MỤC LỤC
Trang
A. DẪN NHẬP
Người ta chọn Nam quốc sơn hà, Hịch tướng sĩ và Cáo bình Ngô là ba dấu mốc đánh dấu
những chặng đường phát triển của chủ nghĩa yêu nước trong văn học thượng kỳ trung đại. Ðặc
biệt, phải đến cáo bình Ngô, ý thức độc lập chủ quyền, quan hệ gắn bó giữa nước và dân, vấn đề
nhân nghĩa, mới thực sự phát triển rực rỡ. Tác phẩm có giá trị tư tưởng, văn học thể hiện triết lý
sống của dân tộc trong mọi hoàn cảnh, trong việc đấu tranh cũng như trong hòa bình độc lập.
Đây là tác phẩm được xem là án thiên cổ hùng văn, vô tiền khoán hậu. Về thời gian khoảng đầu
1428, khi kháng chiến chống Minh thắng lợi. Đây là tác phẩm Nguyễn Trãi viết cho Lê Lợi thay
mặt quốc gia để đọc tuyên cáo về cuộc chiến của dân tộc ta trải qua nhiều mất mát nhưng điểm
cuối cùng cũng tạo nên bản thiên hùng ca kết thúc thắng lợi. Tinh thần yêu nước và nhân đạo
của Nguyễn Trãi được thể hiện hết sức sâu sắc xuyên suốt chiều dài của tác phẩm. Chính đặc
điểm này đã khiến cho tác phẩm” Bình Ngô đại cáo” trở thành một án "thiên cổ hùng văn", một
thiên anh hùng ca bất hủ của dân tộc.
B. NỘI DUNG
I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ
1. Tình hình đất nước
Lê Thái Tổ , húy Lê Lợi , là người khởi xướng khởi nghĩa Lam Sơn chiến thắng quân
Minh trở thành vị hoàng đế đầu tiên của nhà Hậu Lê, triều đại lâu dài nhất trong lịch sử Việt
Nam. Sau khi bức vua Trần dời đô từ Thăng Long vào Tây Đô (Thanh Hóa) và giết hàng loạt
quần thần trung thành với nhà Trần, tháng 2 năm Canh Thìn 1400, Hồ Quý Ly truất ngôi của
Trần Thiếu Đế, tự lên làm vua lấy quốc hiệu là Đại Ngu, lập nên nhà Hồ. Triều đình nhà Minh
(Trung Quốc), vốn rất muốn xâm lăng Đại Ngu, đã nhân cơ hội Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần
để đưa quân tràn vào đất Việt năm 1407. Hồ Quý Ly liên tục thất bại và đến tháng 6 năm 1407,
thì bị bắt cùng các con trai là Hồ Nguyên Trừng và Hồ Hán Thương. Vương triều Hồ và nước
1
Đại Ngu sụp đổ. Nhà Minh thực hiện chính sách xóa bỏ nền Văn minh sông Hồng bằng các cách
như đốt, phá và chở về Yên Kinh tất cả các loại sách, văn bia có nói về dân Việt, của dân Việt tạo
lập, thiến hoạn đàn ông người Việt, khiến cư dân Việt rất uất ức và căm giận. Hơn 1.000 năm,
các triều đình Trung Quốc không đồng hóa được văn hóa Việt, nên việc làm của nhà Minh đã
núi Thanh Hóa. Có những lúc Lê Lợi chỉ còn một mình trốn chạy. Trước tình thế hiểm nghèo, Lê
Lợi phải xin giảng hòa với quân Minh năm 1422. Đến năm 1423, khi thực lực được củng cố, lại
thấy quân Minh bắt giữ sứ giả, Lê Lợi liền tuyệt giao cắt đứt giảng hoà. Theo kế của Nguyễn
Chích, năm 1424 Lê Lợi quyết định đưa quân vào đồng bằng Nghệ An. Đến cuối năm 1425, Lê
Lợi làm chủ toàn bộ đất đai từ Thanh Hóa trở vào, các thành của đối phương đều bị bao vây.
Tháng 8 năm 1426, Lê Lợi chia quân cho các tướng làm 3 cánh bắc tiến. Phạm Văn Xảo, Đỗ Bí,
Trịnh Khả, Lê Triện ra phía Tây bắc, Lưu Nhân Chú, Bùi Bị ra phía Đông bắc; Đinh Lễ, Nguyễn
Xí ra đánh Đông Quan, và đầu năm 1927 giành thắng lợi. Cuối năm 1927, chiến thắng trận Chi
Lăng-Xương Giang. Đến đây, cuộc khởi Lam Sơn đã dành thắng lợi hoàn toàn, Nguyễn Trãi thay
mặt Lê Lợi viết Bình ngô đại cáo để thông báo trước toàn dân sự ngiệp bình Ngô phục quốc đã
thành công.
II. TÁC GIẢ - TÁC PHẨM
1. Tác giả :
Nguyễn Trãi (1380–1442), hiệu là Ức Trai, là đại thần nhà Hậu Lê, một nhà văn chữ Nôm.
Ông được xem là một anh hùng dân tộc, một ngôi sao Khuê của văn hóa Việt Nam, đồng thời
cũng là một danh nhân văn hóa của thế giới. Nguyễn Trãi, sinh ở Thăng Long trong gia đình ông
ngoại là quan Đại tư đồ Trần Nguyên Đán. Cha ông là Nguyễn ứng Long, hiệu ức Trai (tức là
Nguyễn Phi Khanh). Mẹ ông là Trần Thị Thái, con gái Trần Nguyên Đán. Quê gốc Nguyễn Trãi
là làng Chi Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, về sau dời về sống ở làng Ngọc Ổi, xã Nhị
Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây. Năm Nguyễn Trãi lên 5 tuổi, mẹ ông mất. Ông về ở với
cha tại quê nội ở làng Nhị Khê. Năm 1400, Nguyễn Trãi ra thi, ông đỗ Thái học sinh (tiến sĩ) ,
lúc này ông chỉ mới 20 tuổi. Vua Hồ Quý Ly cử ông giữ chức Ngự sử đài chánh chưởng. Năm
1406, Minh Thành Tổ sai Trương Phụ mang quân sang xâm lược Việt Nam. Nhà Hồ đem quân ra
chống cự, nhưng bị đánh bại. Cha con Hồ Quý Ly và một số triều thần trong đó có Nguyễn Phi
Khanh bị bắt và bị đưa về Trung Quốc. Nghe tin cha bị bắt, Nguyễn Trãi cùng em là Nguyễn Phi
3
Hùng khóc theo lên tận cửa Nam Quan với ý định sang bên kia biên giới để hầu hạ cha già trong
lúc bị cầm tù. Nhưng Nguyễn Phi Khanh bảo Nguyễn Trãi:
“ Con là người có học, có tài, nên tìm cách rửa nhục cho nước, trả thù cho cha. Như thế mới là
đại hiếu. Lọ là cứ phải đi theo cha, khóc lóc như đàn bà mới là hiếu hay sao?”
2. Tác phẩm “ Bình Ngô Đại Cáo “
2.1 Hoàn cảnh ra đời:
Cuối năm 1427, Vương Thông, tên tổng chỉ huy quân đội nhà Minh ở Việt Nam, đã phải mở
cửa thành Ðông Quan đầu hàng. Cuộc kháng chiến 10 năm đã kết thúc vẻ vang. Thay mặt vua
Lê, Nguyễn Trãi viết bài cáo nhằm tổng kết quá trình kháng chiến và tuyên cáo thành lập triều
đại mới.
2.2 Về thể loại Cáo:
Nếu văn học động viên mọi người chiến đấu thì văn Cáo lại có ý nghĩa tuyên ngôn nhằm
công bố cho mọi người biết những chủ trương chính trị trọng đại của toàn dân tộc như việc xác
lập hòa bình, đánh đuổi giặc ngoại xâm và xây dựng vương triều mới. Cáo viết bằng thể văn
biền ngẫu, số câu chữ không hạn chế, văn phong mang tính chính luận nên trang trọng, sắc bén,
lập luận chặt chẽ, giàu sức thuyết phục. Kết cấu của bài đại cáo bình Ngô tuân thủ đúng kết cấu
của các tác phẩm Thang cáo (được chép trong chương Thương Thư của sách Kinh Thư) và Vũ
cáo hay đại cáo Vũ Thành (được chép trong chương Chu thư của sách Kinh Thư).
2.3 Về tựa đề bài Cáo:
Những quan niệm khác nhau về ý nghĩa của chữ Ngô trong Bình Ngô đại cáo
- Ngô: Một cách gọi theo thói quen của người Việt Nam thời đó để chỉ chung người trung
Quốc.
- Ngô: tên vùng đất xuất thân của Chu Nguyên Chương (tức Minh Thành tổ).
- Ngô: Một cách gọi của nhân dân để chỉ những tên giặc gian ác, tàn bạo.
Ý nghĩa nhan đề : Bình Ngô đại cáo được viết để bố cáo việc hoàn tất một chiến công vệ
quốc vĩ đại.
2.4 Khái quát tác phẩm :
Bình ngô đại cáo, văn kiện lịch sử đồng thời là tác phẩm văn học theo thể văn biền ngẫu,
do Nguyễn Trãi viết năm 1428, sau đại thắng quân Minh ,được các thế hệ sĩ phu đánh giá là một
áng "thiên cổ hùng văn" có một không hai trong lịch sử dân tộc. "BNĐC" trình bày tóm tắt lịch
sử mười năm kháng chiến gian khổ, những thành tích của cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn, tổng kết
5
kinh nghiệm cuộc chiến tranh chống Minh, rút ra những bài học về đường lối đánh giặc cứu
6
sáng suốt, bền chí, yêu nước “Ngẫm thù lớn há đội trời chung-Căm giặc nước thề
không cùng sống”, biết đoàn kết lòng dân “Sĩ tốt một lòng phụ tử-Hòa nước sông chén
rượu ngọt ngào”, dùng chiến thuật phù hợp nên nghĩa quân Lam Sơn ngày một trưởng
thành “Sĩ khí đã hăng, quân thanh càng mạnh”và ngày càng chiến thắng giòn giã, vang
dội “Đánh một trận sạch không kình ngạc-Đánh hai trận tan tác chim muông”, giặc
Minh thì liên tiếp thất bại, thất bại sau lại càng thảm hại hơn thất bại trước, mỗi tên
tướng giặc bại trận lại có vết nhục nhã riêng: kẻ treo cổ tự vẫn, kẻ quỳ gối dâng tờ tạ
tội, kẻ bị bêu đầu…Đoạn văn thứ ba của bài cáo cũng ca ngợi lòng nhân đạo, chuộng
hòa bình của nhân dân, dân tộc ta, tha sống cho quân giặc đã đầu hàng, lại cấp cho
chúng phương tiện, lương thảo về nước.
• Đoạn cuối của bài cáo đã tuyên bố trịnh trọng về việc kết thúc chiến tranh, khẳng định
nền độc lập, hòa bình vững bền của đất nước, thể hiện niềm tin vào tương lai tươi sáng
của dân
III. PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ NỘI DUNG – TƯ TƯỞNG
1. Tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi
Với Nguyễn Trãi, nhân nghĩa là yêu nước, thương dân, phải đánh giặc để cứu
nước, cứu dân; "triết lí nhân nghĩa của Nguyễn Trãi chẳng qua là lòng yêu nước thương
dân: Cái nhân nghĩa lớn nhất là phấn đấu đến cùng, chống ngoại xâm, diệt tàn bạo, vì độc
lập của đất nước, hạnh phúc của nhân dân" (Phạm Văn Đồng ).Nhân nghĩa vốn là học
thuyết của Nho giáo đề cao đạo đức, tình nhân ái giữa con người với nhau. Nguyễn Trãi
đã tiếp thu tư tưởng nhân nghĩa của Nho giáo theo hướng lấy lợi ích của nhân dân và của
dân tộc làm gốc. Nhân nghĩa là tư tưởng chủ đạo của "Bình Ngô đại cáo", là mục tiêu
chiến đấu vô cùng cao cả và thiêng liêng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, đồng thời là tư
tưởng của dân tộc được hình thành và phát triển xuyên suốt chiều dài lịch sử. Mục đích
của nhân nghĩa đã được khẳng định là “cốt để yên dân”, là bảo vệ hạnh phúc của nhân
dân. Hạnh phúc lớn nhất của dân là được sống trong môi trường hoà bình, yên ổn làm ăn,
không lâm vào chết chóc ,đau thương.
“Từng nghe:Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
nên những lời tuyên ngôn đĩnh đạc hào hùng như vậy. Nếu như bốn trăm năm về trước, trong
"Nam Quốc sơn hà", Lý Thường Kiệt chỉ mới xác định được hai nhân tố về lãnh thổ và chủ
quyền trên ý thức quốc gia và lập trường dân tộc, thì trong “Bình Ngô đại cáo”, Nguyễn Trãi
đã bổ sung thêm bốn nhân tố nữa, đó là: văn hiến, phong tục, lịch sử và nhân tài. Điều đó cho
thấy ý thức dân tộc của nhân dân ta đã phát triển trên một tầm cao mới trong thế kỉ 15, đó
cũng là tinh anh, tinh hoa của tư tưởng Nguyễn Trãi, phải thật sự là một con người có tâm với
nước với dân thì mới có thể viết nên những trang sử hào hung như vậy. Nguyễn Trãi đã căm
giận lên án tội ác vô cùng dã man của quân "cuồng Minh” trước cảnh đất nước bị đô hộ, chia
cắt thành quận huyện, và bị thi hành một chính sách cai trị vô cùng độc ác :
"Quân cuồng Minh đã thừa cơ gây họa,
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh".
Yêu nước thương dân, Nguyễn Trãi thông cảm và chia sẻ những nỗi khổ đau của nhân dân
ta gánh chịu trong chiến tranh. Tác phẩm “Bình Ngô đại cáo” ông đã tố cáo bao tội ác chồng
chất của giặc Minh trong suốt một thời gian dài hơn hai mươi năm "dối trời lừa dân, đủ muôn
nghìn kế": rán mỡ người lấy dầu, rút ruột người treo lên cây, thui người trên giàn lửa, phanh thây
đàn bà có thai… Chúng bắt nhân dân ta phải xuống biển mò ngọc trai, lên rừng sâu đãi cát, tìm
vàng, cống nạp ngà voi, hươu đen, trả biếc, Sưu thuế chồng chất, phu phen lao dịch nặng nề.
Chúng đã tàn phá môi sinh, môi trường, dồn nhân dân ta vào bước đường cùng, vào hố diệt
vong:
"Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,
Nặng thuế khoá sạch không đầm núi
( ) Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng,
Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng "
9
Đằng sau những hành động dã man, mưu mô xảo quyệt, là bộ mặt ghê tởm lũ ác ôn, bầy
quỷ sứ phương Bắc đang hoành hành trên xương máu, nước mắt, trên tính mạng và tài sản nhân
dân ta: "Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán". Tội ác của giặc Minh đối
với nhân dân ta, không thể ghi hết tội, không thể rửa hết mùi dơ bẩn, trời đất không thể dung tha,
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”
không dừng ở đó chúng còn đặt ra hàng trăm nghìn thứ thuế để bóp cổ dân ta, bắt dân ta kẻ bị
vào chốn “Rừng sâu nước độc” để “Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng”, “Kẻ
bị đem vào núi đãi cát tìm vàng”, “Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, ngán thay cá mập
thuồng luồng”. Vô cùng căm phẫn trước tình cảnh đất nước lầm than, Nguyễn Trãi không thể
nào ăn ngon ngủ yên, ông luôn trằn trọc nghĩ suy cho vận mệnh đất nước, cho nỗi cơ cực
kinh hoàng của nhân dân:
“Căm giặc nước thề không cùng sống
Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời
Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh”
Tinh thần nhân đạo của Nguyễn Trãi không chỉ bó hẹp ở chỗ thương dân, mà nó còn lang
rộng ra thành long độ lượng từ bi, sẵn sàng mở lượng khoan hồng, cùng với Lê Lợi cung cấp
lương thực, thuyền bè và những phương tiện cần thiết khác hỗ trợ cho giặc Minh bị thất trận,
đầu hàng về nước. Không những không đuổi cùng giết tận bọn giặc hung tàn, nghĩa quân
Lam Sơn còn ban cho họ một cơ hội sống thứ hai vì họ đã xin đầu hàng. Lê Lợi đã kết thúc
chiến tranh,"mở đường hiếu sinh" trao trả cho nhà Minh hàng chục vạn tù binh.
"Họ đã tham sống sợ chết mà hòa hiếu thực lòng
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức".
Khởi nghĩa để "trừ bạo" và "yên dân", kết thúc chiến tranh để chấm dứt đổ máu, để bảo vệ
"toàn quân", "để nhân dân nghỉ sức".
11
Thần vũ chẳng giết hại,
Thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa,
Vô vàng những tội ác dã man, khốc liệt mà giặc Minh đã nhẫn tâm đè nặng lên dân ta, khiến
dân ta phải sống trong cảnh địa ngục trần gian, đất nước ta bị chia cắt, đau khổ, uất hận
không sao kể hết. Nhưng khi cuộc chiến tranh cứu nước giành thắng lợi, giặc Minh tháo
chạy, đầu hàng, ta không tín toán món nợ oán thù mà còn đưa tay cứu vớt, cho họ một con
và phi nghĩa, đại thắng và đại bại Cách dùng từ, sáng tạo hình ảnh, các biện pháp đối xứng
và thậm xưng cho thấy một bút pháp nghệ thuật kỳ tài, tạo nên âm điệu anh hùng ca. "Bình
Ngô đại cáo" là khúc ca thắng trận vô cùng oanh liệt, cho ta bao xúc động tự hào:
"Gươm mài đá, đá núi cũng mòn,
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Đánh một trận, sạch không kinh ngạc,
Đánh hai trận, tan tác chim muông "
Bài cáo có sự kết hợp hài hòa, hiệu quả giữa yếu tố chính luận sắc bén với yếu tố văn
chương truyền cảm, kết hợp giữa lí luận chặt chẽ và hình tượng nghệ thuật sinh động. Cảm
hứng nổi bật xuyên suốt tác phẩm là cảm hứng anh hùng ca hào hùng sôi nổi, mãnh liệt.
Giọng điệu của bài cáo rất đa dạng, khi tự hào về truyền thống văn hóa, anh hùng lâu đời của
dân tộc, khi thì căm phẫn sục sôi trước tội ác của kẻ thù, khi thống thiết xót thương trước nỗi
đau lầm than của nhân dân, khi lo lắng trước những khó khăn của cuộc kháng chiến, khi hào
hùng ngợi ca chiến thắng, khi trịnh trọng tuyên bố độc lập của dân tộc, đất nước.
"Bình Ngô đại cáo" cho ta thấy một bút lực và tài học vô song của ức Trai. Cáo là một
thể văn cổ điển rất trang nghiêm, để thông báo cho toàn dân một sự kiện quan trọng. Sự
nghiệp "bình Ngô" kéo dài trong 10 năm trời. Quân và dân ta trải qua muôn vàn gian lao thử
thách, lập bao chiến công lẫy lừng , từ những tháng năm lầm than đến ngày toàn thắng "bốn
phương biển cả thanh bình", thế mà Nguyễn Trãi đã viết một cách hàm súc: bài đại cáo chỉ
dài 1343 chữ. Cảm hứng nhân nghĩa, cảm hứng anh hùng và khát vọng độc lập, hoà bình đã
tạo nên tầm vóc văn chương, màu sắc sử thi của bài đại cáo bình Ngô, bản anh hùng ca Đại
Việt. Ngòi bút nghệ thuật của Nguyễn Trãi rất biến hóa trong miêu tả và tự sự, trong trữ tình
13
và bình luận, vừa sắc sảo và thấm thía, vừa đa thanh; lúc thì đĩnh đạc, hào hùng, trang
nghiêm, lúc thì thắm thiết căm giận, lúc thì mạnh mẽ, hùng tráng Đất nước và con người
Đại Việt được nói đến trong bài đại cáo là một đất nước, một nhân dân văn hiến, anh hùng.
C. PHẦN KẾT LUẬN
Bình Ngô đại cáo được viết để bố cáo việc hoàn tất một chiến công vệ quốc vĩ đại, bởi vậy
đương nhiên phần lớn ngôn từ sẽ dành cho việc ghi chép lại quá trình chiến đấu gian khổ và
chiến thắng của quân dân ta và quá trình thất bại dẫn đến thảm bại hoàn toàn của quân Minh.
nội, 1980.
7. Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh, Lịch sử Việt Nam, NXB
Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, 1991.
15
16