4. Tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh 29
1.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý hoạt động tự học của sinh
viên trường Cao đẳng 30
2.3.3.4. Về quản lý việc hướng dẫn cho SV các phương pháp tự học 56
2.3.3.5. Về quản lý thời gian tự học của sinh viên 57
2.3.3.6. Về quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị 57
2.3.3.7. Về quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của sinh viên 58
2.3.4. Đánh giá chung về thực trạng 59
2.3.4.1. Điểm mạnh, mặt hạn chế 59
2.3.4.2. Nguyên nhân của hạn chế 60
Tiểu kết chương 2 61
Chƣơng 3. BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH
VIÊN NỘI TRÚ TRƢỜNG CAO ĐẲNG HÀNG HẢI I 62
3.1. Một số nguyên tắc chỉ đạo việc xây dựng biện pháp 63
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
vi
3.2. Các biện pháp quản lý HĐTH của sinh viên nội trú trường Cao đẳng
Hàng hải I 64
3.2.1. Tổ chức tuyên truyền, giáo dục ý thức trách nhiệm, động cơ tự học cho
sinh viên 64
3.2.1.1. Mục đích, ý nghĩa 64
3.2.1.2. Nội dung và cách thực hiện 64
3.2.2. Quản lý kế hoạch tự học 67
3.2.2.1. Mục đích, ý nghĩa 67
3.2.2.2. Nội dung và cách thực hiện 68
3.2.3. Quản lý nội dung tự học của sinh viên 71
3.2.3.1. Mục đính, ý nghĩa 71
3.2.3.2. Nội dung và cách thực hiện 71
3.2.4. Quản lý phương pháp tự học của sinh viên 73
3.2.4.1. Mục đích, ý nghĩa 73
3.2.4.2. Nội dung và cách thực hiện 74
3.2.5. Quản lý việc thay đổi nội dung, hình thức kiểm tra đánh giá thể hiện kết
CBCNV Cán bộ công nhân viên
CBQL Cán bộ quản lý
CĐ Cao đẳng
CNH-HĐH Công nghiệp hoá- hiện đại hoá
CSVC Cơ sở vật chất
DH Dạy học
GV Giáo viên
GD Giáo dục
GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
GS Giáo sư
GVCN Giáo viên chủ nhiệm
HSSV Học sinh sinh viên
HĐTH Hoạt động tự học
NXB Nhà xuất bản
KTĐG Kiểm tra đánh giá
KTX Ký túc xá
KKHT Khuyến khích học tập
PGS Phó giáo sư
PPDH Phương pháp dạy học
SV Sinh viên
TCN Trước công nguyên
TS Tiến sĩ
TSKH Tiến sĩ khoa học
TNCS Thanh niên cộng sản
TNXK Thanh niên xung kích
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
1. Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa, nhằm mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh. Sau hơn 20
năm thực hiện công cuộc đổi mới, nhất là kể từ khi nước ta gia nhập Tổ chức
thương mại thế giới WTO, các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội đã đạt
được nhiều thành tựu quan trọng. Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và
đào tạo luôn được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Chỉ thị 40-CT/TW
ngày 15/06/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã chỉ rõ: "Phát triển giáo
dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng
thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là điều kiện phát
huy nguồn lực con người".
Học sinh, sinh viên có vai trò rất lớn trong quá trình công nghiệp hoá -
hiện đại hoá của đất nước ta hiện nay, đây là nguồn bổ sung cho lực lượng lao
động xã hội có trình độ cao, là nguồn nhân lực chủ yếu để phát triển đất nước.
Đồng thời cũng là người đi đầu trong các phong trào do Đảng và Nhà nước đề ra,
là người tiếp thu tinh hoa văn hoá, khoa học kỹ thuật của các nước phát triển trên
thế giới, đồng thời cũng là người giới thiệu Việt Nam cho tất cả mọi người trên
thế giới biết đến. Do đó HSSV phải có năng lực tự hoàn thiện, tự học để tiếp cận
với tri thức khoa học và công nghệ bằng các kênh thông tin khác nhau, không chỉ
bằng con đường học tập trên lớp. Xuất phát từ vị trí vai trò, đặc điểm của đội ngũ
HSSV mà vấn đề tự học càng trở nên quan trọng trong xã hội hiện đại.
Trường Cao đẳng Hàng hải I trực thuộc Cục Hàng hải Việt Nam - Bộ
Giao thông vận tải, là một trong những đơn vị có chức năng đào tạo, bồi
dưỡng và phát triển nguồn nhân lực Hàng hải cho đất nước. Nhà trường đào
tạo, huấn luyện cán bộ, sỹ quan, thuyền viên trình độ Cao đẳng, Trung cấp
chuyên nghiệp, Cao đẳng nghề, Trung cấp nghề và Sơ cấp nghề phục vụ cho
ngành Công nghiệp Hàng hải, Công nghiệp đóng tàu, Kinh tế biển. Thực tế,
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
2
3
quan các thầy cô mới chú trọng tới nội dung truyền thụ kiến thức mà chưa áp
dụng các phương pháp dạy tự học. Các công tác tổ chức và quản lý hoạt động
tự học của sinh viên còn nhiều hạn chế.
Nếu áp dụng hợp lý các biện pháp quản lý hoạt động tự học do tác giả đề
xuất thì sẽ nâng cao kết quả hoạt động tự học của SV nội trú, từ đó nâng cao
chất lượng đào tạo của Nhà trường.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Xác định cơ sở lý luận về quản lý HĐTH của sinh viên nội trú trong
trường Cao đẳng.
5.2. Điều tra, khảo sát thực trạng HĐTH, biện pháp quản lý HĐTH của
sinh viên nội trú trường Cao đẳng Hàng hải I.
5.3. Đề xuất các biện pháp quản lý HĐTH của sinh viên nội trú trường
Cao đẳng Hàng hải I.
5.4. Khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp.
6. Phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn này chúng tôi tập trung nghiên cứu HĐTH và biện pháp
quản lý HĐTH ngoài giờ lên lớp của sinh viên ngành đi biển (điều khiển tàu
biển, khai thác máy tàu biển) nội trú trong trường Cao đẳng Hàng hải I.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các tài liệu
có liên quan đến vấn đề HĐTH nhằm xây dựng khung lý luận cho đề tài.
7.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát bằng phiếu
hỏi, phỏng vấn, trò chuyện, quan sát, xin ý kiến chuyên gia, nhằm phân tích
thực trạng.
7.3. Phương pháp hỗ trợ: Sử dụng phương pháp thống kê toán học để
phân tích, xử lý các thông tin, số liệu thu được.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
4
5
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC
CỦA SINH VIÊN NỘI TRÚ CÁC TRƢỜNG CAO ĐẲNG
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Lịch sử vấn đề tự học
Tự học là một vấn đề từ trước đến nay luôn được mọi người quan tâm.
Có nhiều quan niệm về vấn đề này:
Ngay từ thời cổ đại, khi Giáo dục học chưa được hình thành nhưng xã
hội cũng đã xuất hiện nhiều tư tưởng về vấn đề tự học.
Từ thời Trung Hoa cổ đại, các nhà giáo dục lỗi lạc đã nhận thấy vai trò
quan trọng của vấn đề tự học. Khổng Tử (551 - 479 TCN), trong cuộc đời dạy
học của mình ông luôn quan tâm và coi trọng mặt tích cực của người học. Ông
đã từng dạy học trò: “Không giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không
bực vì không rõ được thì không bày vẽ cho” hay “Vật có bốn góc, bảo cho biết
một góc mà không suy ra ba góc kia thì không dạy nữa”.
Socrat (469 - 309 TCN) đã từng nêu khẩu hiệu “Anh hãy tự biết lấy anh”
qua đó, mong muốn học trò phát hiện ra “chân lý” bằng cách đặt câu hỏi để dần
dần tìm ra kết luận.
Đến thế kỷ XVIII - XIX các nhà giáo dục nổi tiếng như J.Rutxô (1712 -
1778), Disterverg (1790 - 1886) và K.D Usinxki (1824 - 1890) T.H Petstalogi
(1746 - 1827) trong các tác phẩm nghiên cứu của mình đã khẳng định: “Tự
mình giành lấy tri thức bằng con đường tự khám phá, tự tìm tòi, tự suy nghĩ là
con đường quan trọng để chiếm lĩnh tri thức”[13].
Nhiều nhà giáo dục ở Châu Á cũng đã quan tâm đến lĩnh vực tự học của
học sinh. Nhà sư phạm nổi tiếng người Nhật ông T.Makiguchi đã trình bày
những tư tưởng giáo dục mới trong tác phẩm “Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo”.
Ông cho rằng giáo dục có thể coi là quá trình hướng dẫn tự học mà động lực
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
7
1.1.2. Nghiên cứu của các tác giả về quản lý hoạt động tự học
Tự học và quản lý tự học ở Việt Nam, ngay từ thời xưa đã được đề cập
đến, như nhà toán học Lương Thế Vinh từ một đứa trẻ chăn trâu vẫn luôn tu chí
học hành. Các bậc thầy trong giáo dục thời xưa đã từng chú ý đến vai trò của
người học như: Chu văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, trong thời đại ngày nay
cũng có nhiều ý kiến về vấn đề này.
Ngay từ khi lãnh đạo đất nước giành độc lập Bác Hồ, dù bận trăm công,
nghìn việc nhưng Bác vẫn dành thời gian cho việc tự học: Khi nói chuyện với
các đảng viên hoạt động lâu năm (vào ngày 9 tháng 12 năm 1961), Hồ Chủ tịch
đã tâm sự: “Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học Không học thì không
theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau”. Và với Bác, nguyên lý và
phương thức học được tóm gọn trong mấy câu sau: “Học ở trường, học trong
sách vở, học lẫn nhau và học dân”. Bác Hồ đã từng dạy: cách học tập lấy
người học làm nòng cốt, và khi nói về công tác huấn luyện và học tập, Người
nhấn mạnh “Phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học”, Người khuyên “Không
phải có thầy thì học, thầy không đến thì đùa. Phải biết tự động học tập”
[18,tr18].
Nghị quyết Hội nghị TW2, Khoá VIII đã đề cập đến vấn đề “Tập
trung nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực tự học sáng tạo của
học sinh”, “Phát triển phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên rộng
khắp trong toàn dân, nhất là thanh niên”[10].
Điều 40 Luật giáo dục (2005) nêu rõ: "Phương pháp đào tạo trình độ
cao đẳng, đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học
tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ
năng thực hành, tạo điều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực
nghiệm, ứng dụng" [23,tr31].
Từ quan điểm chỉ đạo trên, để không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục,
nhiều công trình nghiên cứu khoa học về tự học của các giáo sư, các nhà giáo dục
nghiên cứu từ lâu:
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
9
Nhà tâm lý học N.A Rubakin cho rằng: “Tự học là quá trình lĩnh hội tri
thức, kinh nghiệm xã hội lịch sử trong thực tiễn hoạt động các nhân bằng cách
thiết lập các mối liên hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô
hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri
thức, kinh nghiệm kỹ năng, kỹ xảo của bản thân chủ thể” [28].
Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học - là tự mình động não, suy
nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích tổng hợp ) và
khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả
động cơ, tình cảm, cá nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách
quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê
khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi ) để chiếm lĩnh một
lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của
mình”[31,tr631].
Trong tập bài giảng chuyên đề Dạy tự học cho SV trong các nhà trường
trung học chuyên nghiệp và Cao đẳng, Đại học, GS.TSKH Thái Duy Tuyên
viết: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự
mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân
tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức
một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân
loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học” [32].
Theo tác giả Võ Quang Phúc: “Tự học là một bộ phận của học, nó được
tạo thành bởi những thao tác, cử chỉ ngôn ngữ, hành động của người học trong
hệ thống tương tác của hoạt động dạy học. Tự học phản ánh rõ nhu cầu bức xúc
về học tập của người học, phản ánh tính tự giác và sự nỗ lực của người học,
phản ánh năng lực tổ chức và tự điều khiển của người học nhằm đạt kết quả
nhất định trong hoàn cảnh nhất định với nội dung học tập nhất định”[25,tr37].
Theo Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo
sự phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục
tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con
người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc vật chất
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
11
và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một
nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học”[16,tr33].
Ở Việt Nam chúng ta, khi nói đến quản lý có nhiều nhà khoa học đã
nghiên cứu và đưa ra những khái niệm về quản lý:
Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ
chức, định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý về mặt chính trị,
văn hoá, xã hội, kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các
nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và
điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”[11, tr7].
Các tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý
là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động
(chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra”. “ Hoạt động quản lý là
tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến
khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức làm cho tổ chức vận
hành và đạt được mục đích của tổ chức”[8,tr1].
Qua các cách giải thích về quản lý của các tác giả trong và ngoài nước ta
có thể kết luận: Quản lý là hệ thống những tác động có chủ định của chủ thể
quản lý đến khách thể quản lý nhằm hướng dẫn, điều khiển các quá trình xã
hội, các hành vi hoạt động của con người để đạt tới những mục đích phù hợp
với ý chí của nhà quản lý và phù hợp quy luật khách quan.
* Các chức năng quản lý
- Chức năng lập kế hoạch (kế hoạch hóa).
Lập kế hoạch là chức năng cơ bản nhất giúp cho nhà quản lý tiếp cận
- Chức năng chỉ đạo.
Chỉ đạo là quá trình sử dụng quyền lực quản lý để tác động đến các đối
tượng bị quản lý (con người, các bộ phận) một cách có chủ đích nhằm phát huy
hết tiềm năng của họ hướng vào việc đạt mục tiêu chung của hệ thống.
Nội dung của chức năng chỉ đạo bao gồm:
+ Chỉ huy, ra lệnh.
+ Động viên khen thưởng.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
13
+ Theo dõi, giám sát.
+ Uốn nắn, sửa chữa, chỉnh lý.
- Chức năng kiểm tra đánh giá.
Để hoàn thành chức năng lãnh đạo, người lãnh đạo hệ thống cần phải thực
hiện chức năng kiểm tra của quản lý. Xem mục tiêu dự kiến ban đầu và toàn bộ kế
hoạch đã đạt được ở mức độ nào, kịp thời phát hiện những sai sót lệch lạc, tìm ra
nguyên nhân của những sai sót, điều chỉnh và tạo thông tin cho quản lý tiếp theo.
Bốn chức năng của quản lý có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành
một chu trình quản lý. Chu trình quản lý bao gồm 4 giai đoạn ,trong đó thông
tin có vai trò là huyết mạch của hoạt động quản lý. Chức năng kiểm tra, đánh
giá là giai đoạn cuối cùng của hoạt động quản lý đồng thời cũng là tiền đề của
một quá trình quản lý tiếp theo.
Chu trình quản lý được thể hiện ở sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Các chức năng quản lý