0 1 2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 11
Chương 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH THẾ GIỚI
QUAN CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM 11
1.1. Khái niệm về thế giới quan 11
1.2. Điều kiện lịch sử xã hội, kinh tế, văn hóa Việt Nam thế kỷ XV -
XVI 15
1.2.1. Một số biến động chính trị - xã hội 15
1.2.2. Điều kiện kinh tế 19
1.2.3. Tình hình văn hóa 20
1.3. Một số tiền đề tư tưởng cho sự hình thành thế giới quan của
Nguyễn Bỉnh Khiêm. 23
1.3.1. Tư tưởng Nho giáo 23
1.3.2. Tư tưởng Đạo gia 30
1.3.3. Tư tưởng Phật giáo 32
1.3.4. Truyền thống văn hóa của dân tộc 34
1.4. Nguyễn Bỉnh Khiêm và các tác phẩm 35
1.4.1. Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm 35
1.4.2. Tác phẩm Bạch Vân am thi tập và Bạch Vân Quốc ngữ thi tập 39
Tiểu kết chương 1 40
2.1. Vũ trụ quan của Nguyễn Bỉnh Khiêm 41
nghiên cứu về quan điểm, tư tưởng của các nhà tư tưởng này để thấy được sự
ảnh hưởng của họ đến lịch sử cũng như lịch sử tư tưởng dân tộc. Đồng thời,
việc tìm hiểu về lịch sử tư tưởng của dân tộc là cũng cơ sở để khẳng định
những giá trị mà các bậc tư tưởng tiền bối đã để lại.
Ngày nay, xã hội đang có những biến đổi mạnh mẽ về kinh tế, chính trị,
văn hóa, Bên cạnh việc nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh thì việc tìm lại giá trị của những quan niệm, quan điểm của các
nhà tư tưởng trong lịch sử là rất quan trọng, trong đó có những tư tưởng của
các nho sĩ phong kiến. Điều này giúp ta có thể học hỏi được ở các tư tưởng
đó những yếu tố tích cực, hợp lí để phục vụ cho quá trình xây dựng và bảo
vệ đất nước hiện nay như: khẳng định nền tảng tư tưởng Việt Nam gắn liền
với lịch sử tư tưởng dân tộc; giữ gìn những giá trị tư tưởng trong quá trình 4
xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; trên cơ sở
đường lối chính trị, xã hội tích cực của các nhà tư tưởng đi trước, ta kế thừa,
phát triển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Hơn nữa, việc
nghiên cứu lịch sử tư tưởng đã giúp cho việc trả lời những câu hỏi xoay
quanh vấn đề “Việt Nam có triết học hay không?”.
Trong lịch sử tư tưởng của dân tộc Việt Nam ở thế kỉ XVI, ta không thể
không kể đến nhà tư tưởng lớn, một người thầy lỗi lạc – Trạng Trình Nguyễn
Bỉnh Khiêm. Nguyễn Bỉnh Khiêm cùng những giai thoại về ông đã trở thành
di sản, tư tưởng của ông vẫn tỏa sáng trong lịch sử tư tưởng dân tộc, những
âm vang về con người ấy vẫn còn vang vọng mãi. Tư tưởng của ông được
thể hiện trong các tác phẩm văn thơ, qua phong cách, lối sống mà chính ông
đã trải nghiệm. Trong hệ thống tư tưởng của ông chứa đựng những tư tưởng
triết học sâu sắc với một vũ trụ quan, một quan niệm nhân sinh theo lẽ tự
nhiên chứa đựng nhiều yếu tố nhân văn, tích cực.
Tư tưởng về thế giới, về con người của Nguyễn Bỉnh Khiêm khá nổi bật
Doãn Chính chủ biên,… Ở những tác phẩm trên đã nêu khái quát về triết
học Ấn Độ, trong đó có khái quát nội dung tư tưởng triết học của Phật giáo,
còn nội dung về thế giới quan trong triết học Phật giáo được điểm qua một
vài nét chính.
* Nghiên cứu về lịch sử tư tưởng Việt Nam, đã có các cuốn sách viết về
lịch sử tư tưởng Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử như: Lịch sử tư tưởng Việt
Nam tập 1 (1993) của tác giả Nguyễn Tài Thư, Đại cương lịch sử tư tưởng
Việt Nam tập 1 (2002) của Nguyễn Hùng Hậu… Trong các tác phẩm có bao
gồm phần lịch sử tư tưởng Việt Nam ở thế kỷ XVI – XVIII và trong đó cũng
đã nhắc đến nhà tư tưởng nổi bật của thời kỳ này là Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về lịch sử tư tưởng Việt
Nam ở giai đoạn lịch sử này. 6
* Có nhiều công trình nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm ở những khía
cạnh khác nhau như: văn học, văn hóa, đạo đức, tư tưởng Trong lĩnh vực tư
tưởng, nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra tư tưởng triết học sâu sắc của ông.
Một số tác phẩm tiêu biểu nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm: Tác
phẩm Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Nhà thơ triết lí” (1957) của đồng tác giả là Lê
Trọng Khánh và Lê Anh Trà. Tác phẩm không đi vào chỉ rõ tư tưởng của
Nguyễn Bỉnh Khiêm về thế giới quan, nhưng các tác giả đã chỉ ra được một
số khía cạnh nội dung triết lí sâu sắc, những biểu hiện sơ khai của tư tưởng
triết học qua thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Năm 1985, nhân kỉ niệm 400 năm ngày mất của ông, một cuộc hội thảo
khoa học về “Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm” đã được tổ chức tại Hải
Phòng. Tại đây, có nhiều tư tưởng của ông được đánh giá lại, được xem xét
trên cơ sở khoa học hơn. Tuy nhiên, ở cuộc hội thảo này chưa có tác giả nào
có công trình nghiên cứu sâu về thế giới quan trong tư tưởng của Nguyễn
Bỉnh Khiêm. Năm 1991, Hội thảo khoa học nhân kỉ niệm 500 năm ngày sinh
những giá trị tích cực và hạn chế của nó, làm rõ ý nghĩa tư tưởng Nguyễn
Bỉnh Khiêm về mối quan hệ chỉnh thể “Tự nhiên – con người – xã hội” đối
với việc xây dựng đạo đức con người Việt Nam từ góc độ sinh thái nhân văn
trong tình hình hiện nay. Công trình này cũng chỉ ra được một phần nội dung
trong thế giới quan của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Bên cạnh đó còn có công trình dự thi nghiên cứu khoa học cấp Bộ
(2006) với tên đề tài “Tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm về đạo làm người với
vấn đề xây dựng con người mới Việt Nam hiện nay” của Thân Thị Hạnh đã
đi vào khai thác biểu hiện về thế giới quan trong quan niệm về con người của
Nguyễn Bỉnh Khiêm, tác giả cũng đã chỉ ra ý nghĩa của tư tưởng này đối với
vấn đề xây dựng con người mới Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, công trình
này mới chỉ khai thác ở một khía cạnh thế giới quan của Nguyễn Bỉnh 8
Khiêm là “đạo làm người”, đồng thời, lĩnh vực tác động của nó là ở vấn đề
xây dựng con người mới chứ chưa có độ khái quát toàn bộ thế giới quan
trong tư tưởng của ông.
Đề tài khóa luận tốt nghiệp của Tạ Thị Hoa (2012) “Tư tưởng của Nguyễn
bỉnh Khiêm về Đạo” đã khái quát được những nội dung về Đạo cùng những
biểu hiện của nó trong của tư tưởng Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nội dung
tư tưởng này là một phần trong thế giới quan của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Hiện nay, có nhiều bài viết về Nguyễn Bỉnh Khiêm đăng trên các tạp
chí Triết học, Văn học, Ngôn Ngữ Các tác giả đã đề cập đến tư tưởng của
Nguyễn Bỉnh Khiêm qua nhiều khía cạnh. Trong đó, nhiều nội dung có liên
quan đến thế giới quan trong tư tưởng của ông cùng những biểu hiện của nó
đã được bàn đến như bài viết của tác giả Trần Nguyên Việt, Trần Lê Sáng,
Nguyễn Tài Thư, Tuy nhiên, các tác giả chưa khai thác sâu vào nội dung
của vấn đề về thế giới quan của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Như vậy, có thể thấy rằng những công trình nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh
- Phạm vi nghiên cứu : Những tư tươ
̉
ng trong các tác phẩm của Nguyễn
Bỉnh Khiêm tập trung ở hai tập thơ Bạch Vân am thi tập và Bạch Vân Quốc
ngữ thi tập.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn chỉ ra những yếu tố cơ bản đóng vai trò là điều kiện, tiền đề
cho sự hình thành tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm nói chung và thế giới
quan của ông nói riêng.
Luận văn đi vào nghiên cứu sâu hơn về thế giới quan của Nguyễn Bỉnh
Khiêm, từ đó, khẳng định những giá trị của các tư tưởng này trong lịch sử tư
tưởng dân tộc.
7. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Về lý luận, luận văn góp phần làm rõ hơn nội dung về thế giới quan của
Nguyễn Bỉnh Khiêm. 10
Về thực tiễn, luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục
vụ cho việc học tập, nghiên cứu cho sinh viên, học viên cao học và độc giả
quan tâm đến lịch sử tư tưởng Việt Nam và tư tưởng triết học của Nguyễn
Bỉnh Khiêm.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 2 chương, 7 tiết.
nhân sinh quan [58, tr. 19]. 12
Theo từ điển triết học (M.ro-den-tan và P.I-U-Din, NXB Sự thật, 1976):
“Thế giới quan là hệ thống quan điểm, khái niệm và quan niệm về toàn bộ
thế giới xung quanh mình”… “Theo nghĩa tổng quát đó là toàn bộ những
quan điểm về thế giới, về những hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội:
các quan điểm triết học, xã hội, chính trị, luân lý, mỹ học, khoa học… Các
quan điểm triết học hợp thành hạt nhân chủ yếu của thế giới quan. Vấn đề cơ
bản của triết học cũng là vấn đề chủ yếu của thế giới quan, đó là vấn đề quan
hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa vật chất và ý thức. Tùy theo cách giải quyết vấn
đề cơ bản đó mà người ta có thể chia thế giới quan triết học thành duy vật hay
duy tâm. Thế giới quan trực tiếp phụ thuộc vào trình độ hiểu biết của con
người đạt được trong từng giai đoạn lịch sử. Như vậy thế giới quan mang tính
lịch sử. Trong xã hội có phân chia giai cấp, thế giới quan tiêu biểu bao giờ
cũng là thế giới quan của giai cấp thống trị xã hội đó” [60, tr. 906 - 907].
Theo quan niệm của các nhà Macxit: “Thế giới quan là toàn bộ những
quan điểm, quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về
cuộc sống và vị trí con người trong thế giới đó” [2, tr. 9]. Đây là một trong
những tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá giá trị tư tưởng của mỗi cá nhân cũng
như của cộng đồng xã hội ở những giai đoạn lịch sử nhất định.
Thế giới quan triết học có một ý nghĩa không chỉ đơn thuần về mặt lý
luận và nhận thức, mà nó còn có ý nghĩa lớn lao về mặt thực tiễn nữa, biểu
hiện ở cách nhìn bao quát đối với vũ trụ, quyết định thái độ và là kim chỉ
nam cho hành động của con người. Nhờ đã phát hiện ra các quy luật khách
quan của tự nhiên và xã hội nên thế giới quan khoa học và tiến bộ đã hướng
những hoạt động của con người đúng theo quy luật phát triển. Do đó, thế
giới quan triết học đóng vai trò là phương pháp luận chung, định hướng cho
con người trong hoạt động thực tiễn. Việc đưa ra những lý giải khác nhau về
Đó là hệ thống những quan điểm lý luận về đánh giặc giữ nước và phát triển
đất nước [46, tr. 16 -18]. 14
Chúng tôi tiếp cận thế giới quan theo nội dung gồm vũ trụ quan, quan
niệm về con người, xã hội và các mối quan hệ của con người.
Vũ trụ quan là những tư tưởng, quan niệm của con người về sự hình
thành, phát triển và tồn tại của vũ trụ. Có nhiều cách lý giải khác nhau của
các nhà triết học, các nhà tư tưởng ở phương Đông và phương Tây về vũ trụ.
Mặc dù có sự khác nhau về nguồn gốc, bản chất của vũ trụ nhưng các triết
gia phương Tây và Phương Đông đều thừa nhận sự vận động, biến đổi không
ngừng của vũ trụ từ trạng thái này sang trạng thái khác, luôn tác động qua lại
lẫn nhau. Hêraclit đã có kết luận về vật chất vận động: mọi vật đều trôi đi,
chảy đi, không có cái gì giữ nguyên tại chỗ, tất cả mọi vật đều vận động,
không có cái gì tồn tại mà lại cố định. Ông khẳng định: không thể tắm hai
lần trong cùng một dòng sông, bởi vì nước không ngừng chảy trên sông. Đối
với các nhà triết học Trung Hoa cho rằng có một trong những nguyên lý
quan trọng của vũ trụ là “biến dịch”, điều này được thể hiện trong tư tưởng
về “Đạo” của Đạo gia, hay trong tác phẩm Kinh Dịch. Tư tưởng triết học của
Phật giáo nguyên thủy cũng đã khẳng định tính tự thân, sinh thành, biến đổi
của vạn vật, tuân theo tính tất định và phổ biến của luật nhân - quả, vô
thường, vô ngã.
Vũ trụ có mối quan hệ mật thiết với con người, bởi con người sống
trong chính môi trường vũ trụ ấy và môi trường xã hội mà con người tạo nên.
Từ việc nhận thức rõ mối quan hệ này mà con người có thể định hướng,
quyết định cho hoạt động thực tiễn, phục vụ nhu cầu của mình. Đây là cơ sở
cho sự thống nhất giữa vũ trụ quan và quan niệm về con người, cũng như các
mối quan hệ xung quanh con người.
Vấn đề về con người cũng là một trong những nội dung được nhiều
rệt. Trong nội bộ giai cấp thống trị mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, gây lên
cuộc chiến liên miên để tranh giành quyền lợi và địa vị. Sau khi lên làm vua, 16
Lê Uy Mục lao vào con đường ăn chơi sa đọa, hoang dâm, giết người tùy ý.
Bởi vậy, vị vua này bị người đương thời mệnh danh là “vua quỷ”. Lúc ấy
triều chính hoàn toàn lọt vào tay bọn ngoại thích và hoạn quan. Nội tộc nhà
vua bị giết hại hoặc phải bỏ trốn biệt tích. Năm 1509, Lê Tương Dực tiếp
quản triều chính nhưng y cũng không hơn gì Lê Uy Mục, đi vào con đường
ăn chơi trụy lạc, giết hại anh em, hoang dâm vô độ. Sứ thần nhà Minh nhận
xét nhà vua: “tướng hiếu dâm như tướng lợn, loạn vong không còn lâu nữa”
[27, tr. 338].
Các thế lực phong kiến đang chia rẽ, tan rã, hình thành các phe phái
đối địch nhau, họ tìm mọi cách để tranh giành quyền lực, tìm cách phế bỏ,
giết hại vua này, lập vua khác. Tình cảnh này đã làm cho đời sống nhân dân
vô cùng lầm than, họ là nạn nhân của các cuộc tranh chấp giữa các thế lực
phong kiến. Nhân dân mất niềm tin vào vua quan triều Lê. Nhà nước phong
kiến thời kỳ này bị mục ruỗng từ bên trong và khó có thể khắc phục được.
Những kẻ đứng đầu đất nước vì tư lợi cá nhân mà đã đi ngược lại với
lợi ích của nhân dân, triều đình phong kiến lúc này đã trở thành trở lực cản trở
tiến trình đi lên của đất nước. Chính sự tranh quyền đoạt vị, chém giết lẫn
nhau giữa các tập đoàn phong kiến đã diễn ra tại thời điểm lịch sử mà Nguyễn
Bỉnh Khiêm có “cơ hội” được chứng kiến đã tác động đến sự hình thành tư
tưởng, thế giới quan của ông. Trong đó có những tư tưởng nhân sinh sâu sắc
về đạo đối với bậc quân vương, đạo làm người, đó cũng là mong ước trong tư
tưởng của ông về một xã hội thái bình thịnh trị như thời Ngu, Chu.
Phong trào nông dân nổi lên đấu tranh ở nhiều nơi để chống lại sự áp
bức quá nặng nề, sự ngột ngạt của thời thế loạn li và họ mong một phần nào
đó được thoát khổ. Trong các cuộc khởi nghĩa ấy, có sự tham gia của nhiều
Mạc Đăng Dung vừa lên ngôi thì ngay sau đó, một tập đoàn phong
kiến khác lấy danh nghĩa là “phù Lê diệt Mạc”, tập hợp lực lượng nổi dậy ở 18
Thanh Hóa, thành lập triều đình mới gọi là triều Lê Trung Hưng. Một cuộc
xung đột giữa các phe phái phong kiến lại xảy ra và đất nước lại lâm vào
cảnh chiến tranh. Cuộc chiến lần này đã dẫn đến cảnh tượng đất nước bị chia
cắt. Chính quyền họ Mạc thống trị vùng Bắc Bộ ngày nay, gọi là Bắc triều,
chính quyền họ Trịnh dưới danh nghĩa phù Lê quản lý vùng đất Thanh Hóa trở
vào, gọi là Nam triều. Trong gần 50 năm (1546 – 1592) có 38 cuộc chiến lớn
nhỏ xảy ra giữa Lê – Trịnh và Mạc. Năm 1592, Nam triều thắng Bắc triều,
chiếm được kinh thành Thăng Long. Con cháu nhà Mạc chạy lên Cao Bằng. Sự
phân chia Nam – Bắc triều cùng chiến tranh Lê – Trịnh và Mạc vừa chấm dứt
thì lại xảy ra sự phân chia đất nước và chiến tranh Trịnh – Nguyễn.
Mặc dù vậy, nhưng nhà Mạc đã ra sức xây dựng chính quyền, ổn định
trật tự xã hội, củng cố kinh tế, đã có thời đất nước được tạm yên. Song nhà
Mạc vẫn bị coi là “ngụy triều”, tồn tại trong thế chênh vênh, yếu đuối. Mạc
Đăng Dung và các vua kế vị đã phải tìm cách hòa hoãn với nhà Minh, cắt 5
động ở Đông Bắc cho nhà Minh. Nhà Mạc làm như vậy với mong muốn
được yên mạn Bắc để tập trung lực lượng đối phó với cựu thần nhà Lê ở mạn
Nam. Bởi vậy, nhân dân và nhiều quan lại chán nản, phẫn nộ. Vì vậy, nhà
Mạc dần rơi vào thế cô lập.
Như vậy, nét nổi bật trong đời sống chính trị - xã hội của Việt Nam ở
cuối thế kỷ XV và thế kỷ XVI là sự đứt gãy của các chính quyền phong kiến
và sự phân chia phạm vi thống trị của các tập đoàn phong kiến Lê, Mạc,
Trịnh, Nguyễn làm cho đời sống nhân dân vô cùng thống khổ, đất nước lâm
vào tình cảnh khốn cùng. Tình hình này đã tác động mạnh mẽ đến đời sống
tinh thần của người dân, nhất là đối với người trí thức lỗi lạc Nguyễn Bỉnh
Khiêm. Ông là người luôn hướng tầm mắt đến thời cuộc, luôn suy ngẫm về
của một tầng lớp mới mà chỉ chú trọng đến tư lợi cá nhân. Do đó, họ không
thể trở thành một lực lượng mới có tính chất cách mạng như ở các nước tư
sản phương Tây thời kỳ này. 20
Sự biến động trong kinh tế đã kéo theo những biến động trong xã hội,
nhất là về đạo đức, văn hóa, tư tưởng của con người. Trong đời sống xã hội
đã xuất hiện những tệ nạn xã hội, thói hư tật xấu như: đạo đức suy vi, lối
sống chạy theo đồng tiền, danh lợi, quan lại tham ô, nhũng nhiễu, đục khoét
của cải trong xã hội… Nguyễn Bỉnh Khiêm đã quan sát, chiêm nghiệm và
khái quát bức tranh về đời sống xã hội trong tư tưởng của mình.
Dưới triều Mạc, với những cố gắng để ổn định tình hình kinh tế, xã
hội đã có lúc đất nước khá yên bình, đời sống nhân dân bớt phần cơ cực, sản
xuất nông nghiệp được đẩy mạnh, đưa lại đời sống ấm no cho nhân dân. Thủ
công nghiệp được phát triển nhất là đồ gốm, đồ dệt; công nghiệp và thương
nghiệp được ủng hộ tích cực. Trật tự an ninh được đảm bảo: “Từ đấy, người
buôn bán và kẻ đi đường đều đi tay không, ban đêm không còn trộm cướp,
trâu bò thả chăn không phải đem về, chỉ mỗi tháng kiểm soát một lần hoặc
có sinh sản cũng không thể biết là vật của nhà mình. Trong khoảng vài năm,
người đi đường không nhặt của rơi, cổng ngoài không đóng, thường xuyên
được mùa to, trong cõi tạm yên” [27, tr.115].
Trên nền tảng kinh tế, chính trị - xã hội đó đã nảy sinh hệ tư tưởng phản
ánh toàn bộ đời sống hiện thực xã hội của thời kỳ này.
1.2.3. Tình hình văn hóa
Văn hóa của Đại Việt ở thế kỉ XVI vẫn chịu ảnh hưởng của Nho giáo
khá đậm nét. Nho giáo vẫn giữ vai trò chủ đạo trong ý thức văn hóa của giai
cấp thống trị nhưng nó đã không còn có tác động to lớn với đời sống tinh
thần của nhân dân cũng như trong tư tưởng, lối sống của các nho sĩ như
trước đây nữa.
Cùng với đó, Đạo giáo hòa nhập với tín ngưỡng dân gian cũng phát
triển hơn trước được vua quan sùng mộ. Xuất hiện nhiều đạo quán ở các nơi.
Về giáo dục, thế kỷ XVI, tuy chiến tranh liên miên nhưng giai cấp thống
trị không hề lơ là giáo dục, tiêu biểu là triều Mạc. Nhiều chính sách ưu tiên 22
giáo dục được thực hiện, tầng lớp chí sĩ cũng được xem trọng hơn. Việc thi
cử cũng được chú ý. Nhà Mạc trong 65 năm nắm quyền thống trị xã hội
(1527 - 1592) đã tổ chức thi cử rất đều đặn, ba năm một lần. Trong thời gian
trị vì, nhà Mạc đã tổ chức 22 khoa thi Hội, lấy 468 tiến sĩ, trong đó có 11
trạng nguyên. Ghi nhận sự chăm lo giáo dục của nhà Mạc, Phan Huy Chú
viết “Nhà Mạc sau hai khoa ở các đời Minh Đức, Đại Chính vẫn theo lệ ba
năm một khoa, dẫu bận chiến tranh mà không bỏ thi cử, vì thế được nhiều
người tài giỏi giúp nước chống lại nhà Lê, kéo dài đến hơn sáu mươi năm, ấy
cũng là cái công hiệu của thi cử đó” [46, tr. 343]. Thông qua việc chăm lo
đến giáo dục, cùng nhiều chính sách chăm lo kinh tế, ổn định trật tự xã hội
của triều Mạc mà Nguyễn Bỉnh Khiêm hi vọng vào sự nghiệp tương lai của
“tân triều” đối với dân tộc. Có lẽ, chính bởi hi vọng này mà ông quyết định
ra thi và làm quan dưới triều Mạc nhưng lại ở vào thế “phò nghiêng đỡ lệch”
khi xã hội phong kiến đã suy tàn.
Về văn học và nghệ thuật cũng có nhiều thay đổi. Sự suy thoái của Nho
giáo và của giáo dục thi cử đã kéo theo sự chuyển biến của văn học chữ Hán.
Thơ văn của các nhà Nho không còn thể hiện được tinh thần yêu nước, yêu
quê hương mãnh liệt như ở các thế kỷ trước. Nhiều nhà Nho giỏi bất mãn với
chính quyền, bộ máy quan lại đương thời đã từ bỏ con đường công danh về
với nhân dân, tìm hiểu thế sự. Tinh thần dân tộc lại trỗi dậy ở họ và họ tìm
thấy ở tiếng quốc âm khả năng diễn đạt thuận lợi hơn những cung bậc tình
cảm của họ. Chính trong bối cảnh đó, xuất hiện các nhà thơ nổi tiếng như
Phùng Khắc Khoan, Đào Duy Từ, đặc biệt trong đó có Nguyễn Bỉnh Khiêm
thế giới. Khi âm dương chưa phân định thì thế giới còn là một nhất thể hỗn
độn thì đó là Lý hay còn gọi là “khí chân nguyên”. Khi “khí chân nguyên"
phân thành khí âm, khí dương thì gọi là Khí.
Bên cạnh đó, Lý cũng được coi như là quy luật của vạn vật. Trình Hạo
cho rằng: muôn vật đều có đối, một âm một dương, một thiện một ác và 24
chúng luôn tương tác với nhau, dương trưởng thì âm tiêu, thiện tăng thì ác
giảm. Thực ra, quan niệm này của Trình Hạo có nguồn gốc từ Dịch học, đó
là “Nhất âm nhất dương chi vị đạo” (Một âm một dương gọi là đạo).
Với phạm trù Khí, Trương Tải (1020 -1078) cho rằng, vạn vật có nguồn
gốc từ Khí (Bẩm thụ thị nhất khí). Sự vận động của Khí và Lý là biểu hiện
của Đạo, trong Lý, Khí có Đạo.
Còn Tâm tĩnh là mệnh lệnh tuyệt đối, đồng thời là điều kiện tất yếu để
nhận thức thế giới xung quanh. Tâm như là phạm trù dùng để chỉ ý thức con
người. Ở Tâm có sự gặp gỡ của tam giáo Nho, Phật, Đạo trong nhận thức
luận cũng như trong việc nhận thức các nguyên lý của vũ trụ (lẽ càn khôn),
của đường đời và lòng người.
Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tiếp thu quan niệm của Tống Nho về Lý - Khí -
Đạo - Tâm, song ông không sa đà vào việc phân tích, lý giải triết học, mà về
cơ bản, đứng trên lập trường của minh triết phương Đông để giải quyết
những vấn đề của thực tiễn cuộc sống. Do vậy, Lý – Khí – Đạo – Tâm của
ông mang tính thực tế hơn.
Phạm trù Nhân – Lễ là nội dung cơ bản, là nền tảng của đạo làm người
trong tư tưởng của Nho giáo có ảnh hưởng đến tư tưởng của Nguyễn Bỉnh
Khiêm. Phạm trù này được đề cập lần đầu tiên là trong tư tưởng của Khổng
Tử (551 – 479 trước Công Nguyên). Trong tư tưởng của Khổng Tử, ông chú
ý tới mối quan hệ giữa con người với con người và tập trung phát triển về
mặt Nhân đạo. Bởi ông cho rằng Nhân đạo là quan trọng hơn cả, mà đạo thì