TƯ TƯỞNG NHÂN NGHĨA CỦA NGUYỄN TRÃI TRONG TÁC PHẨM BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO - Pdf 35

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
========

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài

TƯ TƯỞNG NHÂN NGHĨA CỦA NGUYỄN TRÃI
TRONG TÁC PHẨM BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO

Giáo viên hướng dẫn : TS. Trần Ngọc Ánh
Sinh viên thực hiện

: Võ Thị Kim Ánh

Lớp

: 09SGC

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2013

1


LỜI CẢM ƠN
Trang đầu tiên của khóa luận, em xin giành để
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến thầy giáo, TS. Trần
Ngọc Ánh - người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em
hoàn thành khóa luận này.

7. Phan Huy Lê,Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh, Lịch sử Việt
Nam, NXB Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, 1991..................................83
34. Đinh Gia Khánh - Bùi Duy Tân - Mai Cao Chương, Văn học Việt Nam
Thế kỉ 10 đến thế kỉ 18, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1978..85
35. Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục, NXB Văn hóa thông tin, 2007..............85
36.Viện Sử học, Lịch sử Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, 2007................85
37. Đào Duy Anh, Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX, NXB
Văn hóa Thông tin, 2002...............................................................................85
38. Viện văn học, Nguyễn Trãi khí phách và tinh hoa của dân tộc, NXB
Khoa học xã hội, Hà Nội, 1980.....................................................................85
39. Phan Huy Lê,Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh, Lịch sử Việt
Nam, NXB Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, 1991..................................85
40. Trần Trọng Kim, Đại cương triết học Trung Quốc, NXB Khoa học xã
hội, Hà Nội, 1992...........................................................................................85
......................................................................................................................85

3


......................................................................................................................86

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử anh hùng, anh hùng không chỉ trong
chiến đấu bảo vệ Tổ quốc mà còn anh hùng trong xây dựng và giữ gìn nền
độc lập dân tộc. Chúng ta hoàn toàn có quyền tự hào về lịch sử oai hùng của
dân tộc, tự hào về tinh thần yêu nước nồng nàn và chủ nghĩa nhân đạo sâu
sắc của tổ tiên. Dân tộc Việt Nam có nhiều truyền thống tốt đẹp mà cho đến
hiện nay mỗi con người Việt Nam vẫn tiếp tục kế thừa và phát triển các
truyền thống tốt đẹp đó. Những truyền thống như: lòng yêu nước, nhân

hết lòng hết sức phục vụ đất nước và nhân dân.
Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi đã trở thành một tư tưởng nhân
nghĩa tiêu biểu nhất của truyền thống tư tưởng dân tộc, bởi nó chính là sự hội

5


tụ những tư tưởng nhân nghĩa của dân tộc truyền lại, rồi tiếp tục lưu chảy
trong truyền thống tư tưởng nhân nghĩa của người Việt Nam sau này. Ngay
trong thời đại của mình vào thế kỷ XV, tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn
Trãi đã được thực tiễn trả lời những giá trị của nó, không dừng lại ở đó, cho
đến hôm nay những tư tưởng đó vẫn còn nguyên giá trị. Vì vậy, từ việc tìm
hiểu và phân tích về tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi mà đặc biệt là
trong tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo, tác giả đã chọn đề tài: “Tư tưởng nhân
nghĩa của Nguyễn Trãi trong tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo” làm đề tài khoá
luận tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu.
Dường như thế giới này muốn tồn tại và phát triển vĩnh hằng thì không
thể thiếu những con người tư tưởng, có những tư tưởng ngang tầm và thậm
chí vượt lên trên thời đại. Thế hệ sau tiếp nối thế hệ trước là sự kế thừa và
phát triển sáng tạo những di sản của quá khứ, mà chiếm vị thế là những di
sản tinh thần vô giá. Dân tộc Việt Nam cũng không đứng ngoài guồng quay
của quy luật lịch sử đó. Những điều tốt đẹp mà thế giới biết đến Việt Nam
chính là sự kết hợp sức mạnh của toàn dân tộc. Bên cạnh đó, cũng có sự
đóng góp không nhỏ của các nhà tư tưởng lớn như: Nguyễn Trãi, Nguyễn
Du, Hồ Chí Minh,… Họ chính là sự thể hiện của một dân tộc anh hùng. Họ
đã làm nổi bật lên con người Việt Nam cũng như tài năng của một bậc thiên
tài. Nguyễn Trãi là một trong những con người đó. Ông có nhiều tư tưởng
quý báu mà hiện nay vẫn giữ nguyên giá trị của nó.
Nhiều năm qua ở nước ta có nhiều công trình nghiên cứu về truyền

Việt Nam do Tiến sĩ Nguyễn Minh Hoàn, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh biên soạn. Ngoài ra còn nhiều các bài viết, bài nghiên cứu đăng
trên các báo, các diễn đàn, hội thảo, tạp chí,… cũng đề cập rất nhiều đến các
vấn đề có liên quan đến đề tài này. Suốt nhiều năm qua, ở nước ta đã có

7


nhiều công trình nghiên cứu về tư tưởng Nguyễn Trãi trên nhiều phương
diện chính trị, văn hoá, văn học, nghệ thuật,… Tuy nhiên, việc nghiên cứu về
tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi vẫn còn là khá mới mẻ. Trong khóa
luận này, tôi muốn đề cập đến tư tưởng nhân nghĩa - một triết lý sâu sắc, cốt
lõi, bao trùm toàn bộ cuộc đời và hoạt động cống hiến của nhà tư tưởng kiệt
xuất này. Nhìn một cách tổng thể các công trình nghiên cứu về tư tưởng đi
vào chiều rộng và chiều sâu của tư tưởng của ông nhưng vẫn chưa có công
trình nghiên cứu nào đề cập đến tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi trong
tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo một cách toàn diện. Tuy nhiên các công trình
nghiên cứu trên là tài liệu quý giá cho tôi nghiên cứu và thực hiện đề tài này.
Và càng có ý nghĩa thiết thực hơn khi trong quá trình nghiên cứu về tư tưởng
“ nhân nghĩa” của Nguyễn Trãi dưới góc nhìn lịch đại. Thực hiện đề tài này
người viết có ước vọng không chỉ hiểu sâu tư tưởng cổ nhân mà còn mong
tìm ra “những hạt ngọc nuôi dưỡng tâm hồn người Việt”.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu:
- Làm rõ tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi trong tác phẩm Bình
Ngô Đại Cáo và ý nghĩa lịch sử của những tư tưởng đó trong lịch sử dân tộc.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích và luận giải ảnh hưởng của hoàn cảnh gia đình và bối cảnh
thời đại đối với sự nghiệp và tư tưởng của Nguyễn Trãi.

giảng dạy và học tập các môn học có liên quan trong các trường đại học và
cao đẳng.
7. Đóng góp của đề tài.

9


Đề tài trình bày một cách đầy đủ và có hệ thống về con người cũng như
tư tưởng của Nguyễn Trãi. Qua đó, đi sâu nghiên cứu một cách sâu sắc về tư
tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi trong tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo.
8. Cấu trúc đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài gồm có 2
chương:
Chương 1: Nguyễn Trãi và tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo.
Chương 2: Tư tưởng nhân nghĩa trong tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo.

NỘI DUNG
Chương 1: Nguyễn Trãi và tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo
1.1. Thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Trãi.
1.1.1. Hoàn cảnh gia đình và tiểu sử Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi là một nhà văn hoá lớn, có đóng góp to lớn vào sự phát
triển của văn học và tư tưởng Việt Nam. Ông được coi là anh hùng dân tộc,
danh nhân văn hoá của Việt Nam và thế giới. Nguyễn Trãi là một anh hùng
dân tộc, là người toàn tài hiếm có trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt
Nam. Ông có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh. Đồng thời

10


cũng là nhà thơ trữ tình sâu sắc, nhà văn chính luận kiệt xuất, là cây đại thụ

về Trung Quốc, trong số đó có Nguyễn Phi Khanh. Đại Ngu rơi vào ách
Minh thuộc. Nhà Minh thi hành nhiều chính sách tàn bạo khiến nhân dân ta
lầm than, khổ cực. Nhân dân ta luôn chịu áp bức và bóc lột nặng nề, nhiều
cuộc khởi nghĩa diễn ra nhưng đều thất bại điều này có ảnh hưởng rất lớn
đến tư tưởng của Nguyễn Trãi sau này. Nhà Minh đẩy mạnh vơ vét về kinh
tế như cướp đoạt ruộng đất, của cải và bóc lột nhân dân một cách tàn bạo.
Đồng thời, chính quyền đô hộ nhà Minh thiết lập một mạng lưới thu thuế và
tiến hành khai thác tài nguyên của nước ta đem về nước. Tàn ác hơn, quân
Minh còn lùng bắt hàng loạt dân ta đem về nước phục dịch. Nhà Minh cũng
lập hệ thống quan lại để cai quản và thực hiện việc đồng hóa đối với nhân
dân ta. Nước mất, nhà tan, nhân dân tủi khổ cùng với đó là phong trào đấu
tranh giải phóng dân tộc diễn ra mạnh mẽ nhưng cuối cùng đều phải thất bại
do đường lối chưa đúng đắn đã tác động mạnh mẽ đến Nguyễn Trãi.
Mười năm phiêu dạt
Cuộc đời Nguyễn Trãi từ sau năm 1407 đến khi vào yết kiến Bình Định
Vương ở Lỗi Giang để tham gia khởi nghĩa Lam Sơn vẫn còn là một ẩn số.
Cho tới nay, chưa thấy được những tài liệu chính xác, đầy đủ về Nguyễn Trãi
trong thời kỳ đó. Sử sách không chép cũng như chép không thống nhất và
bản thân Nguyễn Trãi cũng không ghi lại điều gì cụ thể. Nguyễn Trãi nói
nhiều đến thập niên phiêu chuyển (mười năm phiêu dạt) lênh đênh ở nơi
chân trời góc biển trong một số văn thơ của ông, áng chừng là để chỉ khoảng
thời gian này. Tất nhiên con số mười năm chỉ mang tính tương đối.
Tham gia khởi nghĩa Lam Sơn
- Yết kiến ở Lỗi Giang
Ra mắt Lê Lợi, Nguyễn Trãi trao cho vị thủ lĩnh nghĩa quân Lam Sơn
bản Bình Ngô sách, trong đó Nguyễn Trãi vạch ra ba kế sách đánh quân
Minh mà chủ yếu là tâm công, đánh vào lòng người để đi đến chiến thắng.

12




Lưu Thanh ra hàng vào khoảng tháng 4 năm 1427. Ông cũng đã đem thân
vào dụ hàng thành Đông Quan năm lần Quân Minh ở Giao Chỉ càng bị cô
lập nhanh chóng, chỉ còn cố thủ được ở một số thành như Đông Quan, Cổ
Lộng, Tây Đô... mà thôi.
Cuối năm 1427, Minh Tuyên Tông xuống chiếu điều binh cứu
viện Vương Thông, sai Liễu Thăng đem 10 vạn quân từ Quảng Tây, Mộc
Thạnh đem 5 vạn quân từ Vân Nam, cùng tiến quân sang Việt Nam. Với trận
Chi Lăng - Xương Giang, hai đạo viện binh của nhà Minh với số lượng lên
tới hơn 10 vạn quân đã bị quân Lam Sơn tiêu diệt hoàn toàn. Quân Minh ở
Đại Việt lâm vào tình thế khốn quẫn hoàn toàn, buộc phải đề nghị giảng hoà.
Lúc bấy giờ, một số tướng sĩ đến yết kiến và khuyên Lê Lợi nên đánh
thành Đông Quan, giết hết quân Minh để trả thù cho sự bạo ngược mà người
Minh đã gây nên ở Đại Việt. Nhưng ý kiến của Nguyễn Trãi thì lại khác.
Nhờ đó, quân Minh nhanh chóng giảng hoà, tổ chức hội thề Đông Quan và
rút toàn quân về nước.
Văn thần triều Lê
- Công thần bị tội
Đầu năm 1428, ngay cả khi chưa chính thức lên ngôi vua, Bình Định
Vương đã đại hội các tướng và các quan văn võ, định công ban thưởng.
Nguyễn Trãi được ban cho quốc tính (họ Lê) và tước Quan phục hầu, tiếp tục
giữ chức Nhập nội Hành khiển như cũ. Ngày 29 tháng 4 năm 1428, Lê
Lợi làm lễ lên ngôi ở điện Kính Thiên tại Đông Kinh, đại xá thiên hạ, giao
cho Nguyễn Trãi viết Bình Ngô Đại Cáo để bố cáo với cả nước về việc chiến
thắng quân Minh.
Sau khi thành lập, triều đình bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn phe cánh, dẫn
đến một loạt vụ án phản nghịch liên quan đến các công thần. Không rõ
Nguyễn Trãi có bị vu cáo như vậy không, nhưng theo phỏng đoán của một số



15


thần như Đào Công Soạn, Nguyễn Văn Huyến, Nguyễn Liễu, Nguyễn
Truyền dâng sớ phản đối. Kết quả, Nguyễn Liễu bị đày ra viễn châu do có
lời phỉ báng hoạn quan trước mặt vua.
Khoảng cuối năm 1437, đầu năm 1438, Nguyễn Trãi xin về hưu trí
ở Côn Sơn - nơi trước kia từng là thái ấp của ông ngoại ông - chỉ thỉnh
thoảng mới vâng mệnh vào chầu vua.
Những năm Nguyễn Trãi về ở ẩn tại Côn Sơn cũng là những năm mà Lê
Thái Tông, tuy chỉ là một vị vua thiếu niên, nhưng đã nắm lấy quyền hành
cũng như thẳng tay trừng trị Lê Sát, Lê Ngân và nhiều người trong phe cánh
của họ. Nhà vua cũng có những động thái tỏ ý trọng dụng lại vị lão thần
Nguyễn Trãi.
Năm 1439, Lê Thái Tông mời ông ra làm quan, ban cho chức tước là
Vinh lộc Đại phu, Nhập nội Hành khiển Môn hạ sảnh Tả ty Hữu Gián nghị
Đại phu kiêm Hàn Lâm viện Học sĩ Tri Tam quán sự Đề cử Côn Sơn Tư
Phúc tự. Ông cũng được giao cho việc coi giữ sổ sách, xét án kiện quân dân
ở Tây đạo và Bắc đạo. Nguyễn Trãi nhận mệnh vua, dâng biểu tạ ơn. Trong
khoa thi Hội năm 1442, Nguyễn Trãi với danh nghĩa là Hàn Lâm viện Học sĩ
kiêm Tri Tam quán sự ra làm Giám khảo và lấy đỗ Trạng nguyên Nguyễn
Trực.
- Vụ án Lệ Chi Viên
Tháng 9 năm 1442, vua Lê Thái Tông đi tuần ở miền Đông. Nhà vua lúc
đó mới hai mươi tuổi, đang độ thanh niên, không ai nghĩ rằng đó lại là
chuyến tuần du cuối cùng của vua. Và kéo theo sau đám tang là một vụ án
oan khiên nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam. Ngày 1 tháng 9 năm 1442, sau
khi nhà vua duyệt binh ở thành Chí Linh, Nguyễn Trãi đón Lê Thái Tông đi
thuyền vào chơi chùa Côn Sơn. Khi trở về Đông Kinh, người thiếp của

nhằm thực hiện kế "đánh vào lòng" ngày nay gọi là địch vận. "Bình Ngô đại
cáo" lấy lời Lê Lợi tổng kết 10 năm chống giặc, tuyên bố trước nhân dân về

17


chính nghĩa quốc gia, dân tộc, về qúa trình chiến đấu gian nan để đi đến
chiến thắng vĩ đại cuối cùng giành lại hòa bình cho đất nước. "Lam Sơn thực
lục" là cuốn sử về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. "Dư địa chí" viết về địa lý lịch
sử nước ta. "Chí Linh sơn phú" nói về cuộc chiến đấu chống giặc Minh gian
khổ và anh hùng. Các tác phẩm ấy đều là văn bằng chữ Hán.
Về thơ, có hai tập: "Ức trai thi tập" bằng chữ Hán, "Quốc âm thi tập"
bằng chữ Nôm (tức chữ Việt) đó là thơ cả một đời, từ lúc trẻ đến tuổi già,
nhiều nhất là khoảng 10 năm tìm đường và thời gian về nghỉ ở Côn Sơn. Nội
dung thấy rõ trong đó là tâm tình đối với quê hương, gia đình, với nước, với
dân, với bao éo le trong cuộc đời. Nguyễn Trãi mang một hoài bão lớn, làm
gì cho dân, người dân lầm than khổ cực. Bắt đầu Bình Ngô Đại Cáo có câu:“
việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” [15,150], chữ “yên” ở đây có nghĩa là an cư
lạc nghiệp cùng một ý với câu cuối của Bình Ngô Đại Cáo:“ nền thái bình
muôn thuở ” [15,154]. Nguyễn Trãi là tác giả của Dư Địa Chí, một cuốn
sách có giá trị to lớn về địa lí, lịch sử, kinh tế và chính trị của nước ta thời
bấy giờ và ngày nay. Đáng tiếc Nguyễn Trãi không có đủ cơ hội để đem hết
tất cả chí hướng cũng như tài năng của mình để cống hiến cho đất nước.
Nhưng nghĩ cho cùng thì điều đó là không thể khác được. Đối với triều đình
nhà Lê lúc bấy giờ thì việc xãy ra vụ thảm sát tru di tam tộc là không thể
tránh khỏi.
Nguyễn Trãi được coi là một nhà tư tưởng lớn của Việt Nam, tư tưởng
của ông là sản phẩm của nền văn hóa Việt Nam thời đại nhà Hậu Lê khi mà
xã hội Việt Nam đang trên đà phát triển, đánh dấu một giai đoạn phát triển
quan trọng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam.

khẳng định quyền bình đẳng giữa các quốc gia dân tộc. Ở Nguyễn Trãi ý
thức dân tộc gắn liền với tự hào dân tộc. Ông khắc phục được những yếu tố
thần bí trong “Tuyên ngôn độc lập” đầu tiên của dân tộc ta do Lý Thường
Kiệt viết, thay vào đó những yếu tố hiện thực nhưng rất thiêng liêng là lịch

19


sử là bờ cõi núi sông, phong tục, là văn hóa, hào kiệt, làm nên một “Tuyên
ngôn đanh thép về quyền độc lập, tự chủ của dân tộc”. Chủ nghĩa yêu nước
trong Nguyễn Trãi như vậy không chỉ dừng ở ý chí, tâm lý, cảm xúc nữa, mà
đã là lý trí với những lý luận sắc bén và tư thế hiên ngang của người dân, của
lãnh tụ của một quốc gia độc lập, tự chủ, có quyền tự quyết.
- Tư tưởng nhân nghĩa vì dân:
- Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là nội dung cốt lõi trong toàn
bộ hệ thống tư tưởng triết học - chính trị của ông. Tư tưởng ấy có phạm vi
rộng lớn, vượt ra ngoài đường lối chính trị thông thường, đạt tới mức độ khái
quát, trở thành nền tảng, cơ sở của đường lối và chuẩn mực của quan hệ
chính trị, là nguyên tắc trong việc quản lý, lãnh đạo quốc gia. Nhân nghĩa
của Nguyễn Trãi gắn liền với tư tưởng nhân dân, tinh thần yêu nước, tư
tưởng hòa bình là một đường lối chính trị, một chính sách cứu nước và dựng
nước. Nhân nghĩa còn được thể hiện ước mơ xây dựng xã hội lý tưởng cho
nền thái bình muôn thuở: xã hội Nghiêu Thuấn của Nguyễn Trãi. Tất nhiên
mơ ước ấy của ông là không tưởng. Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi
vừa là sự kế thừa truyền thống dân tộc vừa là sự vận dụng sáng tạo học
thuyết của Nho giáo và đã vượt lên những vấn đề cụ thể đạt đến tầm khái
quát, có ý nghĩa phương pháp luận và triết lí nhân sinh sâu sắc, phản ánh tinh
thần thời đại, là đỉnh cao chính trị của thời đại. Nguyễn Trãi có niềm tin
mãnh liệt vào sức mạnh của nhân nghĩa, coi nó là nguồn gốc hoạt động chính
trị.

của Nguyễn Trãi nổi bật ở quan điểm về cách đối xử với kẻ thù khi chúng đã
bại trận, đầu hàng. Nó thể hiện đức “hiếu sinh”, sự “khoan dung” của dân
tộc Việt Nam nói chung, cũng như tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi nói
riêng. Nguyễn Trãi cũng như Lê Lợi, trong chính sách đối với hàng binh, đã
chủ trương không giết để hả giận tức thời mà còn tạo điều kiện cần thiết cho
chúng rút về nước một cách an toàn và không mất thể diện.

21


- Nguyễn Trãi chủ trương kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại
giao để sớm dần thắng lợi trong chiến tranh giải phóng, để giảm bớt hi sinh
của nhân dân, giảm bớt oán thù giữa ta và địch.
- Tư tưởng chính trị khoan dung, yêu hoà bình, ghét chiến tranh, coi
chiến tranh là việc làm nguy hiểm, coi hoà bình, ấm no, sống trong yên vui là
nguyện vọng phổ biến, thiết tha của mọi người, mọi tầng lớp xã hội, mọi dân
tộc (hoà bình là hiếu sinh của trời đất).
- Lí tưởng xây dựng một đất nước thái bình, nhân dân no đủ, có vua
thánh, tôi hiền, biết lo, giữ gìn đất nước, yêu thương nhân dân. Theo Nguyễn
Trãi, một đất nước thái bình sẽ là đất nước có cuộc sống phồn vinh, tươi đẹp
đồng thời có sự hoà thuận, yên vui với các nước khác. Có thể nói, lý tưởng
chính trị - xã hội của Nguyễn Trãi phù hợp với nguyện vọng, ước mơ của
dân tộc, nhân dân; đạt tới tầm cao nhất và rộng nhất trong điều kiện lịch sử
lúc bấy giờ cho phép. Đồng thời tư tưởng này còn mang tính nhân đạo, nhân
bản sâu sắc. Như vậy, với Nguyễn Trãi tư tưởng nhân nghĩa gắn kết biện
chứng với tư tưởng thuận dân, an dân là một yêu cầu cao, một hoài bão lớn,
một mục đích chiến lược cần phải đạt tới. Nguyễn Trãi quan điểm về an dân
đã được ông tiếp thu, kế thừa, mở rộng và nâng cao trong suốt thời kỳ hoạt
động của mình. An dân có nghĩa là chấm dứt, là loại trừ những hành động
tàn ác, bạo ngược đối với dân, là sự bảo đảm cho nhân dân có được một cuộc

thần trí là có kiến thức, thúc đẩy xã hội tiến lên, dũng là dũng cảm.
- Đạo làm người của Nguyễn Trãi là đạo cứu nước, cứu dân. Là đạo là
người của Nho giáo nhưng được vận dụng sáng tạo trên lập trường quốc gia,
dân tộc, yêu nước, thương dân, phù hợp với yêu cầu dựng nước và giữ nước
của thời đại (không nói đến tôn ti trật tự, lễ trị của Nho giáo).
- Nội dung phương pháp luận của Nguyễn Trãi:

23


- Nhận thức rõ vai trò của đời sống vật chất như là cơ sở của xã hội. Đời
sống vật chất cơ bản có đảm bảo thì xã hội mới ổn định, cuộc sống no đủ thì
đạo đức con người mới được tôn trọng.
- Ông chủ trương thực hiện đường lối chính trị nhân nghĩa, thực sự lấy
dân làm gốc, quan tâm đến đời sống của nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương,
chính sách đều phải căn cứ vào lòng dân, lòng dân ủng hộ thì làm, chống đối
thì huỷ bỏ (dựa vào dân, ý dân, lòng dân). An dân là trách nhiệm của nhà cầm
quyền, là trách nhiệm, là điều kiện để chính nghĩa giành thắng lợi, để triều
đình được củng cố.
- Thừa nhận mối quan hệ nhân quả của các sự vật, hiện tượng trong tự
nhiên. Theo đó, việc nào cũng có nguyên nhân và những nguyên nhân tích tụ
lâu dần sẽ gây nên kết quả. Vì vậy, ông đề xuất các hoạt động thực tiễn phải
có tầm nhìn xa, phải biết kết hợp hài hoà lợi ích trước mắt và lâu dài nhưng
phải ưu tiên cho lợi ích cơ bản và lâu dài.
- Thấy rõ điều kiện khách quan và chủ quan trong hoạt động chính trị xã
hội, điều kiện khách quan được ông coi là lẽ trời, vận trời (chủ yếu là xu thế
lịch sử, xu thế thời đại, lòng người), điều kiện chủ quan là sức người, sức
mình. Theo đó, điều kiện khách quan phải là cơ sở cho hành động chủ quan
nhưng phải phát huy ý chí chủ quan trong hành động của con người.
- Phương pháp tư duy của Nguyễn Trãi là phương pháp tư duy tiến bộ,

thống tư tưởng của ông. Thời thế là xu thế tất yếu của thời đại, là hướng đi
lên không gì cưỡng lại của lịch sử. Ở Nguyễn Trãi, quan niệm về thời hoàn
toàn không mang nghĩa thụ động hay có ý chỉ chờ thời, không có hành động
tích cực. Mà trái lại, ông cho rằng, cần phải vừa xem xét, phân tích diễn biến
của thời cuộc đang diễn ra để biết được thời đến, vừa tạo ra lực lượng chủ
quan để đón thời, để ứng phó cho kịp, để có thể chủ động được tức là phải
tạo ra cái mà Nguyễn Trãi gọi là thế. Để thành công thì phải có cả thời lẫn

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status