Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
TẠ DUY CHUNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC NẾP SỐNG CHO SINH VIÊN
NỘI TRÚ TRƢỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ
VIỆT XÔ SỐ 1, BỘ XÂY DỰNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC QUẢN LÝ GIÁO DỤC
điều kiện thuận lợi cho người lao động học nghề, lập nghiệp. Tổ chức dạy
nghề, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ sản xuất phù hợp cho nông dân, đồng
bào dân tộc thiểu số” [40,tr.96].
Ngày nay tất cả các quốc gia trên thế giới đều coi con người là mục tiêu
và động lực của sự phát triển. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, nguồn nhân lực
chất lượng cao ngày càng khan hiếm. Vì lẽ đó, các quốc gia đều quan tâm đến
đào tạo nguồn nhân lực, thông qua chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo.
Giáo dục Việt Nam bước vào thế kỷ XXI đã có bước phát triển nhiều mặt: Đổi
mới quản lý, mở rộng quy mô, đa dạng hóa các hình thức đào tạo, nâng cao
chất lượng giáo dục. Luật dạy nghề năm 2006 đã cụ thể hóa: “Mục tiêu dạy
nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực
thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện
cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc, tự tạo việc làm
hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH - HĐH đất
nước” [44,tr. 22].
Sự chuyển đổi cơ chế quản lý, trong những năm qua đã tạo cho các
trường Cao đẳng, Đại học những cơ hội phát triển; đồng thời trong sự phát triển
cũng gặp không ít những khó khăn, thách thức trong công tác quản lý. Cơ chế
thị trường đã tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, bên cạnh mặt
tích cực thì mặt trái cũng ảnh hưởng xấu đến các hoạt động của đời sống xã
hội, trong đó có môi trường sống của sinh viên (SV).
Trường Cao đẳng nghề Việt Xô số 1, Bộ Xây dựng được thành lập theo
Quyết định số 1992/QĐ-BLĐTBXH ngày 20/12/2006 trên cơ sở nâng cấp từ
trường Kỹ thuật Cơ giới cơ khí xây dựng Việt Xô số 1. Là cơ sở đào tạo nguồn
nhân lực có trình độ cao đẳng và các bậc đào tạo khác theo cơ cấu của hệ thống
giáo dục quốc dân. Hiện nay trường có 183 cán bộ giáo viên, được bố trí sắp
tự giác tích cực trong học tập; tự tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo
đức; tác phong nghề nghiệp để phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH đất nước. Đây
là những vấn đề cần thiết mà nhà trường đang tìm kiếm biện pháp, giải pháp
thực hiện. Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài: “Quản lý giáo dục nếp sống cho sinh
viên nội trú Trường Cao đẳng nghề Việt Xô số 1, Bộ Xây dựng” để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp QLGD nếp sống cho SV nội trú Trường Cao
đẳng nghề Việt Xô số 1, Bộ Xây dựng, nhằm góp phần nâng cao chất lượng
quản lý và đào tạo.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu:
Vấn đề QLGD nếp sống cho SV nội trú Trường Cao đẳng nghề Việt Xô
số 1, Bộ Xây dựng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3.2. Đối tượng nghiên cứu:
Thực trạng công tác QLGD nếp sống cho SV nội trú Trường Cao đẳng
nghề Việt Xô số 1, Bộ Xây dựng; từ đó đề xuất một số biện pháp QLGD nếp
sống cho SV nội trú Trường Cao đẳng nghề Việt Xô số 1, Bộ Xây dựng.
4. Giả thuyết khoa học
QLGD nếp sống cho SV nội trú Trường Cao đẳng nghề Việt Xô số 1, Bộ
Xây dựng còn nhiều hạn chế, bất cập; nếu phân tích, đánh giá đúng thực trạng
quản lý; đề xuất được một số biện pháp QLGD nếp sống cho SV nội trú trường
Cao đẳng nghề Việt Xô số 1, Bộ Xây dựng phù hợp thì sẽ góp phần nâng cao
chất lượng giáo dục và đào tạo.
5. Nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
5.1. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu.
- Xử lý số liệu, kết quả nghiên cứu;
- Nhận định đánh giá chính xác, khách quan kết quả nghiên cứu.
7. Đóng góp của đề tài:
- Góp phần làm phong phú thêm cơ sở lý luận và thực tiễn QLGD nếp
sống cho SV nội trú.
- Đề xuất một số biện pháp QLGD nếp sống cho SV nội trú trường Cao
đẳng nghề Việt Xô số 1, Bộ Xây dựng.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, phụ lục và tài liệu tham khảo.
Luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài.
- Chương 2: Thực trạng công tác quản lý giáo dục nếp sống cho sinh viên
nội trú Trường cao đẳng nghề Việt Xô số 1, Bộ Xây dựng.
- Chương 3: Một số biện pháp quản lý giáo dục nếp sống cho sinh viên
nội trú Trường cao đẳng nghề Việt Xô số 1, Bộ Xây dựng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
PHẦN II. NỘI DUNG
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Vấn đề nghiên cứu lối sống, nếp sống đã được đề cập đến từ lâu qua
nhiều công trình nghiên cứu công phu như công trình “Việt Nam Phong tục”
của tác giả Phan Kế Bính (1875 - 1921). Ông đã nghiên cứu công phu về các
phong tục tập quán của dân tộc Việt Nam qua bề dầy lịch sử 4000 năm. Tất cả
những thói quen, nếp sống của con người Việt Nam từ xưa đến đầu thế kỉ XX
được tác giả phản ánh một cách khách quan, từ đó ca ngợi những phẩm chất,
lối sống cho họ” (Kỷ yếu hội thảo định hướng giá trị giáo dục đạo đức trong
các trường đại học; Hà Nội 1996) của Nguyễn Thị Kỷ.
- “Đặc điểm lối sống sinh viên hiện nay và những phương hướng, biện
pháp giáo dục lối sống cho sinh viên” của PGS. PTS Mạc Văn Trang làm chủ
nhiệm đề tài (Năm 1998, mã số B94-38-32).
- “Các biện pháp quản lý giáo dục nếp sống cho sinh viên trường Cao
đẳng Sư Phạm Mâu giáo Trung ương 3” của Đặng Văn Thuân (Luận văn thạc
sĩ khoa học giáo dục, năm 1999).
Ngoài ra một số chuyên đề bài báo viết về lối sống, nếp sống SV như:
- “Nếp sống xã hội của sinh viên” của PTS Vũ Dũng, viện tâm lý trung
tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia (Tạp chí Đại học và Giáo dục
chuyên nghiệp, 01/1997).
- “Sinh hoạt trong ký túc xá sinh viên, sân chơi chưa lành mạnh” của Hồ
Thu (Báo Sài Gòn giải phóng, 24/11/2003).
Qua những công trình, tài liệu nghiên cứu trên chúng tôi nhận thấy các
tác giả đã tiếp cận với những góc độ khác nhau trên các đối tượng SV thuộc các
ngành, các lĩnh vực khác nhau. Riêng mảng đề tài về SV trường Cao đẳng nghề
thì chưa có tác giả nào đề cập. Từ những bức xúc về công tác QLGD nếp sống
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
trong kí túc xá trường Cao đẳng Nghề Việt Xô số 1, Bộ Xây dựng, chúng tôi đã
chọn đề tài “Quản lý giáo dục nếp sống cho sinh viên nội trú trường Cao đẳng
Nghề Việt Xô số 1, Bộ Xây dựng”. Hy vọng và mong muốn của chúng tôi là
đóng góp một phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng công tác QLGD nếp sống
SV nội trú của trường mà chúng tôi đang công tác.
1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI QUẢN LÝ
GIÁO DỤC NẾP SỐNG CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ
1.2.1. Quản lý
Để tồn tại và phát triển, con người không thể hành động riêng lẻ mà cần
đảm sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như về
mặt chất lượng”.
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng “Quản lý giáo dục là hệ thống
những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý
nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng,
thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm
hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự
kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”.
Tác giả Nguyễn Gia Quý khái quát “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý
thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục
tới mục tiêu đã định, trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng những quy luật
khách quan của hệ thống giáo dục quốc dân”.
1.2.3. Quản lý trƣờng dạy nghề
Trường dạy nghề là cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân,
thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật.
Quản lý trường dạy nghề là quản lý hoạt động dạy và học nhằm đạt được
mục tiêu đào tạo đã đề ra đó là quá trình tập hợp các tác động tối ưu của quá
trình tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp của các chủ thể quản lý
tập thể giáo viên, HSSV và cán bộ khác nhằm thực hiện nhiệm vụ chính trị của
nhà trường, trong đó hoạt động cơ bản nhất là quản lý hoạt động dạy và học.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Nhiệm vụ của trường cao đẳng nghề:
+ Tổ chức đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ ở
các trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề và sơ cấp nghề nhằm trang bị cho
người học năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có sức
khoẻ, đạo đức lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp,
tạo điều kiện cho họ có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học
lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu thị trường lao động.
+ Được huy động, nhận tài trợ, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo quy
định của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động dạy nghề.
+ Quyết định thành lập các đơn vị trực thuộc trường theo cơ cấu tổ chức
đã được phê duyệt trong quy chế tổ chức và hoạt động của trường; quyết định
bổ nhiệm các chức vụ từ cấp trưởng phòng, khoa và tương đương trở xuống.
+ Sử dụng nguồn thu từ hoạt động kinh tế để đầu tư xây dựng cơ sở vật
chất của trường, chi cho các hoạt động dạy nghề và bổ sung nguồn tài chính
của trường.
+ Phối hợp với doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong
hoạt động dạy nghề về lập kế hoạch dạy nghề, xây dựng chương trình, giáo
trình dạy nghề, tổ chức thực tập nghề. Hợp tác, liên kết với các tổ chức kinh tế,
giáo dục, nghiên cứu khoa học trong nước và nước ngoài nhằm nâng cao chất
lượng dạy nghề, gắn dạy nghề với việc làm và thị trường lao động.
+ Được Nhà nước giao hoặc cho thuê đất, giao hoặc cho thuê cơ sở vật
chất; được hỗ trợ ngân sách khi thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao theo đơn đặt
hàng; được hưởng các chính sách ưu đãi về thuế và tín dụng theo quy định của
pháp luật.
+ Thực hiện các quyền tự chủ khác theo quy định của pháp luật.
1.2.4. Quản lý sinh viên nội trú
1.2.4.1. Sinh viên
SV Việt Nam hầu hết là đoàn viên thanh niên, đang học tại các trường
đại học và cao đẳng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Như vậy, tất cả những người học ở bậc Cao đẳng và Đại học đều được
gọi là SV.
Ngày nay, “Học, học nữa, học mãi” (Lênin) là khẩu hiệu của toàn xã hội
và học tập là công việc suốt đời. Các trường Cao đẳng và Đại học được tăng
leentaoj cơ hội học tập cho cho tất cả những ai có nguyện vọng vào học và
Như vậy, xét cho cùng thì biện pháp QLSV nội trú chính là một loại
công cụ quản lý HSSV, nhằm từng bước đi đến mục tiêu của công tác HS/SV
nội trú. Bởi vì công cụ quản lý là những phương tiện, những giải pháp của chủ
thể quản lý nhằm định hướng, dẫn dắt, khích lệ, điều hòa, phối hợp hoạt động
của con người và cộng đồng trong việc đạt được mục tiêu đề ra.
Theo Quy chế Công tác HSSV Khu nội trú thì: SV nội trú là những
người đang học tại trường và được nhà trường bố trí ở trong khu nội trú theo
hợp đồng của SV đã đăng ký với nhà trường .
SV đăng ký ở nội trú nếu số người có nguyện vọng vào ở nội trú lớn hơn
khả năng tiếp nhận của khu nội trú thì thứ tự ưu tiên theo đối tượng HSSV như
sau:
- Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, anh hùng lao động, thương binh
bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh, HSSV khuyết tật.
- Con liệt sỹ, con thương binh, con bệnh binh, con của người hưởng
chính sách thương binh, con của người có công.
- HSSV có hộ khẩu thường trú tại vùng cao, vùng có điều kiện kinh tế xã
hội đặc biệt khó khăn.
- Người cha hoặc người mẹ là dân tộc thiểu số.
- Con mồ côi cả cha lẫn mẹ.
- HSSV con hộ nghèo, cận nghèo theo quy định hiện hành của nhà nước.
- HSSV nữ.
- HSSV tích cực tham gia các hoạt động do nhà trường, Đoàn TNCS Hồ
Chí Minh, Hội SV, khu nội trú và các tổ chức xã hội tổ chức. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.2.5. Khái niệm về lối sống
Max Weber, nhà xã hội học người Đức, là người đầu tiên khi nghiên cứu
về lối sống đã cho rằng lối sống thể hiện vị trí của các nhóm xã hội. Khái niệm
- Từ bình diện sử dụng năng lực, T. Makiguchi nêu lên 3 lối sống của
con người như sau:
+ Lối sống đóng góp: trong mối quan hệ với thời gian, con người có các
thái độ mang tính lạc quan hay bi quan khi hoạt động phản ứng với các kích
thích của hiện tại, hoạt động hướng về quá khứ và hoạt động hướng về tương
lai.
+ Lối sống trao đổi: lối sống văn hóa, lối sống chính trị, lối sống kinh tế.
+ Lối sống phụ thuộc: sống bằng hưởng thụ hay chiếm đoạt.
- Từ bình diện xã hội học, lối sống được chia theo các tiêu chí sau:
+ Theo lãnh thổ vùng miền: có lối sống thành thị, lối sống nông thôn
+ Theo phân tầng giai cấp: có lối sống tư sản, lối sống tiểu tư sản, lối
sống công nhân, lối sống SV, lối sống trí thức, lối sống thương gia, lối sống
nông dân
+ Theo hình thái kinh tế xã hội: có lối sống phong kiến, lối sống tư bản
chủ nghĩa, lối sống XHCN.
Tác giả Đỗ Trung Lai cho rằng: “Lối sống suy cho cùng là cách dùng
đạo đức mà hành đạo ở đời. Lối sống thể hiện bên ngoài của đạo và đức. Nó đã
là và luôn là văn hoá” [14,Tr.21]
Tác giả Phạm Ngọc Định cho rằng lối sống còn là một phạm trù của duy
vật lịch sử. Tác giả dựa vào luận điểm của Marx và Ăngen khi cho rằng
“Phương thức sản xuất phải xét không đơn thuần theo khía cạnh nó là sự tái sản
xuất ra sự tồn tại thể xác của cá nhân và hơn thế nữa nó là một hình thức hoạt
động nhất định của những cá nhân ấy, một hình thức nhất định của sự biểu hiện
đời sống của họ: những cá nhân biểu hiện đời sống của họ như thế nào thì họ là
người như thế ấy. Nó ăn khớp với sản xuất của họ, với cái mà họ đã sản xuất ra
cũng như cách họ sản xuất ra”.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Phạm Ngọc Định đã đưa ra định nghĩa lối sống dưới dạng luận đề “Lối
nguyên tắc của trật tự xã hội và hoạch định của nếp sống cộng đồng.
Lối sống gồm nhiều hệ thống hành vi ứng xử của con người. Lối sống
phải được thông qua nếp sống. Nếp sống là những hành vi ứng xử của con
người, được lặp đi lặp lại nhiều lần thành nề nếp, thành thói quen, thành phong
cách được xã hội công nhận. Những hành vi trong lối sống chưa được lặp đi lặp
lại, chưa có tính ổn định và chưa trở thành bản tính tự nhiên của con người
trong các hoạt động, trong các ứng xử thì không nằm trong phạm trù nếp sống.
Nếp sống là mặt ổn định của lối sống, là bản năng của lối sống nên khi nói đến
nếp sống nghĩa là nói đến một lối sống ổn định.
Thật là khó khăn khi tách rời nếp sống ra khỏi lối sống, lối sống có tính
định tính, định hướng. Còn nếp sống có tính định hình, định lượng trong cuộc
sống của con người. Nếp sống với tư cách là biểu hiện của của lối sống, thể
hiện ở tính cụ thể, ở những chuẩn mực, khuôn mẫu ứng xử của xã hội mà mỗi
cá nhân đó tự ý thức, tự biến đổi bản tính của mình thành những hành động ổn
định mang tính chung của xã hội. So với lối sống, nếp sống có tính ổn định, bền
vững hơn nhưng không có nghĩa là không có sự biến đổi. Cùng với sự biến đổi
của lối sống, nếp sống cũng biến đổi nhưng chậm và khó khăn hơn.
Xung quanh khái niệm lối sống, nếp sống chúng ta còn gặp một số khái
niệm liên quan như nếp sống văn minh, nếp sống văn hoá, mức sống, lẽ sống,
phong cách sống, nếp sống mới Nội hàm các khái niệm trên đều nằm trong
phạm vi nếp sống.
- Nếp sống văn minh có sự phân biệt với nếp sống văn hoá: Nếp sống
văn minh là nếp sống được thừa hưởng các thành tựu của nền khoa học kĩ thuật
cơ khí, điện tử, mang sắc thái nếp sống công nghiệp. Nếp sống văn hoá là nếp
sống thể hiện trình độ văn hoá cao, bản sắc văn hoá truyền thống dân tộc hoà
quyện với nhau.
- Cách sống: Là kiểu sống có nghĩa hẹp cụ thể. Đó là lối sống theo cá
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Theo đặc điểm vùng miền có nếp sống đô thị, nếp sống nông thôn
- Theo đặc điểm độ tuổi nếp sống thanh niên, nếp sống người cao tuổi.
VD: Thanh niên họ có nếp sống nhanh thích nghi và tiếp thu những cái
mới, sống phóng khoáng và thích thay đổi. Còn người cao tuổi họ luôn có nếp
sống là: Có tính ổn định cao và họ khó thích nghi những cái mới.
- Theo tiêu chí phân tầng xã hội có nếp sống công nhân, nếp sống trí
thức
- Theo hình thái kinh tế xã hội có nếp sống tư bản chủ nghĩa, nếp sống
XHCN.
Nếp sống có một số tính chất như sau: Nếp sống là những phẩm chất có
tính ổn định; là biểu hiện của đạo đức; là những hành vi đã trở thành thói quen;
không tách rời khỏi hoàn cảnh, điều kiện cụ thể trong cuộc sống hàng ngày của
con người;
Nếp sống được biểu hiện ở các mặt hoạt động: Lao động, học tập; quan
hệ, ứng xử; hoạt động cá nhân; hoạt động đoàn thể xã hội.
Đối với HSSV nếp sống biểu hiện trong các hoạt động học tập, sinh hoạt,
lao động, giao tiếp, ứng xử. Đây là những hoạt động trong nhà trường, trong
KTX là những hoạt động cơ bản của SV.
Nhìn chung, nếp sống là phương thức xử sự trong một hoàn cảnh nhất
định của cá nhân trong cuộc sống, nó còn là một phương thức xử sự được quy
định bởi các giá trị đạo đức chuẩn mực. Vì vậy, nếp sống là những quy ước tạo
thành thói quen cho mỗi con người và xã hội. Trong cuộc sống hàng ngày,
chúng ta luôn phải chứng kiến cuộc xung đột gay gắt giữa lối sống mới và đủ
loại nếp sống trong các mối quan hệ xã hội, buộc mỗi cá nhân phải nhìn nhận
lựa chọn cho mình một cách sống lành mạnh, có văn hoá.
1.3. ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ
HSSV nói chung và SV ở các trường dạy nghề nói riêng là những người
có độ tuổi từ 18-25, hầu hết là Đoàn viên thanh niên, tại thời điểm này được thụ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
không nhỏ là các em học sinh có học lực trung bình và yếu, đặc biệt có những
em là những học sinh thuộc diện cá biệt lười học và có hạnh kiểm trung bình,
do vậy không có khả năng để thi đại học. Do đó, công tác QLSV ở các trường
CĐN gặp rất nhiều khó khăn. Để thực hiện tốt nhiệm vụ đào đạo, ngoài việc
đào tạo nghề, thì các trường CĐN cần phải có sự đổi mới trong công tác
QLGD, giúp SV phấn đấu vươn lên trong quá trình học tập, rèn luyện đạo đức
cá nhân, đạo đức nghề nghiệp và yêu cầu của đổi mới căn bản toàn diện nền
giáo dục theo tinh thần Nghị quyết số 29, Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa XI đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp CNH - HĐH
đất nước.
1.4. NỘI DUNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC NẾP SỐNG CHO SINH VIÊN
NỘI TRÚ
1.4.1. Giáo dục nếp sống cho sinh viên trong hoạt động học tập
Thời gian ngoài giờ lên lớp là khoảng thời gian khá dài trong quỹ thời
gian của SV. Để sử dụng thời gian cho việc học tập, trau dồi kiến thức, rèn
luyện kỹ năng hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức tự giác của SV. Tuy nhiên vai
trò kiểm tra giám sát của cán bộ quản lý HSSV, của ban cán sự lớp, cán bộ
Đoàn, Hội cũng không thể bỏ qua. Đặc biệt là quá trình tự học của SV, các em
phải tự nhận thức được việc học tập của mình, việc học tập đòi hỏi SV không
chỉ tiếp thu tri thức ở trên lớp qua bài giảng của thầy mà còn phải tự tìm kiếm
tri thức thông qua các tài liệu tham khảo trên cơ sở những kiến thức đã lĩnh hội
trước đó. Để chiếm lĩnh vốn tri thức sâu và rộng, hoàn thành tốt mục đích và
nhiệm vụ học tập, SV phải coi trọng việc tự học.
Ngoài giờ lên lớp, thời gian tự học SV sử dụng thời gian vào các hoạt
động lao động, sinh hoạt giải trí văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao. Đây là
những hoạt động không thể thiếu và có tác dụng tích cực trong việc giúp HSSV
bổ sung, ứng dụng kiến thức học được qua sách vở vào thực tiễn cuộc sống nếu
học, cao đẳng cho thanh niên đượcnhiều hơn và thuận lợi hơn. Nhưng bên cạnh
những thuận lợi đó thì cũng kéo theo những mặt hạn chế không nhỏ đặc biệt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
cho thanh niên ở độ tuổi học cao đẳng đại học trong đó có quan hệ ứng xử. Đặc
biệt là quan hệ giữa SV với SV, giữa SV với cán bộ giáo viên không chuẩn
mực, quan hệ nam nữ không phù hợp, không trong sáng, lối sống thực dụng.
Để làm tốt vấn đề này đòi hỏi phải có sự đầu tư công sức, sự quan tâm
thường xuyên của các cấp lãnh đạo, sự phối hợp nhịp nhàng giữa nhà trường,
chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể và đặc biệt là ý thức tự giác
trong học tập và rèn luyện của bản thân mỗi SV; xây dựng một môi trường giáo
dục thống nhất, cán bộ giáo viên và HSSV, phải phối hợp với các tổ chức đoàn
thể chính trị, xã hội và gia đình theo mục tiêu giáo dục đào tạo.
1.5 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO
DỤC ĐÀO TẠO NGHỀ
Trong suốt chiều dài lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng và Nhà
nước luôn quan tâm đến sự nghiệp “trồng người”. Ngày nay, bước sang giai
đoạn CNH - HĐH đất nước, Đảng ta đã đề ra định hướng lớn về phát triển giáo
dục và khoa học công nghệ: “Phát triển khoa học và công nghệ cùng với phát
triển GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh CNH -
HĐH đất nước” [39,Tr.112]. Trong đó đặc biệt chú trọng việc phát triển khoa
học và công nghệ đến năm 2020 Việt Nam phải đạt được trình độ khoa học và
công nghệ tiên tiến trong khu vực ở phần lớn các ngành trọng điểm.
Việc chuyển giao công nghệ ở nước ta hiện nay có thể nói là rút ngắn
giai đoạn khi so sánh với lịch sử phát triển lâu dài của các nước phương Tây.
Việc chuyển giao công nghệ đã đòi hỏi nhu cầu thực tế về đội ngũ nhân lực có
kiến thức, kĩ năng để tiếp thu và làm chủ được khoa học kỹ thuật để phục vụ
cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước theo định hướng XHCN.
CNH - HĐH nền kinh tế là con đường duy nhất để có thể đuổi kịp nền
Tuy nhiên, công tác dạy nghề vẫn còn nhiều yếu kém, chưa đáp ứng
được yêu cầu của thị trường lao động, nhu cầu học nghề của xã hội và hội nhập
quốc tế. Dạy nghề chủ yếu vẫn theo hướng cung; chất lượng dạy nghề còn thấp
chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động; quy mô đào