ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ HÀ THẾ GIỚI QUAN CỦA NGUYỄN TRÃI QUA
TÁC PHẨM “ QUÂN TRUNG TỪ MỆNH TẬP”
VÀ “ QUỐC ÂM THI TẬP”
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC 6 quyển – X
HÀ NỘI – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Phạm Thị Hà
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Triết học là một khoa học ra đời sớm dựa trên sự phát triển của lực
lượng sản xuất, của sự phân hóa xã hội. Vấn đề lớn nhất mà mọi triết học
quan tâm là vũ trụ quan và nhân sinh quan. Vì lẽ đó, nghiên cứu thế giới quan
và phương pháp luận triết học mang lại ý nghĩa quan trọng trong việc định
hướng cho toàn bộ cuộc sống của con người, từ đó con người xác lập lý
tưởng, hệ giá trị, lối sống, nếp sống của mình. Đây cũng là một trong những
tiêu chuẩn cơ bản đánh giá sự trưởng thành của mỗi cá nhân cũng như của
mỗi cộng đồng xã hội.
Thế giới quan có thể hiểu đơn giản là cái nhìn về các mặt của thế giới,
là bức tranh toàn cảnh về mối quan hệ của con người và tự nhiên, của con
Trãi qua tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập” và “Quốc âm thi tập” làm đề
tài luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Nguyễn Trãi là một đề tài lớn
đối với các nhà nghiên cứu, việc nghiên cứu này chính thức được bắt đầu từ
năm 1464, khi Lê Thánh Tông minh oan cho Nguyễn Trãi, được chia thành
các loại công trình nghiên cứu sau:
- Loại công trình nghiên cứu thứ nhất: nghiên cứu triết học phương
Đông thì khá nhiều, song chưa có công trình nào cụ thể tìm hiểu về thế giới
quan triết học của phương Đông nói chung, ngoài công trình Luận án tiến sĩ
“Thế giới quan trong triết học Trung Quốc cổ đại”(2002) của Nguyễn Văn
Vịnh, nội dung chủ yếu là nghiên cứu thế giới quan của triết học Trung Quốc
bao gồm vũ trụ quan, xã hội quan và nhân sinh quan thông qua xem xét một
số học thuyết tiêu biểu làm nên đặc trưng của thế giới quan triết học Trung
Quốc. Trên cơ sở đó đưa ra sự so sánh và nêu rõ sự khác nhau về đặc trưng 3
của thế giới quan triết học Trung Quốc cổ đại với thế giới quan của các nền
triết học cổ đại khác. Công trình đã có vai trò khái quát chung nhất về về thế
giới quan triết học Trung Quốc.
- Loại công trình thứ hai nghiên cứu về một số luận điểm có tính chất
làm cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu của chuyên ngành: Lịch sử tư
tưởng Việt Nam; tập 1 (Nguyễn Tài Thư chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội, 1993), trong cuốn sách có phần trình bày, phân tích khái quát thân thế,
sự nghiệp của Nguyễn Trãi, đồng thời đi nghiên cứu một số tư tưởng triết học
được thể hiện qua thơ văn của Nguyễn Trãi. Cuốn Đại cương triết học Việt
Nam (Nguyễn Hùng Hậu, Nxb Chính trị quốc gia, 2010) nghiên cứu về tư
tưởng của các nhà triết học Việt Nam, trong đó có Nguyễn Trãi, nhằm góp
phần tìm về cội nguồn của dân tộc, tìm ra cái logich ngầm trong sự phát triển
nghiệp (Trần Huy Liệu, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2000). Cuốn sách tái
hiện lại bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, gia đình,
thân thế, sự nghiệp và các hoạt động của Nguyễn Trãi; nguồn gốc và nội dung
tư tưởng của Nguyễn Trãi, sự chỉ đạo chiến thuật trong thời kỳ kháng chiến
chống quân Minh và ý tưởng xây dựng đất nước của ông; Nguyễn Trãi và Nho
giáo, Nguyễn Trãi và văn hóa Việt Nam trung cận đại (Trần Đình Hượu, Nxb
Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2000). Các công trình nghiên cứu này chủ yếu tìm
hiểu về cuộc đời, sự nghiệp về thế giới quan của Nguyễn Trãi, chủ nghĩa yêu
nước, tinh thần dân tộc, đạo đức trong tư tưởng của Nguyễn Trãi. Cuốn
“Nguyễn Trãi đánh giặc cứu nước” (Nguyễn Lương Bích, NXB Quân đội
nhân dân, 1973). Tác phẩm trình bày toàn bộ sự nghiệp đánh giặc, cứu nước
và những hoạt động của Nguyễn Trãi trong suốt 15 năm từ khi chiến thắng
giặc Minh đến lúc ông mất. Nội dung trong tác phẩm thể hiện ở những điểm
sau. Thứ nhất, Nguyễn Trãi là một người yêu nước, thương dân. Ông tận
trung với nước, tận hiếu với dân. Đây là tư tưởng về đạo làm người lớn, hiếm
thấy trong thời đại trước. Thứ hai, Nguyễn Trãi không chỉ là nhà tư tưởng 5
quân sự mà ông còn là một nhà chính trị lỗi lạc.Tư tưởng chính trị của ông
ảnh hưởng rất nhiều đến tư tưởng chính trị thời kỳ ông sống và cho đến tận
ngày nay. Thứ ba là, Nguyễn Trãi là một nhà yêu nước tha thiết, đồng thời là
một nhà dân chủ chính trị kiên cường. Ở ông, tư tưởng đi kèm với hành động.
- Ngoài ra còn có một số bài viết trên các tạp chí: Nhân cách nhà Nho
trong con người Nguyễn Trãi, của Nguyễn Văn Bình, Tạp chí Triết học số 4
(104), T8 – 1998; Về tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi, của Doãn Chính,
Tạp chí Triết học số 9 (220), 2009, Nguyễn Bá Cường (2013), Con người
trong tư tưởng Nguyễn Trãi, Tạp chí Triết học, số 7 (266), tr. 61 – 67, Nguyễn
Bá Cường (2013), Quan niệm về tự nhiên trong tư tưởng của Nguyễn Trãi,
Tạp chí Khoa học xã hội tp Hồ Chí Minh, số 9 (181), tr. 6-12
* Về mặt lí luận: Luận văn chỉ ra và phân tích nội dung các quan niệm
về thế giới quan của Nguyễn Trãi, góp phần nghiên cứu cơ bản lịch sử tư
tưởng triết học Việt Nam giai đoạn thế kỷ XV.
* Về mặt thực tiễn: Luận văn có thể làm tham khảo cho những nghiên
cứu tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi nói riêng, và nghiên cứu về tư tưởng
triết học Việt Nam nói chung.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm hai chương, sáu tiết. 7
NỘI DUNG
Chƣơng 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CƠ BẢN HÌNH THÀNH THẾ GIỚI
QUAN CỦA NGUYỄN TRÃI
1.1 Hoàn cảnh kinh tế - chính trị - văn hóa – xã hội Đại Việt cuối
thế kỳ XIV đầu thế kỷ XV
Trải qua các triều Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, triều đình phong kiến
tuy có lúc hưng lúc suy, song nhìn chung nó có những bước phát triển mạnh
mẽ, nhà nước phong kiến ngày càng được củng cố và trưởng thành về mọi
mặt, đặc biệt giai đoạn nhà Trần được đánh giá là một trong số thời kỳ hưng
thịnh của triều đại phong kiến.
Tuy nhiên đến cuối thế kỷ XIV, địa vị thống trị của nhà Trần có dấu
hiệu lung lay, xã hội bước vào giai đoạn khủng hoảng trên tất cả các lĩnh vực.
Về kinh tế, sau một thời gian phát triển, chế độ điền trang thái ấp và
chế độ nông nô, nô tỳ trở nên lỗi thời, kìm hãm sự phát triển của sản xuất.
Mặt khác, sự phát triển của địa chủ làm lung lay chế độ điền trang thái ấp.
đã khủng hoảng nay lại càng khủng hoảng hơn. Tình thế này đặt ra một yêu
cầu cấp thiết cần phải thủ tiêu chế độ điền trang thái ấp và quan hệ nông nô,
nô tỳ, thay đổi về đường lối trị nước để mở đường cho chế độ phong kiến tiến
lên một giai đoạn mới, cao hơn.
Trong hoàn cảnh đó, năm 1400, Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần, dựng
triều Hồ, tiến hành cải cách về mọi mặt.
Hồ Quý Ly thi hành chính sách hạn điền hạn nô và thanh lọc sư tăng,
bắt nhà sư chưa đến năm mươi tuổi phải hoàn tục. Về ruộng đất, Hồ Quý Ly
ra quy định “Đại vương, trưởng công chúa không có hạn đình, dưới đến thứ
dân không được có quá mười mẫu. Người nào nhiều ruộng được phép lấy
ruộng chuộc tội, số ruộng thừa ra thì sung công” [15] . 9
Với chính sách này Hồ Quý Ly đã thu hẹp thế lực của quý tộc tôn
thất, phân tán quyền chiếm hữu ruộng đất của một số đại địa chủ, giải phóng
cho nông nô và nô tỳ trở thành những người dân được sử dụng đất công, tạo
đà cho sản xuất.
Ngoài ra Hồ Quý Ly còn tiến hành cải cách thuế, kiểm kê tài sản, cải
cách tiền tệ, phát hành tiền giấy. Những cải cách này đã tác động mạnh vào sở
hữu của quý tộc, địa chủ, làm suy yếu tầng lớp thương nhân.
Về văn hóa , tư tưởng, Hồ Quý Ly vừa muốn thanh lọc Phật giáo, vừa
muốn phê phán, xét lại Nho giáo, nhưng ông cũng chưa xây dựng được ý thức
hệ mới, làm cốt lõi cho nền văn hóa Việt Nam. Ông cho mở khoa thi đầu tiên,
Nguyễn Trãi ra thi và đỗ Thái học sinh (Tiến sỹ). Sau khi thi đỗ, Nguyễn Trãi
được Hồ Quý Ly trao chức Ngự sử đài chánh chưởng.
Những cải cách của Hồ Quý Ly mang tính nửa vời, thiếu triệt để,
không giải quyết được đời sống cực khổ của nhân dân, đặc biệt là bộ phận
nông dân, nông nô, không cố kết được nhân tâm, không lấy được lòng dân.
Nguyễn Trãi đã tổng kết: “Họ Hồ dùng gian trí để cướp lấy nước, lấy gian trí
Minh. Đối với Phật giáo, Đạo giáo chúng đốt kinh, sách, tuyên truyền mê tín
dị đoan trong nhân dân.
Về giáo dục, nhà Minh ra sức hạn chế việc học, việc thi, biến nhà
trường thành nơi đào tạo tay sai, phục vụ cho chính quyền đô hộ.
Dưới ách đô hộ của nhà Minh, xã hội Đại Việt bị kìm hãm sự phát
triển, đời sống nhân dân lâm vào tình trạng lầm than, cơ cực. Điều này làm
cho nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra, như cuộc khởi nghĩa của Phạm Trân - một
thổ hào ở Đông Triều (Hải Dương) đã lãnh đạo nhân dân nổi lên lập Trần
Nguyệt Hồ làm vua, và tổ chức quân khởi nghĩa gọi là “Trung nghĩa Quân”.
Khởi nghĩa của Trần Giản Định (1407 – 1409) - một tôn thất nhà Trần, nổi 11
lên khởi nghĩa ở Yên Mô (Ninh Bình), sau lui về Nghệ An, được hào kiệt
khắp nơi theo về hưởng ứng rất đông, trong đó có cả những cựu thần nhà Trần
như Đặng Tất, Trần Triệu Cơ đã làm quan cho nhà Minh cũng quay lại tham
gia nghĩa quân. Tuy các cuộc khởi nghĩa đều thất bại song nó đã khơi gợi tinh
thần yêu nước trong nhân dân, đồng thời cho thấy sự khủng hoảng trong việc
tìm ra người có đủ đức, đủ tài đánh giặc cứu nước.
Năm 1396, khởi nghĩa Lam Sơn (Thanh Hóa) nổ ra, đã được toàn thể
nhân dân hưởng ứng. Khởi nghĩa đã tập hợp được những hào kiệt trong nước
tham gia. Trải qua hơn ba mươi năm chiến đấu gian khổ, năm 1427, khởi
nghĩa giành thắng lợi. Năm 1428, Lê Lợi chính thức lên ngôi hoàng đế, lập ra
nhà nước chuyên chế trung ương tập quyền, lấy tên nước là Đại Việt. Đây là
một bước ngoặt lịch sử, một sự chuyển đổi mô hình từ nền quân chủ quý tộc
thời Lý – Trần, mang đậm tính Phật giáo, sang nền quân chủ tập quyền thời
Lê sơ. Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa là chiến thắng của sự gắn bó sâu sắc và
kết hợp hài hòa trong thể thống nhất của tướng lĩnh với quân dân, của tập thể
anh hùng và toàn thể dân tộc, mà đứng đầu là Lê Lợi, và người tham mưu kiệt
xuất Nguyễn Trãi. Sau khi giành thắng lợi, Nguyễn Trãi tiếp tục cống hiến
giờ, để hướng tới con người, tới những người lao động cực khổ. Ông dành hết
cuộc đời mình đấu tranh chống bọn giặc cướp nước, chống bọn quan lại tham
ô, kêu gọi trách nhiệm của nhà cầm quyền đối với nhân dân, trách nhiệm xây
dựng một xã hội tốt đẹp như xã hội Nghiêu, Thuấn.
1.2 Tiền đề tƣ tƣởng hình thành thế giới quan của Nguyễn Trãi
1.2.1 Khái luận chung về thế giới quan
Theo Từ điển Triết học Nga (chủ biên: Rodentan), Nxb Sự thật 1976
thì “Theo nghĩa tổng quát nhất, thế giới quan là toàn bộ những quan điểm về
thế giới, về các hiện tượng trong tự nhiên và xã hội, các quan điểm triết học,
xã hội, chính trị, mỹ học, khoa học” [42; 960]. 13
Giáo trình Triết học Mác – Lênin: “Thế giới quan là toàn bộ những
quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và
vị trí của con người trong thế giới đó” [2; 12].
Cuốn Triết học, hỏi và đáp của Trường Đại học Quốc gia Lômônôxốp
(Trần Nguyên Việt dịch), Nxb Đà Nẵng 2004, không đưa ra một khái niệm cụ
thể về thế giới quan. Nhưng trong chương “Con người trong vũ trụ: bức tranh
của triết học, của tôn giáo và khoa học thế giới” đã cho rằng “Cơ cấu của sự
hiểu biết thế giới có thể được hiểu là sự thống nhất bốn yếu tố: nguyên tắc
xuất phát của hệ thống hóa tri thức về thế giới, và về con người, phương thức
hay phương pháp nhận thức chỉnh thể, cơ sở triết học và định hướng thế giới
quan, đạo đức” [43; 171].
Công trình Luận án tiến sĩ “Thế giới quan trong triết học Trung Quốc
cổ đại”(2002) của Nguyễn Văn Vịnh đưa ra định nghĩa về thế giới quan như
sau: “Thế giới quan triết học là hệ thống lý luận về tồn tại và vận động của thế
giới khách quan, mang tính định hướng cho con người trong hoạt động thực
tiễn” [55; 20].
Trong cuốn “Lịch sử tư tưởng Việt Nam” do Nguyễn Tài Thư chủ
của Lý Bí, Ngô Quyền… Chủ nghĩa yêu nước còn được thể hiện trong khí tiết
khẳng khái của các anh hùng thời kỳ Lý – Trần. Tất cả chứng minh tinh thần
yêu nước, ý thức đoàn kết, đồng thời mang lại cho thế hệ con cháu những bài
học to lớn về nghệ thuật giành và giữ nước của cha ông.
Trong thời kỳ đó, cha ông ta đã hình thành quan niệm sơ khai về thế
giới quan, tiêu biểu trong số đó là quan niệm của Lý Thường Kiệt, thể hiện
qua bài thơ.
“Sông núi nước Nam, vua Nam ở
Rõ ràng phân định ở sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm 15
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”[15; 289]
Với trình độ nhận thức đương thời, Lý Thường Kiệt quy mọi sự về
mệnh trời. Ông cho rằng cơ sở để xác lập chủ quyền, ranh giới đó chính là ý
trời, mệnh trời. Lý Thường Kiệt đã khéo vận dụng tư tưởng mệnh trời để củng
cố niềm tin cho quân dân. Đến Nguyễn Trãi, ông đã kế thừa quan niệm này
của cha ông, song đề cao hơn vai trò của con người trong cuộc đấu tranh
giành và giữ nước của dân tộc.
Tinh thần khoan dung, đạo lý nhân nghĩa, đặc biệt là tư tưởng lòng
dân và ý dân được coi là cơ sở của mọi quốc sách của mọi đất nước. Trong
Chiếu dời đô năm 1010, Lý Công Uẩn khẳng định việc dời đô là “trên vâng
mệnh trời, dưới theo ý dân, thấy thuận tiện thì thay đổi, cho nên vận nước lâu
dài, phong tục phồn thịnh” [56; 50]. Chiếu rời đô đánh dấu sự trưởng thành
trong tư duy chính trị Việt Nam, phản ánh ý chí, chủ quyền dân tộc.
Lý Thường Kiệt cũng khẳng định “Trời sinh ra dân chúng, vua hiền ắt
hòa mục. Đạo làm chủ dân cốt ở nuôi dân” [44; 16].
Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn khẳng định nhân dân là cơ sở để
tiến hành những cuộc chiến tranh giữ nước “….khoan thư sức dân để làm kế
con người là do trời quyết định “Sống chết có mệnh, giàu sang tại trời” [11].
Ông còn khẳng định tiêu chuẩn cơ bản để trở thành người quân tử là phải biết
“tri thiên mệnh, úy thiên mệnh”[11]. Bên cạnh đó, trời trong quan niệm của
Khổng Tử còn được hiểu như là quy luật của tự nhiên “Trời có nói gì đâu mà
bốn mùa xuân, hạ, thu, đông xoay vần, vạn vật cứ sinh hóa mãi”[11].
Đến thời kỳ của Đổng Trọng Thư, quan niệm về trời tuy vẫn chịu ảnh
hưởng của các nhà Nho đi trước, nhưng đã mang tính chất duy tâm thần bí và
yếu tố cực đoan. Ông khẳng định “Trời là tổ của vạn vật, vạn vật không có
trời thì không sinh. Trời làm ra cái tính mệnh của con người, khiến người làm 17
điều nhân nghĩa”. Ông cho rằng trời đất sinh ra vạn vật để nuôi sống con
người. Hình dáng, tinh thần, đạo đức của con người đều do trời tạo ra theo
hình mẫu của trời “Cái đầu tròn của con người là tượng dung mạo của trời,
tóc là tượng các vì sao, tai mắt tượng mặt trời, mặt trăng, mũi miệng là tượng
gió, mưa. Lòng tốt, lòng xấu của con người là tương hợp với sự nóng lạnh,
ẩm ráo của trời”. Từ đây ông có quan niệm cực đoan khi cho rằng mọi hiện
tượng xảy ra trong tự nhiên cũng như trong xã hội là biểu hiện của sự vui
buồn, mừng giận và là sự trừng phạt của trời.
Thời kỳ Tống Nho, đại diện tiêu biểu là Trình Hạo, Trình Di và Chu
Hy, với quan niệm về “lý” và “khí”. Nhị Trình đều đồng nhất “lý” với “trời”
“trên trời chỉ có một lý”, “cái gọi là trời chính là lý vậy”. Hai ông cho rằng
trời – “lý là cái tuyệt đối vĩnh cửu, ta không thể thêm bớt, không thể sờ thấy
cũng không thể nghe thấy, nhưng nó vẫn tồn tại. Lý như là hư không, chẳng
có gì mà lại đủ cả, cái ấy làm sao nói được còn mất, thêm bớt” [39]. Từ đây
hai ông khẳng định vũ trụ, giới tự nhiên, con người không chỉ có nguồn gốc
từ trời, mà bị chi phối bởi trời.
Tiếp tục phát triển tư tưởng của Nhị Trình về “lý” và “khí”, Chu Hy
cho rằng “lý” là nguồn gốc, là cơ sở tồn tại của mọi sự vật, hiện tượng trong
nhiên đều nằm trong quá trình phát triển từ thấp đến cao, con người có nguồn
gốc từ giới tự nhiên, đồng thời là thực thể cao nhất “nước lửa có khí nhưng vô
sinh, cỏ cây có sinh nhưng vô tri, cầm thú có tri những vô lễ nghĩa, con người
có khí, có tri, có sinh và có cả lễ nghĩa” [41].
Như vậy đến với tư tưởng của Tuân Tử thì thế giới quan của Nho giáo
đã được bổ sung và phát triển mang nhiều yếu tố duy vật trong việc giải thích
nguồn gốc của thế giới vạn vật và con người. 19
Quan niệm của các nhà Nho về sự vận động, biến hóa của thế giới
vạn vật. Đây được coi là nội dung chủ yếu trong thế giới quan Nho giáo. Về
quan niệm này, nhìn chung các nhà nho đều khẳng định vũ trụ, vạn vật luôn
vận động và biến đổi không ngừng. Khổng Tử cho rằng quá trình biến đổi của
vạn vật như dòng chảy không ngừng, không có điểm khởi đầu hay kết thúc
“Cũng như nước sông chảy đi, mọi vật đều qua đi không có gì ngừng nghỉ”
[11].
Khi bàn về nguồn gốc của sự vật động và biến hóa ấy, các nhà nho có
các tư tưởng khác nhau. Trong Kinh Dịch thì cho rằng nguồn gốc là do sự
thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập “cương, nhu tương thôi nhi sinh
biến hóa”. Có nhà nho như Đổng Trọng Thư thì luôn khẳng định nguồn gốc
của sự vận động và biến hóa ấy là từ trời “thiên bất biến, đạo diệc bất biến”.
Tuy có những quan niệm khác nhau nhưng nó thể hiện một bước tiến quan
trọng trong thế giới quan Nho giáo thời kỳ bấy giờ.
Quan niệm của Nho giáo về vị trí và vai trò của con người trong thế
giới. Với quan niệm này, chúng ta xem xét ở hai khía cạnh. Một là vai trò của
con người đối với trời đất và vạn vật. Trong quan niệm của các nhà Nho, con
người là một bộ phận cao nhất của tự nhiên, con người đứng trên vạn vật. Vì
vậy, vai trò của con người có thể sánh ngang cùng trời đất hóa sinh muôn vật.
Tuy nhiên để có được vị trí đó con người cần phải “biết thực hành đúng theo
với năm đức chủ yếu: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín.
Từ những phân tích trên chúng ta thấy, tuy chịu ảnh hưởng của Nho
giáo song Nho giáo của Nguyễn Trãi là một thứ “Nho học khai phóng”, với
nhiều nội dung vượt lên trên Nho giáo chính thống, không còn mang tính chất
kinh viện nữa mà luôn gắn với thực tiễn xã hội Việt Nam, luôn xuất phát từ
lòng yêu nước, thương dân không biết mệt mỏi của Nguyễn Trãi. Điều đó đã
làm nên những mới mẻ, tiến bộ trong tư tưởng về thế giới quan của ông. 21
1.2.4 Ảnh hưởng của Phật giáo, Đạo gia đến thế giới quan của
Nguyễn Trãi
* Phật giáo và thế giới quan của Nguyễn Trãi.
Phật giáo được ra đời vào thế kỷ thứ VI TCN, dựa trên nền tảng xây
dựng một học thuyết giúp con người tìm ra nguyên nhân và cách thức diệt của
nỗi đau khổ nhân thế.
Theo Phật giáo, thế giới này do danh và sắc kết hợp với nhau mà
thành. Hai yếu tố này liên hệ mật thiết với nhau, không có cái này thì cũng
không có cái kia và ngược lại. Vì mọi sự vật, hiện tượng đều do nhân duyên
sinh nên thế giới này sinh ra không nhớ một đấng sáng tạo nào, mà do nhân
quả nối tiếp nhau thành.
Từ đây, Phật giáo đưa ra quan niệm về vô thường, vô ngã, vô tạo giả,
trong đó, vô thường tức là mọi vật thường hằng, thường sinh, có diệt, biến
đổi, trôi chảy không ngừng, không có sự vật nào tồn tại vĩnh viễn, có sống tất
có chết. Sự biến đổi này theo chu kỳ “thành – trụ - hoại – không”. Từ đây,
Phật giáo đi đến khái niệm vô ngã, tức là không có cái tôi, cái ta. Thế giới
quan Phật giáo phủ định con người là sản phẩm của Barhman, và giải thích về
các yếu tố hình thành nên con người theo thuyết Danh – Sắc. Theo thuyết này,
con người được cấu tạo bởi hai yếu tố danh và sắc, hay vật chất và tinh thần,
trong đó danh chỉ yếu tố tinh thần, sắc chỉ yếu tố vật chất. Thuyết lục đại cũng
cuộc đời. Vì vậy, ông tự nhủ mình hãy lui vào thủ phận, để tìm ra cho mình
phương pháp tu thân mới là Phật giáo, là đạo Lão – Trang chứ không phải là
Nho giáo nữa. Từ đây ông đưa ra lẽ sống cho mình là trước hết phải chú ý đến
hành thiện, bởi vì “họa phúc gây mầm không một chốc”, mà cả một quá trình
lâu dài. Sửa mình làm điều thiện, dù là việc nhỏ hay việc lớn – đây cũng
chính là tinh thần của Phật giáo, khuyên con người nên hành thiện để tạo ra