BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CAO NHƯ PHÚC
BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH THPT TẠI
THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU
NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC - 601401
Hướng dẫn khoa học: TS. NINH VĂN BÌNH Tp. Hồ Chí Minh, tháng 10/2012
iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Bạc Liêu, ngày tháng năm 2012
Người nghiên cứu lớp Cao Như Phúc iiiLỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn TS.Ninh Văn Bình đã hướng
dẫn, theo dõi, định hướng khoa học và tạo mọi điều kiện để người nghiên
cứu hoàn thành tốt luận văn,
Tôi xin chân thành cảm ơn Quý Thầy, Cô giảng dạy đã truyền đạt
những kiến thức, kinh nghiệm quý báu giúp tôi nhận thức sâu sắc hơn về
nghề nghiệp, về cuộc sống,
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, quý Thầy, Cô các trường
THPT Bạc Liêu, Hiệp Thành, Phan Ngọc Hiển, Chuyên Bạc Liêu đã tạo
điều kiện và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp,
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể học sinh ở các trường THPT đã
Để góp phần nâng cao chất lượng hướng nghiệp tại địa phương, người
nghiên cứu đã chọn đề tài “Biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục hướng
nghiệp cho học sinh THPT tại thành phố Bạc Liêu tỉnh Bạc Liêu”. Đề tài đi sâu
nghiên cứu các vấn đề sau :
1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về GDHN như : mục tiêu, nội dung , hình thức,
các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng GDHN, nguyên nhân chọn nghề sai của HS
THPT, đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi THPT…
2. Khảo sát thực trạng hoạt động GDHN của HS THPT ở thành phố Bạc Liêu
tỉnh Bạc Liêu
3. Đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng GDHN cho HS các trường
THPT ở thành phố Bạc Liêu tỉnh Bạc Liêu
4. Tổ chức khảo sát sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất
5. Kết quả khảo sát cho thấy các biện pháp này có thể thực hiện được và phù
hợp với điều kiện thực tế của các trường THPT ở thành phố Bạc Liêu tỉnh Bạc Liêu
v
ABSTRACT
From the earliest years of our lives, we are asked to consider what we want
to be when growing up. Parents carefully plan and manage their children’s
educational experiences in the hope of preparing them for successful careers.
Vocational guidance will help you to explore ways can help youth to decide on a
career plan and gain the skill and knowledge they need to be successful in the job
market in the future. Vocational education is an important stage in the process of
education training for students. However, many high schools have paid little
attention to the graduate students; the quality did not meet the goals and practical
needs.
To contribute to improve the Vocational education quality at high school where
author is working, the author has chosen topic “Measures to improve the quality of
vocational education for high school in Bac Lieu town, Bac Lieu
Province”.Research the following issues:
1. Research rationale for Vocational education: objectives, content, form, factors
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
5. Giả thuyết nghiên cứu 4
6. Phạm vi giới hạn của đề tài 4
7. Phương pháp nghiên cứu 4
8. Những đóng góp của đề tài 5
9. Cấu trúc của luận văn 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HƯỚNG NGHIỆP 6
1.1. Tổng quan chung về lĩnh vực nghiên cứu, các kết quả nghiên cứu trong và
ngoài nước đã công bố : 6
1.1.1. Trên thế giới: 6
1.1.2. Ở Việt Nam: 9
1.2. Các khái niệm cơ bản đề tài: 12
1.3. Cơ sở lý luận về GDHN: 15
1.3.1. Cơ sở tâm lý học 15
1.3.1.1. Cấu trúc nhân cách: 15
vii
1.3.1.2 Đặc điểm tâm lí và nhân cách của học sinh THPT: 17
1.3.2. Giáo dục hướng nghiệp học sinh THPT 21
1.3.2.1. Vị trí, vai trò của hoạt động hướng nghiệp 21
1.3.2.2. Những tính chất của hướng nghiệp 22
1.3.2.3. Những nhiệm vụ chung của giáo dục hướng nghiệp ở THPT 22
1.3.2.4. Qui trình giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT 24
1.3.2.5. Các hình thức giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT 26
1.3.2.6. Các giai đoạn hướng nghiệp cơ bản cho học sinh 26
1.3.2.7. Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục hướng nghiệp: . 28
1.3.3. Nghề nghiệp 29
1.3.3.1. Xu hướng nghề nghiệp 29
1.3.3.2. Năng lực nghề nghiệp: 32
1.3.3.3. Sự phù hợp nghề: 33
3.3.6 Tăng cường xã hội hóa giáo dục cho công tác GDHN 79
3.4. Khảo sát tính khả thi và tính cần thiết của các biện pháp nâng cao chất lương
GDHN cho HS THPT ở thành phố Bạc Liêu tỉnh Bạc Liêu 81
Tiểu kết chương 3 85
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 92
ix
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBQL : Cán bộ quản lý
GD : Giáo dục
GDHN : Giáo dục hướng nghiệp
GD-ĐT : Giáo dục đào tạo
GV : Giáo viên
GVCN : Giáo viên chủ nhiệm
HĐ : Hoạt động
HN : Hướng nghiệp
HS : Học sinh
HSPT : Học sinh phổ thông
KTTH-HN : Kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp
PHHS : Phụ huynh học sinh
THPT : Trung học phổ thông
ĐH : Đại học
CĐ : Cao đẳng
THCN : Trung học chuyên nghiệp
Hiệu quả của GDHN qua nhận xét của giáo viên 60
Bảng 2.15 Nguyên nhân dẫn tới GDHN chưa hiệu quả 61
Bảng 3.1 Đánh giá của chuyên gia về mức độ cần thiết của các biện
pháp nhằm nâng cao chất lượng GDHN
82
Bảng 3.2 Đánh giá của chuyên gia về mức độ phù hợp của các biện
pháp nhằm nâng cao chất lượng GDHN
83
Bảng 3.3 Đánh giá của chuyên gia về mức độ khả thi của các biện
pháp nhằm nâng cao chất lượng GDHD
84
xi
DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Tên hình / Biểu đồ Trang
Hình 1.1 Tam giác hướng nghiệp 24
Hình 1.2 Các giai đoạn hướng nghiệp 26
Biểu đồ 2.1 Nhận thức mục đích giáo dục hướng nghiệp ở bậc THPT 42
Biểu đồ 2.2 Nhận thức về mức độ cần thiết của GDHN ở THPT 44
Biểu đồ 2.3 Nhận thức về tầm quan trọng của việc định hướng nghề ở
THPT 45
Biểu đồ 2.4 Thái độ và hành vi học sinh khi học HN 46
Biểu đồ 2.5 Mục đích của học sinh khi tham gia GDHN
48
Biểu đồ 2.6 Nội dung và thời lượng GDHN
49
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài :
Thế kỷ XXI sẽ đánh dấu sự ra đời của nền văn minh mới trong lịch sử loài
người. Về tên gọi của nền văn minh đang phôi thai này thì còn có nhiều ý kiến khác
nhau, có người gọi là "nền văn minh hậu công nghiệp", "nền văn minh trí tuệ", "xã
hội tri thức", "nền kinh tế tri thức", "xã hội thông tin" Thế giới đang hướng tới
một nền kinh tế tri thức trong chiến lược phát triển bền vững. Trong hoàn cảnh đó,
đào tạo nguồn nhân lực là điều kiện then chốt, là chiến lược phát triển và cạnh tranh
giữa các nước với nhau.
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá (CNH -
HĐH) với nền kinh tế mở, năng động bao gồm nhiều thành phần kinh tế vận hành
theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Sự phát triển nhanh chóng của
nền kinh tế trong những năm qua cùng với sự hội nhập mạnh mẽ với khu vực và thế
giới đã có những tác động to lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội, đưa đến cho đất
nước những cơ hội và thách thức mới, đòi hỏi chúng ta phải nhạy bén trong việc
nắm bắt và tiếp thu các tri thức tiên tiến, các thành tựu khoa học công nghệ từ các
nước phát triển. Đồng thời, vấn đề phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp
CNH- HĐH đã và đang trở thành một nhiệm vụ cấp thiết được Đảng, Nhà nước và
xã hội quan tâm hàng đầu. Trong Nghị quyết hội nghị lần thứ II, Ban chấp hành
Trung ương Đảng khoá VIII đã nhấn mạnh: “Muốn tiến hành CNH- HĐH thắng lợi
phải phát triển mạnh giáo dục đào tạo và phát huy nguồn lực con người- yếu tố cơ
bản của sự phát triển nhanh và bền vững”. Điều đó có nghĩa là coi yếu tố con người
là trọng tâm của sự phát triển, quyết định thắng lợi của sự nghiệp CNH- HĐH.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo hàng năm nước ta có hơn 5 triệu học sinh
THCS và gần 3 triệu học sinh THPT ra trường tạo cho nước ta một nguồn lao động
dự trữ dồi dào, có văn hoá và là nguồn tuyển sinh lớn cho các trường Đại học, Cao
đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp và Dạy nghề. Sự dồi dào của lực lượng này thực sự
đang tạo ra cơ hội lớn cho sự phát triển xã hội. Vì vậy, việc chuẩn bị cho thế hệ trẻ
có được những phẩm chất và năng lực nghề nghiệp vững chắc phù hợp với nhu cầu
2
Tại thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu chất lượng hoạt động giáo dục hướng
nghiệp còn nhiều yếu kém chưa đáp ứng được nguyện vọng của địa phương, giáo
dục hướng nghiệp được coi là hoạt động hướng dẫn học sinh lớp 12 làm hồ sơ thi
ĐH, nên khi làm hồ sơ tuyển sinh ĐH, CĐ hầu hết HS còn rất bỡ ngỡ, lúng túng
trong việc định hướng nghề, chọn nghề, HS không có những hiểu biết tối thiểu về
thế giới NN nói chung. Do đó rất khó khăn để chọn trường, chọn ngành để thi.
Những HS cũng biết rằng kỳ thi đại học ít có khả năng đỗ song vẫn đi thi theo
phong trào, theo chúng bạn hoặc vì sĩ diện của bản thân và gia đình. Mặt khác,
mong muốn của gia đình, cha mẹ HS cũng ảnh hưởng và chi phối việc lựa chọn
nghề của các em. Đa số cha mẹ HS quan niệm rằng : vào ĐH là con đường duy nhất
để thoát nghèo, dễ có vị thế cao trong XH, mang lại vinh dự cho gia đình. Xuất phát
từ những lý do trên, người nghiên cứu đã thực hiện đề tài: “Biện pháp nâng cao
chất lượng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT tại thành phố Bạc Liêu
tỉnh Bạc Liêu” với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng GDHN cho học sinh
THPT thành phố Bạc Liêu tỉnh Bạc Liêu
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp cho
học sinh THPT thành phố Bạc Liêu tỉnh Bạc Liêu
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận của GDHN cho học sinh THPT
Khảo sát thực trạng GDHN cho học sinh THPT ở thành phố Bạc Liêu tỉnh
Bạc Liêu
Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng GDHN cho học sinh
THPT ở thành phố Bạc Liêu tỉnh Bạc Liêu
Khảo nghiệm tính hợp lí, tính khả thi của các biện pháp trên cơ sở lấy ý kiến
chuyên gia.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu:
Hoạt động GDHN cho học sinh THPT ở thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu
4
* Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Gặp gỡ trực tiếp các bộ quản
lý giáo dục và những giáo viên có kinh nghiệm trong công tác GDHN để điều tra,
trao đổi, xin ý kiến về những vấn đề có liên quan đến đề tài, đặc biệt là về thực
trạng, đánh giá thực trạng, xây dựng, đề xuất các biện pháp và khảo nghiệm các
biện pháp của đề tài.
Các phương pháp thống kê toán học:
Sử dụng các phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu, là cơ sở để
đánh giá thực trạng và xây dựng các biện pháp của đề tài
8. Những đóng góp của đề tài
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động GDHN
Làm sáng tỏ thực trạng hoạt động giáo dục hướng nghiệp của thành phố Bạc
Liêu, tỉnh Bạc Liêu trong giai đoạn hiện nay
Đề xuất biện pháp khả thi góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động GDHN,
đáp ứng nhu cầu về định hướng nghề nghiệp của HS trên địa bàn, định
hướng phân luồng HS theo yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trên địa bàn.
Kết quả nghiên cứu đề tài trở thành tài liệu tham khảo cho các trường phổ
thông, các trung tâm HN, trung tâm GDTX trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị ; Danh mục tài liệu tham
khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương :
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động hướng nghiệp
Chương 2: Thực trạng hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ
thông tại thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu
Chương 3: Các biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học
sinh trong điều kiện hiện nay
6
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG
HƯỚNG NGHIỆP
1.1. Tổng quan chung về lĩnh vực nghiên cứu, các kết quả nghiên cứu trong và
2
http://www.zing.vn/news/viec-lam/bai-hoc-kinh-nghiem-tu-nhung-nguoi-noi-tieng/a109398.html
7
thuộc đại học tổng hợp Garvared (Mỹ) vào năm 1908 đã tổ chức ở Boston lần đầu
tiên ở Mỹ hội đồng nghề nghiệp giúp đỡ việc chọn nghề cho người lao động
3
Ở Pháp, năm 1922 Bộ Công nghiệp và thương nghiệp ban hành nghị định về
công tác hướng nghiệp và thành lập Sở hướng nghiệp cho thanh niên dưới 18 tuổi.
Năm 1938 công tác hướng nghiệp mang tính pháp lý thông qua quyết định ban hành
chứng chỉ hướng nghiệp bắt buột đối với tất cả thanh niên dưới 17 tuổi.
Ở Đức, năm 1925 – 1926 đã có 567 phòng tư vấn nghề nghiệp đặc biệt, đã
nghiên cứu gần 400.000 thanh niên trong một năm.Vào thời kỳ này, ở Anh đã thành
lập được một hội đồng quốc gia đặc biệt nghiên cứu về vấn đề này
4
Ở Nga, cuốn sách về hướng nghiệp "Lựa chọn khoa và điểm qua chương
trình đại học tổng hợp", trong đó nêu rõ ý nghĩa về lựa chọn nghề khi thi vào trường
đại học được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1897 (tác giả là giáo sư trường đại học
tổng hợp Pêtecbua B.F. Kapeev)
Từ những năm 20, 30 của thế kỷ XX, công tác hướng nghiệp đã được triển
khai trên đất nước Liên Xô. Vào năm 1930 ở Matxcơva đã thành lập phòng thí
nghiệm Trung ương về tư vấn nghề và lựa chọn nghề trực thuộc Trung ương đoàn
thanh niên Cộng sản Lênin, trong đó phòng thí nghiệm đóng vai trò quan trọng
trong việc nghiên cứu, tổng kết và phổ biến những kinh nghiệm tiêu biểu của các cơ
quan tư vấn nghề, đặc biệt là việc lựa chọn nghề của tuổi trẻ trong các trường phổ
thông kỹ thuật
5
Vào những năm 1940, nhà tâm lý học Mỹ J.L Holland đã nghiện cứu và thừa
hướng nghiệp, mở các trung tâm tư vấn hướng nghiệp và đào tạo giáo viên, chuyên
gia tư vấn hướng nghiệp
Hoa Kỳ:
Bước vào thế kỷ XXI, Hoa kỳ đang có nhiều nổ lực để nâng cao hơn nữa
chất lượng giáo dục, tăng cường kết quả học tập của HS nhằm đảo bảo cung cấp
một lực lượng lao động có trình độ, có khả năng cạnh tranh và thích ứng linh hoạt
trong điều kiện nền kinh tế toàn cầu… Người ta đã đưa ra nhiều hướng giải quyết
và đưa ra các nội dung cần tăng cường với chiến lược quan trọng, trong đó tăng
cường mối liên hệ giữa các trường trung học với các doanh nghiệp theo hướng
chuyển dần thành trường đào tạo nghề chuyên nghiệp. Một phần của chiến lược này
là tạo điều kiện cho HS tham gia làm việc bán thời gian tại xí nghiệp
9
Pháp: Là một trong những nước rất đề cao công tác hướng nghiệp cho học sinh
phổ thông và công việc này do những nhà tâm lý tư vấn hướng nghiệp đảm nhiệm,
thuộc biên chế của Bộ giáo dục và làm việc tại các trung tâm độc lập với các
trường phổ thông. Tại Pháp phân biệt rõ 2 loại: định hướng học đường (orientation
scolaire) thường dành cho học sinh phổ thông và thanh thiếu niên (dưới 25 tuổi)
và định hướng nghề cho dành cho người trưởng thành đã đi làm. Pháp có 2 các
đơn vị chuyên trách hướng nghiệp là trung tâm INETOP (Viện nghiên cứu quốc
7
http://www.tamlyhoc.net/diendan/showthread.php?tid=2104
8
Bộ Giáo Dục và Đào Tạo (2010), Định hướng và đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục hướng nghiệp
cho học sinh trung học cơ sở, Hà Nội 2010
9
Phạm Minh Hạc, Trần Kiều. Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI. NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2002,
trang 356
9
thông và việc sử dụng hợp lý học sinh phổ thông các cấp phổ thông cơ sở và phổ
10
Đặng Hoàng Minh, Công tác hướng nghiệp ở Pháp Cập nhật: 28/11/2008
http://www.huongnghiep.com.vn/?view=detail&pmenu=2&menu=104&id=2184
11
http://www.gdtd.vn/channel/3006/201102/Hoc-la-hoc-co-nghe-co-nghiep-1940579/
12
http://vietbao.vn/Giao-duc/Hoc-sinh-va-lao-dong/55188244/202/
10
thông trung học tốt nghiệp ra trường do Hội đồng Chính phủ ban hành, mang lại
tính pháp lí cho hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại Việt Nam
Các nghiên cứu về lĩnh vực HN, theo danh mục các đề tài luận văn thạc sĩ
Giáo dục học của trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh từ 1993 đến
năm 2010 đã có những đề tài sau :
Nguyễn Toàn, Hiện trạng và định hướng công tác tư vấn cho học sinh tại
các Trung tâm Kỹ thuật Hướng nghiệp dạy nghề ở thành phố Hồ Chí
Minh, năm 1997.
Nguyễn Thị Bạch Phượng, Nghiên cứu hướng chọn nghề của học sinh
THPT, năm 1998.
Trịnh Xuân Thu, Nghiên cứu sự thích ứng nghề của sinh viên Khoa Kỹ thuật
Công ngiệp - Trường Cao đẳng Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, năm 1998.
Phạm Đức Khiêm, Nghiên cứu về định hướng NN học sinh THPT nhằm
phân luồng học sinh vào các trường THCN tại thành phố Hồ Chí Minh, năm
2005.
Bên cạnh các luận văn thạc sỹ trên, về lĩnh vực hoạt động HN cũng được
nghiều nhà khoa học nghiên cứu như :
- Nguyễn Toàn và cộng tác viên, Nghiên cứu một số biện pháp khả thi trong
việc ứng dụng triển khai công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông cấp 2 -3 ở
Thành phố Hồ Chí Minh, Sở Khoa học Công nghệ - Môi trường và Sở Giáo dục đào
thành hệ thống
Ở Việt Nam, hoạt động hướng nghiệp cho học sinh phổ thông nhằm mục tiêu
giáo dục toàn diện, góp phần vào việc phân luồng học sinh phổ thông, là bước khởi
đầu quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực cho xã hội
Qua đây chúng ta thấy được gần nền giáo dục Việt Nam đang hòa nhập với
nền giáo dục các nước trên thế giới. Nhiều trường học, các trung tâm KTTH-HN,
các tổ chức xã hội đã và đang nỗ lưc GDHN cho học sinh phổ thông nhằm đạt được
mục tiêu giáo dục con người toàn diện.
12
Các đề tài nghiên cứu trên đã đưa ra một số biện pháp về định hướng NN,
HN cho HS tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh. Nhưng tại các tỉnh
miền núi, cao nguyên, những tỉnh có điều kiện giáo dục học tập của học sinh còn
nhiều khó khăn thì công tác HN cho HS chưa được đề cập nhiều trong các công
trình nghiên cứu, do đó mục tiêu của đề tài là tìm hiểu các nguyên nhân ảnh hưởng
trực tiếp đến chất lượng hướng nghiệp, từ đó đề xuất các biện pháp cụ thể, tích cực
hóa các đối tượng tham gia vào quá trình hướng nghiệp
1.2. Các khái niệm cơ bản đề tài:
1.2.1. Biện pháp:
Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về biện pháp :
Hồ Ngọc Đức,(1997-2004) The Free Vietnamese Dictionary Project định
nghĩa biện pháp: Cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể.
13
Hoàng Phê (2009), Từ điển Tiếng Việt thông dụng, NXB Đà Nẵng định nghĩa
biện pháp là cách thức xử lý công việc hoặc giải quyết vấn đề
Nguyễn Như Ý (2011), Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Đại Học Quốc Gia
TPHCM định nghĩa biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành giải quyết 1 vấn đề
cụ thể
Như vậy, có thể hiểu biện pháp là cách thức, cách làm, cách xử lý để giải
quyết 1 công việc hoặc 1 vấn đề cụ thể.
K.K. Platônốp - một trong những nhà tâm lý học nổi tiếng của Nhà nước Xô
Viết cho rằng : "Hướng nghiệp, đó là một hệ thống các biện pháp tâm lý - giáo dục,
y học, Nhà nước nhằm giúp cho con người đi vào cuộc sống thông qua việc lựa
chọn cho mình một nghề nghiệp vừa đáp ứng nhu cầu xuất hiện, vừa phù hợp với
hứng thú năng lực của bản thân. Những biện pháp này sẽ tạo nên sự thống nhất giữa
quyền lợi của xã hội với quyền lợi của cá nhân" hoặc như viện sĩ C.Ia.Batưsép xác
định: “ Hướng nghiệp là một hoạt động hợp lý gắn với sự hình thành ở thế hệ trẻ
hứng thú và sở thích nghề nghiệp vừa phù hợp với những năng lực cá nhân, vừa đáp
ứng đòi hỏi của xã hội đối với nghề này hay nghề khác ”
16
Theo Phạm Tất Dong khái niệm hướng nghiệp được hiểu trên hai góc độ:
* Trên góc độ xã hội: hướng nghiệp như là một hệ thống tác động của xã hội về
giáo dục, y học, xã hội học, kinh tế học nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn được nghề
vừa phù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của cá nhân, vừa đáp
ứng được nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân.
15
http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/H%C6%B0%E1%BB%9Bng_nghi%E1%BB%87p
16
Nguyễn Văn Hộ (chủ biên ), Nguyễn Thị Thanh Huyền (2006), Hoạt động hướng nghiệp và
giảng dạy kỹ thuật trong trường Trung học phổ thông, NXB Giáo Dục, trang 5