TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2
............... cá EQ so.................
NGUYỄN THỊ VÂN ANH
BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
GIÁO DỤC NẾP SỐNG CHO SINH VIÊN
NGÀNH GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ
AN NINH Ở TRUNG TÂM GIÁO DUC
QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục quốc phòng và an ninh
HÀ NỘI, 2016
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2
............... cá EQ so.................
NGUYỄN THỊ VÂN ANH
BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
GIÁO DỤC NẾP SỐNG CHO SINH VIÊN
NGÀNH GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ
AN NINH Ở TRUNG TÂM GIÁO DUC
QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục quốc phòng và an ninh
sống cho sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2” đến
thời điểm hiện tại cũng chưa có công trình nghiên cứu nào về vấn đề này, nên không
có sự trùng lặp với các đề tài khác.
Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi thông tin trích dẫn trong khóa luận đã được
chỉ rõ nguồn gốc. Việc hoàn thảnh khóa luận là sự nỗ lực, cố gắng rất lớn của bản
thân.
Tác giả
Nguyễn Thị Vân Anh
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1
NỘI DUNG
Chương 1: cơ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC NẾP SÓNG CHO SINH
VIÊN NGÀNH GDQP VÀ AN Ở TRUNG TÂM GDQP HÀ NỘI 2
1.1.
Sơ lược lịch sử vấn đề nghiên cứu ....................................................... 6
1.2.
Một số khái niệm cơ bản ...................................................................... 8
1.3.
Đặc điểm tâm lý của sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm
Các nguyên tắc trong đề xuất biện pháp............................................... 32
3.2.
Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục nếp sống cho sinh
viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 hiện nay...
33
3.3. ...................................................................................................... Khảo
nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp..................................
43
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ........................................................................... 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................... 51
PHỤ LỤC............................................................................................................
STT
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
VIẾT TẮT
VIẾT ĐẦY ĐỦ
1
AN
QĐNDVN
Quân đội nhân dân Việt Nam
8
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC sơ ĐỒ, BẢNG TRONG KHÓA LUẬN
TT
Bảng 3.1
Nội dung
Trang
Đánh giá của sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm về sự
cần thiết của các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục nếp
44
sổng cho sinh viên
Đánh giá của sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm
Bảng 3.2
GDQP Hà Nội 2 về tỉnh khả thi của các biện pháp nâng cao
chất lượng giáo dục nếp sổng cho sinh viên
được giao nhiệm vụ đào tạo giáo viên GDQP và AN. Đen nay nhà trường đã tuyển
sinh được 4 khóa đào tạo chính quy giáo viên ngành GDQP và AN với hơn 300 sinh
viên, bên cạnh đó hàng năm còn tuyển sinh đào tạo hệ giáo viên, giảng viên văn bằng
2 ngành GDQP và AN.
Hiện nay Trung tâm GDQP Hà Nội 2 đang đảm nhiệm giảng dạy môn học
GDQP và AN cho sinh viên gàn 20 trường đại học và cao đẳng (có năm tham gia
giảng dạy cho cả học sinh trung học phổ thông) trên địa bàn thành phố Hà Nội, tỉnh
1
Vĩnh Phúc và tỉnh Phú Thọ. Ngoài việc giảng dạy cho sinh viên hệ cấp chứng chỉ,
Trung tâm được nhà trường giao nhiệm vụ chủ trì trong công tác giảng dạy và quản lý
rèn luyện đối với sinh viên hệ chính quy đào tạo giáo viên ngành GDQP và AN, do
vậy ngay từ khóa đàu tiên Ban giám đốc Trung tâm đã rất quan tâm đến chất lượng
đào tạo cũng như công tác quản lý đối với sinh viên ngành GDQP và AN, ngoài việc
học kiến thức còn phải giáo dục cho sinh viên về ý thức tổ chức kỷ luật, giáo dục về
pháp luật, nép sống....
Nhận thức đúng tầm quan trọng của việc tổ chức quản lý nhằm nâng cao chất
lượng dạy học nói chung, chất lượng giáo dục nếp sống cho sinh viên ngành GDQP và
AN nói riêng, những năm qua Trung tâm GDQP Hà Nội 2 đã có nhiều biện pháp phù
hợp nhằm quản lý chặt chẽ việc dạy học cũng như duy trì kỷ luật, rèn luyện nền nếp,
tác phong, đạo đức lối sống đối với sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm
GDQP Hà Nội 2. Nhờ đó mà chất lượng dạy học ở Trung tâm đã có nhiều tiến bộ rõ
rệt, phong trào học tập sôi nổi, từng bước được nâng lên, việc duy trì các chế độ trong
ngày, trong tuần một cách có nền nếp, giáo dục nếp sống cho sinh viên đã có nhiều
chuyển biến tích cực. Tuy nhiên chất lượng giáo dục nép sống cho sinh viên ngành
GDQP và AN có những nội dung còn hạn ché, bất cập. Đáng quan tâm là hiệu quả
công tác giáo dục nếp sống cho sinh viên còn chưa thực sự được chú trọng, chưa đáp
ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, sự
lượng giáo dục nép sống cho sinh viên nhằm góp phàn nâng cao chất lượng trong
công tác quản lý và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Trung tâm GDQP Hà Nội
2 trong giai đoạn hiện nay.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về giáo dục nếp sống cho sinh viên.
- Đánh giá đúng thực trạng, tìm nguyên nhân ưu điểm, khuyết điểm giáo dục
nép sống cho sinh viên ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2.
- Đe xuất một số biện pháp giáo dục nếp sống cho sinh viên ngành GDQP và
AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 hiện nay, nhằm góp phần nâng cao chất lượng GD
& ĐT nói chung, nâng cao chất lượng giáo dục nép sống nói riêng.
- Khảo nghiệm tính càn thiết và khả thi của các biện pháp.
4. Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Công tác giáo dục nếp sống cho cho sinh viên ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2;
từ đó đề xuất 1 số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục nép sống cho sinh viên
ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2.
4.2. Phạm vỉ nghiên cứu
3
Nghiên cứu công tác giáo dục nếp sống cho sinh viên ngành GDQP và AN
(Khóa 38, 39, 40, 41) ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phuơng pháp phân tích và tổng hợp tài liệu; để nghiên cứu tác giả đã thu thập,
tổng hợp phân tích các tài liệu liên quan.
Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục nếp sống cho sinh viên ngành GDQP và
AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2
Chương 2: Thực trạng giáo dục nếp sống cho sinh viên ngành GDQP và AN ở
Trung tâm GDQP Hà Nội 2 hiện nay
Chương 3: Biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục nếp sống cho sinh viên
ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2
- Ket luận, kiến nghị
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
5
Chương 1
Cơ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC NẾP SỐNG CHO SINH VIÊN NGÀNH
GIÁO DỤC QUÓC PHÒNG VÀ AN NINH Ở TRUNG TÂM GDQP HÀ NỘI 2
1.1. Sơ lược lịch sử vấn đề nghiền cứu
Vấn đề nghiên cứu lối sống, nép sống đã được đề cập đến từ lâu qua nhiều
công ữình nghiên cứu công phu nhu công trình “Việt Nam Phong tục” của tác giả
Phan Kế Bính (1875-1921).[2]. Ông đã nghiên cứu công phu về các phong tục tập
quán của dân tộc Việt Nam qua bề dầy lịch sử 4000 năm. Tất cả những thói quen, nép
sống của con người Việt Nam từ xưa đến đầu thế kỉ XX được tác giả phản ánh một
cách khách quan, từ đó ca ngợi những phẩm chất, cái đẹp của con người Việt Nam
đồng thời cũng mạnh dạn đánh giá, phê phán các yếu tố lạc hậu, trì trệ trong lối sống,
nếp sống đi ngược lại thuần phong mỹ tục và bản sắc văn hóa dân tộc.
Trong tài liệu “Sửa đổi lề lối làm việc” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh
hướng, biện pháp giáo dục loi sống cho sinh viên, Đe tài khoa học cấp bộ, Mã số B94-
38-32, Năm 1998.
Tác giả Đặng Văn Thuân: Các biện pháp quản lý giáo dục nếp sổng cho sinh
viên trường Cao đẳng Sư phạm Mau giáo Trung ương 3, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo
dục, Năm 1999.
Tác giả Tạ Duy Chung: Quản lỷ giáo dục nếp sống cho sinh viên nội trú trường
Cao đẳng nghề Việt Xô sổ 1, Bộ Xây dựng, Luận văn thạc sỹ khoa học quản lý giáo dục,
Năm 2015.
Ngoài ra một số chuyên đề, bài báo viết về lối sống, nếp sống sinh viên như:
Tác giả Vũ Dũng: Nếp sổng xã hội của sinh viên, Tạp chí Đại học và Giáo dục
chuyên nghiệp, tháng 01/1997.
Tác giả Hồ Thu: Sinh hoạt trong kỷ túc xá sinh viên, sân chơi chưa lành mạnh,
Báo Sài Gòn giải phóng, ngày 24/11/2003.
Qua những công trình, tài liệu nghiên cứu trên chúng tôi nhận thấy các tác giả
đã tiếp cận với những góc độ, bình diện khác nhau trên các đối tượng sinh viên thuộc
các ngành, các lĩnh vực khác nhau. Riêng mảng đề tài về sinh viên ngành GDQP và
AN trường ĐHSP Hà Nội 2 thì chưa có tác giả nào đề cập. Từ những sự cần thiết về
công tác giáo dục nếp sống cho sinh viên ở trường ĐHSP Hà Nội 2 nói chung và ở
Trung tâm GDQP Hà Nội 2 nói riêng, tôi đã lựa chọn đề tài: “Biện pháp nâng cao chất
7
lượng giáo dục nếp sống cho sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà
Nội 2”. Hy vọng và mong muốn của tôi là đóng góp một phàn nhỏ vào việc nâng cao
chất lượng công tác giáo dục nếp sống cho sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm
GDQP Hà Nội 2.
học Liên Xô cũ đã khái quát như sau: Lối sống là một tổng thể, một hệ thống những
đặc điểm chủ yếu, nói lên hoạt động của các nhóm dân tộc, giai cấp, các nhóm xã hội,
các cá nhân trong những điều kiệu của một hình thái kinh tế xã hội nhất định.
Có nhiều cách phân loại lối sống:
- Từ bình diện sử dụng năng lực, T. Makiguchi nêu lên 3 lối sống của con
nguời như sau:
+ Lối sống đóng góp: trong mối quan hệ với thời gian, con người có các thái
độ mang tính lạc quan hay bi quan khi hoạt động phản ứng với các kích thích của hiện
tại, hoạt động hướng về quá khứ và hoạt động hướng về tương lai.
+ Lối sống trao đổi: lối sống văn hóa, lối sống chính trị, lối sống kinh tế.
+ Lối sống phụ thuộc: sống bằng hưởng thụ hay chiếm đoạt.
- Từ bình diện xã hội học, lối sống được chia theo các tiêu chí sau:
+ Theo lãnh thổ vùng miền: có lối sống thảnh thị, lối sống nông thôn...
+ Theo phân tầng giai cấp: có lối sống tư sản, lối sống tiểu tư sản, lối sống
công nhân, lối sống sinh viên, lối sống tri thức, lối sống thương gia, lối sống nông
dân...
+ Theo hình thái kinh tế xã hội: có lối sống phong kiến, lối sống tư bản chủ
nghĩa, lối sống XHCN.
Tác giả Đỗ Trung Lai cho rằng: “Lối sống suy cho cùng là cách dùng đạo đức
mà hành đạo ở đời. Lối sống thể hiện bên ngoài của đạo và đức. Nó đã là và luôn là
văn hóa”.
Tác giả Phạm Ngọc Định cho rằng lối sống còn là một phạm trù của duy vật
lịch sử. Tác giả dựa vào luận điểm của Marx và Ănghen khi cho rằng “Phương thức
sản xuất phải xét không đơn thuần theo khía cạnh nó là sự tái sản xuất ra sự tồn tại thể
xác của cá nhân và hơn thế nữa nó là một hình thức hoạt động nhất định của những cá
nhân ấy, một hình thức nhất định của sự biểu hiện đời sống của họ: Những cá nhân
biểu hiện đời sống của họ như thế nào thì họ là người như thế ấy. Nó ăn khớp với sản
xuất của họ, với cái mà họ đã sản xuất ra cũng như cách họ sản xuất ra”.
Phạm Ngọc Định đã đưa ra định nghĩa lối sống dưới dạng luận đề “Lối sống là
đi lặp lại nhiều lần thành nền nép, thành thói quen, thành phong cách được xã hội công
nhận. Những hành vi trong lối sống chưa được lặp đi lặp lại, chưa có tính ổn định và
10
chưa trở thành bản tính tự nhiên của con người trong các hoạt động, trong các ứng xử
thì không nằm trong phạm trù nép sống. Nép sống là mặt ổn định của lối sống, là bản
năng của lối sống nên khi nói đến nếp sống nghĩa là nói đến một lối sống ổn định.
Thật là khó khăn khi tách rời nếp sống ra khỏi lối sống, lối sống có tính định
tính, định hướng. Còn nếp sống có tính định hình, định lượng trong cuộc sống của con
người. Nếp sống với tư cách là biểu hiện của lối sống, thể hiện ở tính cụ thể, ở những
chuẩn mực, khuôn mẫu ứng xử của xã hội mà mỗi cá nhân đó tự ý thức, tự biến đổi
bản tính của mình thành những hành động ổn định mang tính chung của xã hội. So với
lối sống, nép sống có tính ổn định, bền vững hơn nhưng không có nghĩa không có sự
biến đổi. Cùng với sự biến đổi của lối sống, nép sống cũng biến đổi nhưng chậm và
khó khăn hơn.
Xung quanh khái niệm lối sống, nép sống chúng ta còn gặp một số khái niệm
liên quan như nếp sống văn minh, nếp sống văn hóa, mức sống, lẽ sống, phong cách
sống, nếp sống mới... Nội hàm các khái niệm trên đều nằm trong phạm vi nếp sống.
- Nếp sống văn minh có sự phân biệt với nếp sống văn hóa: Nếp sống văn
minh là nếp sống được thừa hưởng các thảnh tựu của nền khoa học kĩ thuật cơ khí,
điện tử, mang sắc thái nếp sống công nghiệp. Nếp sống văn hóa là nếp sống thể hiện
trình độ văn hóa cao, bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc hòa quyện với nhau.
- Cách sống: Là kiểu sống có nghĩa hẹp cụ thể, đó là lối sống theo cá tính, thị
hiếu của cá nhân trong một điều kiện môi trường sống nhất định. Ví dụ: Cách sống
của một gia đình, một tầng lớp, của giới văn nghệ sĩ, của người độc thân... Tuy nhiên
cách sống, kiểu sống mang tính độc đáo, đa dạng nhưng vẫn phải tuân thủ lối sống
nhất định trong một cộng đồng, trong một xã hội.
- Mức sống: Là mức thu nhập, mức hưởng thụ phúc lợi xã hội của cá nhân là
tính ổn định cao và họ khó thích nghi với những cái mới.
- Theo tiêu chí phân tầng xã hội có nếp sống công nhân, nếp sống trí thức...
- Theo hình thái kinh tế xã hội có nếp sống tư bản chủ nghĩa, nếp sống
XHCN.
Nếp sống có một số tính chất như sau: Nếp sống là những phẩm chất có tính
ổn định, là biểu hiện của đạo đức; là những hành vi đã trở thành thói quen, không tách
rời khỏi hoàn cảnh, điều kiện cụ thể trong cuộc sống hàng ngày của con người;
Nếp sống được biểu hiện ở các mặt hoạt động: Lao động, học tập, quan hệ,
12
ứng xử; hoạt động cá nhân; hoạt động đoàn thể xã hội.
Đối với sinh viên nép sống biểu hiện trong các hoạt động học tập, sinh hoạt,
lao động, giao tiếp, ứng xử. Đây là những hoạt động trong nhà trường, đặc biệt ở nội
trú toong KTX, là những hoạt động cơ bản của sinh viên.
Nhìn chung, nếp sống là phương thức xử sự trong một hoàn cảnh nhất định của
cá nhân trong cuộc sống, nó còn là một phương thức xử sự được quy định bởi các giá
trị đạo đức chuẩn mực. Vì vậy, nếp sống là những quy ước tạo thành thói quen cho
mỗi con người và xã hội. Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta luôn phải chứng kiến
cuộc xung đột gay gắt giữa lối sống mới và đủ loại nép sống trong các mối quan hệ xã
hội, buộc mỗi cá nhân phải nhìn nhận lựa chọn cho mình một cách sống lành mạnh, có
văn hóa.
1.3. Đặc điểm tâm lý của sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội
2
Trước hết chúng ta nhận thấy rằng, sinh viên là một tầng lớp xã hội, một tổ
chức xã hội quan trọng đối với mọi thể chế chính trị. Họ là nhóm người có vị trí
chuyển tiếp, chuẩn bị cho một đội ngũ tri thức có trình độ và nghề nghiệp tương đối
cao trong xã hội. Là nguồn cung cấp chủ yếu cho đội ngũ những chuyên gia theo các
Sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 có sự khác biệt
so với sinh viên ở các khoa trong nhà trường đó là sinh viên khi đến học được biên chế
thành các tiểu đội (tổ học tập), trung đội (lớp học tập) do ban chỉ huy đại đội quản lý
trực tiếp, sinh viên phải ăn, ở, sinh hoạt tập trung, sống xa nhà. Sinh viên trong cùng
một trường nhưng ở các khoa khác ở môi trường bên ngoài rất thoải mái trong sinh
hoạt, học tập, tự do đi lại ngoài giờ học... Còn sinh viên ngành GDQP và AN khi nhập
học, theo môi trường quân đội được rèn luyện theo các chế độ trong ngày, trong tuần
hết sức gò bó, với tính kỷ luật cao. Ban đầu nhiều sinh viên đã nản chí, tự ý bỏ ra
ngoài đi chơi, chấp hành thời gian ra vào cổng còn sai quy định, mang mặc sai tác
phong, tuy nhiên sau đó được sự động viên kịp thời của các cán bộ quản lý sinh viên
cũng như các em đã nhận thức đúng đắn về trách nhiệm của bản thân với đặc thù
ngành học của mình nên 100% sinh viên ở Trung tâm đều xác định quyết tâm khắc
phục khó khăn, vất vả để học tập và rèn luyện.
Đa số sinh viên có trách nhiệm, ham hiểu biết, có chí tiến thủ, năng động, và
có một quyết tâm cao để khắc phục mọi khó khăn, vất vả vươn lên trong học tập. Đối
14
với ngành GDQP và AN bên cạnh nhiều sinh viên có nhận thức đúng, có nhiều cố
gắng và đạt kết quả cao ữong học tập thì cũng có một bộ phận sinh viên coi ngành học
này là ngành học 3K (khó, khô, khổ). Chính vì vậy trong quá trình học tập có sinh
viên còn chưa tích cực, tự giác, thời gian dành cho hoạt động tự học, tự nghiên cứu
của sinh viên còn hạn ché... Đây là những yếu tố tác động, ảnh hưởng lớn đến chất
lượng dạy học các môn chuyên ngành GDQP và AN cho sinh viên ở Trung tâm
GDQP Hà Nội 2 nói chung và chất lượng giáo dục nép sống nói riêng.
Dạy học các môn chuyên ngành GDQP và AN cho sinh viên ở Trung tâm
GDQP Hà Nội 2 mang tính đặc thù về cả nội dung chương trình, hình thức tổ chức,
phương pháp giảng dạy lẫn đội ngũ cán bộ, giảng viên và cơ sở vật chất, thiết bị dạy
học. Đe nâng cao chất lượng dạy học môn học này đòi hỏi phải được quản lý chặt chẽ,
người phụ trách hoặc trực ban lớp hô “Đứng dậy” và hô “Nghiêm”, báo cáo giảng viên
cho xuống lớp, sau đó chỉ huy sinh viên ra về.
Khi học tập ngoài thao trường, người phụ trách hoặc trực ban lớp phải tổ chức
cho sinh viên đi và về thành hàng lối, thời gian đi và về không tính vào thời gian học
tập. Nếu một lần đi (về) trên một giờ được tính một nửa vào thời gian học tập. Trước
khi học tập, người phụ trách hoặc trực ban lớp học phải tập hợp sinh viên, kiểm tra sĩ
số, trang phục, vũ khí, học cụ, khám súng, sau đó báo cáo với giảng viên. Sinh viên
phải chấp hành nghiêm kỷ luật thao trường. Súng, đạn (néu có), trang bị chưa dùng
trong luyện tập phải có người canh gác. Hốt giờ luyện tập người phụ trách hoặc trực
ban lớp học phải tập hợp sinh viên, khám súng, kiểm tra sĩ số, vũ khí, học cụ và các
trang bị khác, chỉnh đốn hàng ngũ, báo cáo giảng viên cho sinh viên nghỉ, sau đó chỉ
huy sinh viên về đơn vị, hoặc nghỉ tại thao trường. Trường hợp có cấp trên của giảng
viên ở đó thì giảng viên phải báo cáo cấp trên trước khi lên, xuống lớp.
Thời gian ngoài giờ lên lớp là khoảng thời gian khá dài trong quỹ thời gian của
sinh viên. Đe sử dụng thời gian cho việc học tập, trau dồi kiến thức, rèn luyện kỹ năng
hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức tự giác của sinh viên. Tuy nhiên vai trò kiểm tra giám
sát của cán bộ quản lý sinh viên, của cán bộ trung đội kiêm chức, tiểu đội kiêm chức,
ban cán sự lớp, cán bộ Đoàn, Hội, các câu lạc bộ cũng không thể bỏ qua. Đặc biệt là
quá trình tự học của sinh viên, các em phải tự nhận thức được việc học tập của mình,
việc học tập đòi hỏi sinh viên không chỉ tiếp thu tri thức ở trên lớp qua bài giảng của
thầy mà còn phải tự tìm kiếm tri thức thông qua các tài liệu tham khảo trên cơ sở
những kiến thức đã lĩnh hội trước đó. Để chiếm lĩnh vốn tri thức sâu và rộng, hoàn
16
thành tốt mục đích và nhiệm vụ học tập, sinh viên phải biết coi trọng việc tự học.
Ngoài giờ lên lớp, thời gian tự học sinh viên sử dụng thời gian vào các hoạt
động lao động, sinh hoạt giải trí văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao. Đây là những
hoạt động không thể thiếu và có tác dụng tích cực trong việc giúp sinh viên bổ sung,